Ở phần sách đầu tiên, tôi đã rời xa những cuộc phiêu lưu của chính mình để kể về những trải nghiệm của người anh trai, đến mức suốt hai chương vừa qua, tôi và vị mục sư cứ phải ẩn náu trong ngôi nhà trống hoác ở Halliford – nơi chúng tôi đã trốn chạy để thoát khỏi Làn Khói Đen. Tôi xin tiếp tục câu chuyện từ đó. Chúng tôi cứ ở lại đó suốt đêm Chủ Nhật và cả ngày hôm sau – ngày diễn ra cơn hoảng loạn – trong một hòn đảo ánh sáng leo lắt, bị Làn Khói Đen cô lập hoàn toàn với phần còn lại của thế giới. Chẳng thể làm gì khác ngoài việc mòn mỏi chờ đợi trong sự bất động đến xót xa suốt hai ngày đằng đẵng ấy.
Tâm trí tôi lúc nào cũng bận rộn vì nỗi lo -sợ cho người vợ. Tôi hình dung nàng đang ở Leatherhead, khiếp sợ, gặp nguy hiểm, và giờ này chắc đã khóc thương tôi như một kẻ đã chết. Tôi cứ đi đi lại lại trong các căn phòng, cất tiếng khóc nghẹn ngào khi nghĩ đến cảnh mình bị chia cắt với nàng, và nghĩ đến tất cả những chuyện có thể xảy ra với nàng trong lúc tôi vắng mặt. Tôi biết người anh họ của mình đủ dũng cảm để đối phó với mọi tình huống bất ngờ, nhưng anh ấy lại không phải là mẫu người nhạy bén nhận ra hiểm nguy hay biết cách hành động nhanh chóng. Thứ cần lúc này không phải là lòng dũng cảm, mà là sự cẩn trọng. Niềm an ủi duy nhất của tôi là tin rằng lũ người Sao Hỏa đang tiến về phía London và rời xa vị trí của nàng. Những mối lo âu mơ hồ như thế cứ giày vò tâm trí khiến nó trở nên nhạy cảm và đau đớn. Tôi đâm ra mệt mỏi và cáu kỉnh trước những lời lẩm bẩm than van không dứt của vị mục sư; tôi phát ngán khi phải chứng kiến sự tuyệt vọng ích kỷ của ông ta. Sau một vài lời can ngăn chẳng đi đến đâu, tôi lánh xa ông ta, ở lại trong một căn phòng – rõ ràng là phòng học của trẻ em – có đặt các quả địa cầu, ghế dài và vở tập viết. Khi ông ta lẽo đẽo theo tôi vào đó, tôi liền chạy lên căn phòng áp mái ở tận cùng ngôi nhà, rồi tự khóa kín cửa lại để được một mình chìm đắm trong nỗi đau khổ nhức nhối.
Chúng tôi bị Làn Khói Đen vây hãm tuyệt vọng suốt ngày hôm đó cho đến tận sáng hôm sau. Vào tối Chủ Nhật, tôi thoáng thấy những dấu hiệu có bóng người ở ngôi nhà bên cạnh – một khuôn mặt lướt qua khung cửa sổ, những ánh đèn chuyển động, và sau đó là tiếng đóng cửa sầm lại. Nhưng tôi chẳng biết những người đó là ai, hay số phận họ ra sao. Sang ngày hôm sau, chúng tôi hoàn toàn không thấy tăm tích gì của họ. Suốt buổi sáng thứ Hai, Làn Khói Đen lững thững trôi dạt về phía sông, bò càng lúc càng gần chúng tôi, và cuối cùng tràn cả ra con đường cái bên ngoài ngôi nhà đang che chở cho chúng tôi.
Vào khoảng giữa trưa, một cỗ máy Sao Hỏa băng qua các cánh đồng, dùng luồng hơi nước cực nóng dập tắt làn khói; luồng hơi rít lên bần bật vào các bức tường, đập nát mọi ô cửa sổ nó quét qua, và làm phỏng tay vị mục sư khi ông ta hoảng hốt tháo chạy khỏi phòng khách phía trước. Khi cuối cùng chúng tôi cũng lê bước qua những căn phòng ẩm ướt để nhìn ra ngoài lần nữa, vùng đồng quê phía bắc trông hệt như vừa trải qua một trận bão tuyết đen tuyếu. Hướng mắt về phía dòng sông, chúng tôi ngỡ ngàng khi thấy một sắc đỏ khó hiểu đang hòa lẫn với màu đen của những thảm cỏ bị cháy xém.
