Một lát lâu, tôi đứng lảo đảo trên gò đất, chẳng màng gì đến sự an toàn của bản thân. Trong cái hang hôi hám vừa chui ra, tâm trí tôi chỉ tập trung cao độ và chật hẹp vào sự sống còn trước mắt. Tôi chưa nhận thức được thế giới ngoài kia đã biến đổi ra sao, cũng chẳng lường trước được khung cảnh kỳ quái đến sửng sốt của những sự vật xa lạ ấy. Tôi cứ nghĩ sẽ nhìn thấy Sheen trong cảnh hoang tàn, thế nhưng thứ đập vào mắt tôi lại là một cảnh quan kỳ dị và rực đỏ như trên hành tinh khác.
Khoảnh khắc ấy, tôi chạm đến một cảm xúc vượt qua giới hạn thông thường của con người, nhưng lại là điều mà những con vật khốn khổ bị chúng ta thống trị biết quá rõ. Tôi cảm thấy mình giống như một con thỏ quay trở lại hang ổ để rồi bỗng nhiên đối mặt với công việc của cả tá công nhân đang hối hả đào móng xây nhà. Tôi cảm nhận được mầm mống đầu tiên của một suy nghĩ chẳng mấy chốc đã trở nên rõ mồn một trong tâm trí, thứ đã đè nặng lên tôi suốt bao nhiêu ngày trời: cảm giác bị phế truất, niềm đinh ninh rằng tôi không còn là chủ nhân nữa, mà chỉ là một loài thú giữa muôn loài thú, dưới gót giày của người Sao Hỏa. Với chúng ta cũng sẽ giống như với chúng, chỉ là lẩn trốn và canh chừng, chạy trốn và nấp ngầm; nỗi sợ hãi và đế chế của con người đã lùi vào dĩ vãng.
Nhưng ngay khi sự lạ lẫm ấy vừa thấm vào ý thức thì nó cũng phai nhạt đi, và thôi thúc ngự trị trong tôi lúc bấy giờ chính là cơn đói cồn cào sau quãng thời gian dài đằng đẵng nhịn đói u ám. Hướng ngược lại với cái hố, phía bên kia bức tường phủ đầy sắc đỏ, tôi nhìn thấy một mảnh vườn chưa bị vùi lấp. Điều đó gợi cho tôi một tia hy vọng, và tôi lội ngập đến đầu gối, có khi ngập đến tận cổ trong thảm thực vật đỏ rực ấy. Sự rậm rạp của đám cỏ dại mang lại cho tôi cảm giác ẩn nấp an toàn. Bức tường cao chừng sáu phút, và khi tôi định leo lên thì đôi chân không sao nhấc nổi lên tới đỉnh. Thế là tôi cứ đi dọc theo chân tường, cho đến khi gặp một góc khuất và một hòn non bộ giúp tôi leo lên được đỉnh, rồi ngã nhào vào khu vườn hằng ao ước. Ở đây, tôi tìm thấy vài củ hành tây non, một cặp củ hoa lay-ơn, và một ít cà rốt chưa già, tất cả đều được tôi thu gom lại; rồi vượt qua một bức tường đổ nát, tôi tiếp tục hành trình xuyên qua những tán cây đỏ thắm và đỏ thẫm hướng về phía Kew — tựa như đang bước đi giữa một đại lộ tràn ngập những giọt máu khổng lồ — với hai ý nghĩ thôi thúc: kiếm thêm thức ăn, và tập tễnh bước đi, càng nhanh càng xa chừng nào sức lực còn cho phép, rời khỏi cái vùng đất nguyền rủa, phi nhân tính quanh chiếc hố này.
Cách đó không xa hơn, ở một khoảng đất cỏ mọc, có một nhúm nấm và tôi cũng ngấu nghiến chúng, rồi tôi bắt gặp một vùng nước nông chảy loang lổ màu nâu ở nơi vốn là những đồng cỏ. Những mảnh thức ăn ít ỏi ấy chỉ càng làm cơn đói của tôi thêm bùng phát. Ban đầu, tôi lấy làm ngạc nhiên trước trận lụt giữa một mùa hè khô hạn và nóng bức này, nhưng sau đó tôi mới vỡ lẽ ra rằng nó là hệ quả từ sức sống mãnh liệt mang tính nhiệt đới của đám cỏ đỏ. Ngay khi loài thực vật kỳ lạ này chạm vào nước, nó lập tức trở nên khổng lồ với tốc độ sinh sôi nảy nở vô song. Hạt của chúng cứ thế tuôn xối xả xuống dòng nước sông Wey và sông Thames, để rồi những chiếc lá nước to lớn và phát triển chóng mặt ấy nhanh chóng làm nghẹt thở cả hai con sông đó.
Tại Putney, như sau này tôi thấy, cây cầu hầu như chìm nghỉm trong mớ cỏ dại chằng chịt, và ở Richmond cũng vậy, dòng nước sông Thames tràn thành một dải rộng và nông khắp các đồng cỏ ở Hampton và Twickenham. Khi nước dâng đến đâu, đám cỏ đỏ lan theo đến đó, cho đến khi những căn biệt thự hoang tàn dọc thung lũng Thames chìm khuất trong đầm lầy đỏ rực này — nơi tôi dò dẫm ven bờ, và phần lớn sự tàn phá do người Sao Hỏa gây ra đã bị che khuất đi.