Lúc đầu, chúng tôi chưa nhận thức được sự thay đổi này tác động thế nào đến tình cảnh của mình, chỉ biết là nỗi sợ Làn Khói Đen đã được dời bớt. Nhưng rồi tôi chợt hiểu ra rằng chúng tôi không còn bị vây hãm nữa, rằng giờ đây chúng tôi có thể tẩu thoát. Ngay khi nhận ra con đường trốn chạy đã rộng mở, khao khát hành động trong tôi trỗi dậy. Thế nhưng, vị mục sư lại tỏ ra bơ phờ, vô lý.
– Chúng ta an toàn ở đây, – ông ta lặp đi lặp lại. – An toàn ở đây.
Tôi quyết định bỏ mặc ông ta – phải chi tôi đã làm thế từ lúc đó! Giờ đây, nhờ những bài học kinh nghiệm của người lính pháo binh, tôi khôn ngoan hơn trong việc tìm kiếm thức ăn và nước uống. Tôi đã tìm thấy dầu và giẻ lau để xoa dịu những vết bỏng, đồng thời nhặt thêm một chiếc mũ cùng chiếc áo sơ mi bằng vải flannel thấy được trong một phòng ngủ. Khi ông ta nhận rõ ý định muốn đi một mình của tôi – và tôi cũng đã chấp nhận việc phải đi một mình – thì ông ta bỗng chốc vùng dậy đòi đi theo. Thấy mọi chuyện vẫn yên ắng suốt buổi chiều, chúng tôi bắt đầu lên đường vào khoảng năm giờ chiều theo ước chừng của tôi, rảo bước dọc theo con đường bị ám đen hướng về Sunbury.
Ở Sunbury, và rải rác dọc theo con đường, là những thây người nằm trong đủ mọi tư thế oằn oại, xác ngựa lẫn xác người, những chiếc xe đẩy và hành lý bị lật nhào, tất cả đều phủ một lớp bụi đen dày đặc. Tấm màn tro bụi ấy gợi cho tôi nhớ lại những gì từng đọc về thảm họa hủy diệt thành Pompeii. Chúng tôi đến Hampton Court mà không gặp tai nạn rủi ro nào, tâm trí ngập tràn những hình ảnh xa lạ và kỳ quái; và tại Hampton Court, mắt chúng tôi như dịu lại khi bắt gặp một mảng xanh may mắn thoát khỏi làn khói ngột ngạt. Chúng tôi đi xuyên qua công viên Bushey, ngắm những con đàn hươu đi lại dưới tán hạt dẻ, cùng vài bóng người nam nữ đang vội vã đằng xa hướng về phía Hampton, rồi cứ thế chúng tôi tiến vào Twickenham. Đó là những con người đầu tiên mà chúng tôi nhìn thấy.
Bên kia đường, những khu rừng phía bên kia Ham và Petersham vẫn đang bốc cháy. Twickenham không hề bị tổn hại bởi Tia Nhiệt hay Làn Khói Đen, và ở đây có đông người qua lại hơn, dù chẳng ai có thể cung cấp cho chúng tôi bất kỳ tin tức nào. Hầu hết bọn họ cũng giống như chúng tôi, đang tận dụng khoảng thời gian yên ắng để chuyển dời chỗ ở. Tôi có cảm giác rằng nhiều ngôi nhà ở đây vẫn có những cư dân hoảng loạn sinh sống, họ quá sợ hãi nên chẳng dám bỏ trốn. Nơi đây cũng có vô số dấu hiệu của một cuộc tháo chạy hoốn loạn dọc theo đường đi. Điều tôi nhớ rõ nhất là ba chiếc xe đạp bị đè bẹp dí thành một đống, bị bánh của những chiếc xe đẩy đi sau nghiến nát xuống mặt đường. Chúng tôi băng qua cầu Richmond vào khoảng tám giờ rưỡi. Tất nhiên là chúng tôi rảo bước thật nhanh qua cây cầu trống trải, nhưng tôi vẫn kịp nhận thấy trôi bồng bềnh trên dòng nước là vô số khối thịt đỏ au, có những khối rộng tới vài thước. Tôi không biết chúng là gì – vì chẳng có thời gian để soi xét kỹ lưỡng – và tôi đã gán cho chúng những ý nghĩa rùng rợn hơn thực tế rất nhiều. Lại một lần nữa, khi sang đến bờ sông thuộc hạt Surrey, chúng tôi bắt gặp lớp bụi đen vốn từng là khói, cùng những thây người – một đống xác chết nằm gần khu vực nhà ga; thế nhưng chúng tôi không hề thoáng thấy bóng dáng người Sao Hỏa nào cho đến khi đi được một quãng hướng về Barnes.
Từ khoảng cách bị khói đen che mờ, chúng tôi trông thấy một nhóm ba người đang cắm cổ chạy thục mạng dọc theo một con hẻm nhỏ hướng ra sông, ngoài ra khung cảnh xung quanh dường như hoàn toàn vắng bóng người. Ngọn đồi thị trấn Richmond đang bốc cháy dữ dội; còn bên ngoài thị trấn Richmond thì không hề có dấu vết nào của Làn Khói Đen.
Rồi bỗng nhiên, khi chúng tôi đến gần Kew, một đám đông người hoảng hốt túa ra chạy trốn, và phần thượng tầng của một cỗ máy chiến đấu thuộc về người Sao Hỏa bỗng sừng sững hiện ra trên nóc những ngôi nhà, cách chỗ chúng tôi chưa đầy một trăm thước. Chúng tôi đứng sững sờ vì khiếp sợ trước hiểm họa cận kề, và nếu gã người Sao Hỏa cúi xuống nhìn, chắc chắn chúng tôi đã mất mạng ngay lập tức. Chúng tôi hoảng loạn đến mức không dám bước tiếp, đành rẽ sang một bên và ẩn nấp trong một cái nhà kho nằm ở khu vườn nhỏ. Tại đó, vị mục sư ngồi thụp xuống, lặng lẽ khóc nức nở và kiên quyết từ chối nhúc nhích thêm bước nào nữa.
Nhưng ý định cố chấp phải đến được Leatherhead cứ thôi thúc khiến tôi không thể yên lòng, và khi màn đêm buông xuống, tôi lại mạo hiểm bước ra ngoài. Tôi băng qua một lùm cây cảnh, đi dọc theo lối đi nhỏ bên cạnh một ngôi nhà lớn nằm giữa khuôn viên riêng của nó, và cứ thế trồi ra được con đường hướng về Kew. Vị mục sư bị tôi bỏ lại trong nhà kho, nhưng ông ta lại lật đật chạy theo sau tôi.
Cuộc khởi hành thứ hai đó là hành động liều lĩnh nhất mà tôi từng làm trong đời. Bởi vì rõ ràng là lũ người Sao Hỏa đang lảng vảng ngay quanh chúng tôi. Vừa lúc vị mục sư bắt kịp tôi thì chúng tôi liền nhìn thấy một cỗ máy chiến đấu – có thể là cỗ máy lúc nãy hoặc một cỗ máy khác – đang đứng tít đằng xa phía bên kia những cánh đồng theo hướng nhà nghỉ Kew Lodge. Bốn hoặc năm bóng đen nhỏ xíu đang cắm cổ chạy trúng trước mặt nó trên khoảng sân cỏ màu xám lục, và chỉ trong chớp mắt, rõ ràng là tên người Sao Hỏa đang truy đuổi bọn chúng. Chỉ với ba bước sải chân, hắn đã bắt kịp họ, và họ tản ra chạy trốn tứ phía từ dưới chân hắn. Hắn không dùng Tia Nhiệt để tiêu diệt họ, mà lần lượt tóm lấy từng người một. Hình như hắn ném họ vào chiếc khoang kim loại khổng lồ nhô ra phía sau lưng hắn, trông giống hệt cách mà chiếc giỏ của thợ thủ công vắt vẻo qua vai.
Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra rằng lũ người Sao Hỏa có thể có những mục đích khác đối với nhân loại bại trận chứ không chỉ riêng sự hủy diệt. Chúng tôi đứng chết trân trong giây lát, rồi quay đầu tháo chạy qua cánh cổng phía sau dẫn vào một khu vườn có tường bao quanh, lao bổ vào – thay vì tình cờ tìm thấy – một con mương may mắn nào đó, rồi nằm rạp ở đó, hầu như không dám thì thầm với nhau lấy một tiếng cho đến khi các vì sao lấp lánh trên bầu trời.