Cuối cùng, đám cỏ đỏ cũng lụi tàn nhanh chóng gần như khi chúng lan rộng. Một thứ căn bệnh mục nát, được cho là do hoạt động của một số loại vi-rút gây ra, chẳng mấy chốc đã tấn công lấy nó. Giờ đây, thông qua chọn lọc tự nhiên, tất cả các loài thực vật trên cạn đều đã có được khả năng kháng cự lại các bệnh do vi-rút — chúng không bao giờ chịu khuất phục nếu không có một cuộc chiến đấu khốc liệt, thế nhưng đám cỏ đỏ lại thối rữa như thể đã chết từ trước. Những chiếc lá chuyển sang màu trắng bệch, rồi quéo lại và giòn tan. Chúng gãy vụn chỉ bằng một cái chạm nhẹ, và dòng nước từng thúc đẩy sự tăng trưởng ban đầu ấy nay cuốn trôi những tàn tích cuối cùng của chúng ra biển.
Hành động đầu tiên của tôi khi đến bên dòng nước này, tất nhiên, là làm dịu đi cơn khát. Tôi uống rất nhiều và, bị thôi thúc bởi một bản năng, tôi nhai thử vài nhánh cỏ đỏ; thế nhưng chúng toàn nước, lại mang một vị tanh kim loại khó chịu. Tôi thấy mực nước nông vừa đủ để có thể lội qua một cách an toàn, dẫu cho đám cỏ đỏ có hơi vướng víu đôi chân; thế nhưng dòng nước rõ là sâu dần về phía lòng sông, và tôi đành quay lại hướng Mortlake. Tôi cố nhận ra con đường nhờ những tàn tích thỉnh thoảng hiện ra của các căn biệt thự, hàng rào cùng cột đèn, và rồi chẳng mấy chốc tôi cũng thoát khỏi vùng ngập nước ấy để rẽ lên con đường mòn dẫn ngược dốc lên Roehampton, cuối cùng ra tới Putney Common.
Nơi đây, cảnh tượng chuyển từ vẻ kỳ lạ, xa lạ sang đống đổ nát của sự quen thuộc: từng khoảnh đất mang dấu ấn tàn phá của một cơn lốc xoáy, để rồi chỉ sau vài chục thước, tôi lại bắt gặp những không gian hoàn toàn nguyên vẹn, những ngôi nhà với rèm cửa được kéo gọn gàng và cửa đóng then cài, trông như thể vừa mới bị chủ nhân bỏ lại trong ngày, hoặc như thể những người ở bên trong vẫn đang say giấc. Cỏ đỏ thưa thớt hơn; những hàng cây cao dọc lối đi không bị dây leo đỏ bám lấy. Tôi lùng sục tìm đồ ăn giữa những tán cây nhưng chẳng thu được gì, tôi cũng đột nhập vào vài ngôi nhà im lìm nhưng chúng đều đã bị phá hoại và lục lọi sạch sẽ. Tôi dừng chân nghỉ ngơi suốt khoảng thời gian ban ngày còn lại trong một lùm cây, bởi với cơ thể suy nhược này, tôi đã quá mệt mỏi để có thể đi tiếp.
Suốt khoảng thời gian ấy, tôi chẳng nhìn thấy một bóng người nào, cũng chẳng thấy dấu vết gì của người Sao Hỏa. Tôi đụng độ một cặp chó trông có vẻ đói lả, nhưng cả hai đều lảng tránh vòng qua khi tôi tỏ ý muốn tiến lại gần. Gần Roehampton, tôi đã nhìn thấy hai bộ xương người — không phải thi thể, mà là những bộ xương đã được rỉa sạch thịt — và trong khu rừng cạnh bên, tôi tìm thấy những khúc xương dập nát, vương vãi của vài con mèo, con thỏ cùng hộp sọ của một con cừu. Thế nhưng dù tôi có gặm nhấm phần nào của chúng đi nữa, cũng chẳng có chút dinh dưỡng nào bấu víu được ở đó.
Khi mặt trời lặn, tôi lê bước dọc con đường hướng về Putney, nơi tôi nghĩ Tia Nhiệt hẳn đã được sử dụng vì một lý do nào đó. Và trong khu vườn phía bên kia Roehampton, tôi kiếm được một ít khoai tây non, đủ để cầm cự qua cơn đói. Từ khu vườn này, người ta có thể phóng tầm mắt nhìn xuống Putney và dòng sông. Vẻ ảm đạm của khung cảnh lúc chạng vạng thật đặc biệt: những hàng cây cháy đen, những tàn tích tiêu điều, đen sì, và phía dưới triền dốc là những vũng nước sông ngập lụt, ánh lên sắc đỏ của đám cỏ dại. Và trùm lên tất cả — là sự tĩnh lặng. Suy nghĩ về việc sự thay đổi tàn khốc ấy đã diễn ra nhanh chóng đến nhường nào bỗng dâng lên trong tôi một nỗi khiếp sợ khôn nguôi.
Có lúc tôi đã tin rằng nhân loại đã bị quét sạch khỏi cõi đời này, và tôi đang đứng trơ trọi tại đó, là người cuối cùng còn sống sót. Ngay gần đỉnh đồi Putney, tôi bắt gặp một bộ xương khác, với phần tay bị trật khớp và văng ra cách phần thân chính vài thước. Khi tiếp tục bước đi, tôi càng lúc càng đinh ninh rằng việc tiêu diệt nhân loại, trừ những kẻ tha hương lạc loài như tôi, đã hoàn toàn hoàn tất ở phần này của thế giới. Tôi thầm nghĩ, người Sao Hỏa đã tiếp tục di chuyển và bỏ lại vùng đất hoang tàn này để tìm kiếm thức ăn ở nơi khác. Biết đâu ngay lúc này họ đang tàn phá Berlin hay Paris, hoặc cũng có thể họ đã tiến về phương bắc.