Tôi đoán chắc phải gần mười một giờ đêm chúng tôi mới gom đủ dũng khí để tiếp tục lên đường, lúc này không dám mạo hiểm bước ra lòng đường nữa mà chỉ lủi thủi sát các hàng rào cây xanh và xuyên qua các đồn điền, mắt đăm đăm cảnh giác trong bóng tối – ông ta bên phải còn tôi bên trái – để đề phòng người Sao Hỏa, những kẻ dường như đang vây kín xung quanh chúng tôi. Có lúc chúng tôi vô tình bước nhầm vào một khu vực đã bị thiêu rụi và ám khói đen sì, nay đang dần nguội lạnh và phủ đầy tro tàn, nơi có rất nhiều xác người vứt rải rác, bị cháy xém khủng phần đầu và thân nhưng cẳng giày và đôi bốt thì hầu như vẫn còn nguyên vẹn; cách đó khoảng năm mươi bước là những xác ngựa nằm đằng sau một hàng gồm bốn khẩu pháo bị xé toạc và những chiếc xe pháo vỡ nát.
Sheen xem chừng đã may mắn thoát khỏi cảnh tàn phá, nhưng nơi đây lại vô cùng tĩnh lặng và vắng bóng người. Tại đây chúng tôi không tình cờ chạm trán xác chết nào, dẫu cho đêm quá tối khiến chúng tôi chẳng thể nhìn rõ vào những con đường nhỏ hai bên. Đến Sheen, người đồng hành của tôi bỗng nhiên kêu lên rằng ông ta cảm thấy hoa mắt chóng mặt và khát khô cả cổ, thế là chúng tôi quyết định thử ghé vào một ngôi nhà.
Ngôi nhà đầu tiên chúng tôi bước vào, sau một hồi chật vật với khung cửa sổ, là một căn biệt thự nhỏ chung vách, và tôi chẳng tìm thấy thứ gì ăn được trong nhà ngoài một ít phô mai đã mốc meo. Dù sao thì ở đó vẫn có nước để uống; và tôi tiện tay cầm lấy một chiếc rìu nhỏ, món đồ này hứa hẹn sẽ rất hữu ích cho phi vụ đột nhập ngôi nhà tiếp theo của chúng tôi.
Sau đó, chúng tôi băng qua khu vực đường rẽ hướng về Mortlake. Tại đây có một ngôi nhà màu trắng nằm ẩn mình trong khu vườn có tường bao quanh, và trong phòng chạn của căn nhà này, chúng tôi tìm thấy một kho dự trữ lương thực – hai ổ bánh mì đặt trong cái chảo, một miếng thịt bò chưa nấu, và một nửa cái đùi giâm bông. Tôi liệt kê chi tiết danh sách này là vì tình cờ thay, chúng tôi đã phải sống nhờ vào kho dự trữ này trong suốt nửa tháng trời tiếp theo. Bên dưới cái kệ có đặt vài chai bia, cùng hai túi đậu cô-ve và dăm nhánh xà lách mềm oặt. Căn phòng chạn này thông sang một dạng phòng rửa bát đĩa, và ở đó có chứa củi đốt; ngoài ra còn có một chiếc tủ đựng chén bát, nơi chúng tôi tìm thấy gần một tá rượu vang burgundy, các loại súp và cá hồi đóng hộp, cùng hai hộp bánh quy.
Chúng tôi ngồi trong căn bếp liền kề giữa bóng tối mù mịt – bởi chúng tôi chẳng dám quẹt diêm thắp sáng – rồi ăn bánh mì với giâm bông, và chuyền tay nhau uống bia chung một chai. Vị mục sư, người vốn vẫn luôn nhút nhát và bồn chồn, lúc này lại kỳ cục đòi lên đường tiếp tục hành trình, trong khi tôi đang giục ông ta hãy ăn uống để giữ gìn sức đúng lúc thảm họa sắp sửa giam cầm chúng tôi xảy ra.
– Chắc chưa đến nửa đêm đâu, – tôi vừa cất lời thì một luồng ánh sáng xanh chói lọi bỗng lóe lên lóa mắt. Mọi thứ trong gian bếp hiện thình lình rõ mồn một trong hai sắc xanh lá và đen kịt, rồi lại vụt tắt. Ngay sau đó là một tiếng nổ kinh hoàng chưa từng thấy trong đời, dù là trước hay sau này. Nối tiếp ngay sát nút tiếng nổ ấy, tưởng chừng như chỉ diễn ra trong tích tắc, là một tiếng động nặng nề vang lên ngay sau lưng tôi, tiếng kính vỡ leng keng, tiếng gạch đá đổ sụp rào rào khắp xung quanh, và lớp trát thạch cao trên trần nhà trút xuống đầu chúng tôi, vỡ vụn thành hàng vạn mảnh nhỏ tung tóe. Tôi bị đánh văng đầu cắm cúi lao sầm xuống sàn nhà va vào tay nắm lò nướng rồi ngất lịm đi. Vị mục sư kể lại rằng tôi đã bất tỉnh nhân sự suốt một khoảng thời gian dài, và khi tôi tỉnh lại thì xung quanh đã tối đen như mực, còn ông ta thì đang vốc nước lau cho tôi, mặt dính đầy máu rớm ra từ vết thương trên trán mà mãi sau này tôi mới biết.
Suốt một lúc lâu tôi không tài nào nhớ nổi chuyện gì vừa xảy ra. Rồi mọi thứ mới từ từ hiện về trong tâm trí. Vết bầm trên thái dương bắt đầu nhức nhối.
– Anh đỡ hơn chưa? – vị mục sư cất tiếng thì thầm hỏi.
Cuối cùng tôi cũng cất lời đáp lại và ngồim dậy.
– Đừng nhúc nhích, – ông ta bảo. – Dưới sàn nhà đầy những mảnh sành sứ vỡ từ chiếc chạn bát đĩa. Anh không thể nào di chuyển mà không gây ra tiếng động được đâu, và tôi có cảm giác bọn chúng đang ở bên ngoài đấy.
Cả hai chúng tôi ngồi im phăng phắc đến mức hầu như chẳng nghe nổi tiếng thở của nhau. Mọi thứ tĩnh lặng đến rợn người, bỗng có tiếng vật gì đó ở gần chúng tôi, có lẽ là mảnh vữa hoặc gạch vụn, sạt lở xuống kèm theo âm thanh ầm ầm trầm đục. Ngay bên ngoài và ở rất gần là một tiếng lách cách bằng kim loại phát ra ngắt quãng.
– Lại nữa kìa! – vị mục sư thì thào khi âm thanh ấy vang lên lần nữa.
– Phải, – tôi đáp. – Nhưng cái gì thế nhỉ?
– Một tên Sao Hỏa! – vị mục sư thốt lên.
Tôi lại ghé tai lắng nghe.
– Âm thanh này không giống như Tia Nhiệt, – tôi nói, và thoạt đầu tôi nghiêng về giả thuyết rằng một trong những cỗ máy chiến đấu khổng lồ đã vấp ngã vào ngôi nhà, hệt như cảnh tôi từng thấy một cỗ máy vấp phải ngọn tháp của nhà thờ Shepperton.
Tình cảnh của chúng tôi quá kỳ quái và khó lòng tài nào hiểu nổi, thế nên suốt ba bốn tiếng đồng hồ liền cho đến khi trời hửng sáng, chúng tôi hầu như chẳng dám cựa quậy. Và rồi ánh sáng lọt vào, không phải qua khung cửa sổ vẫn đang tối thui, mà qua một khe hở hình tam giác nằm giữa một thanh xà nhà và đống gạch vỡ ngổn ngang ở bức tường phía sau chúng tôi. Lúc bấy giờ, chúng tôi mới lần đầu tiên nhìn rõ lờ mờ khung cảnh bên trong gian bếp dưới ánh sáng xám xịt.
Khung cửa sổ đã bị một khối đất vườn đè sập vào trong, tràn lênh láng qua chiếc bàn mà chúng tôi vừa ngồi lúc nãy và vương vãi dưới chân chúng tôi. Bên ngoài, lớp đất được vun đắp cao ngất sát tận ngôi nhà. Ngay phía trên khung cửa sổ, chúng tôi có thể nhìn thấy một đoạn ống thoát nước bị nhổ bật gốc. Sàn nhà ngập tràn những mảnh sắt vụn vỡ nát; phần gian bếp hướng về phía ngôi nhà đã bị đục thủng một khoảng lớn, và vì ánh sáng ban ngày chiếu lọt vào qua đó, rõ ràng là phần lớn ngôi nhà đã bị đổ sụp. Tương phản rõ rệt với khung cảnh hoang tàn ấy là chiếc tủ chạn gọn gàng, được sơn theo mốt thời thượng màu xanh nhạt, bên dưới bày la liệt những vật dụng bằng đồng và thiếc, bức giấy dán tường giả gạch men xanh trắng, cùng đôi bức tranh phụ trang có màu sắc sặc sỡ đang bay phấp phới trên những bức tường phía trên lò bếp.
Khi ánh bình minh ngày càng tỏ rạng, qua khoảng hở trên tường, chúng tôi nhìn thấy thân hình của một tên Sao Hỏa đang đứng canh gác, tôi đoán thế, bên cạnh chiếc ống hình trụ vẫn đang âm ỉ tỏa nhiệt. Trông thấy cảnh tượng đó, chúng tôi vô cùng cẩn trọng bò từ chốn ánh sáng lờ mờ của gian bếp sang không gian tối tăm của phòng rửa bát.
Đột nhiên, lời giải thích chính xác lóe lên trong tâm trí tôi.
– Ống trụ thứ năm, – tôi thì thầm, – ống trụ thứ năm được bắn từ Sao Hỏa, đã rơi trúng ngôi nhà này và chôn vùi chúng ta dưới đống hoang tàn rồi!
Vị mục sư im lặng một hồi lâu, rồi ông ta thì thào:
– Xin Chúa hãy rủ lòng thương xót chúng con!
Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng ông ta lẩm bẩm khóc mếu máo một mình.
Ngoại trừ âm thanh đó ra, chúng tôi nằm im thin thít trong phòng rửa bát; riêng phần mình, tôi hầu như chẳng dám thở, trân trân dán mắt vào khoảng sáng mờ ảo ở cửa gian bếp. Tôi chỉ có thể lờ mờ nhìn thấy khuôn mặt của vị mục sư qua hình dáng bầu dục mờ ảo, cùng cổ áo và cổ tay áo của ông ta. Bên ngoài bắt đầu vang lên tiếng búa gõ kim loại kèn kẹt, tiếp theo là tiếng hú hét chói tai dữ dội, rồi sau một khoảng lặng yên ắng, lại là tiếng xì xì giống như tiếng động cơ hơi nước. Những âm thanh này, phần lớn đều khó mà đoán định được nguồn gốc, cứ tiếp tục vang lên ngắt quãng, và nếu có điều gì thay đổi thì chúng dường như còn gia tăng về số lượng theo thời gian. Chẳng mấy chốc, những tiếng ném huỵch huỵch đều đặn cùng độ rung lắc làm mọi vật xung quanh chúng tôi rung lên bần bật và khiến các đồ vật trong phòng chạn va vào nhau kêu leng keng rồi xê dịch vị trí, bắt đầu xuất hiện và kéo dài liên tục. Có lúc ánh sáng bị che khuất hoàn toàn, và cánh cửa bếp ma quái trở nên tối đen như mực. Chắc hẳn chúng tôi đã co ro ở đó suốt nhiều tiếng đồng hồ, lặng ngắt và run lẩy bẩy, cho đến khi sự tập trung vì mệt mỏi của chúng tôi suy sụp hoàn toàn...
Cuối cùng tôi cũng tỉnh giấc và cảm thấy đói cồn cào. Tôi nghiêng về phỏng đoán rằng chúng tôi đã trải qua phần lớn thời gian của một ngày trước khi tỉnh lại lúc đó. Cơn đói cào xé dâng lên dồn dập đến mức buộc tôi phải hành động. Tôi thì thầm với vị mục sư rằng mình đi tìm thức ăn, rồi cứ thế dò dẫm tìm đường hướng về phía phòng chạn. Ông ta chẳng đáp lại tôi câu nào, nhưng ngay lúc tôi bắt đầu ăn uống, những tiếng động khẽ khàng do tôi gây ra đã đánh động ông ta, và tôi nghe thấy tiếng ông ta đang lê lết bò theo sau mình.