Sinh lý là lẽ sống, là dục vọng con người. Trong lãnh vực này, xã hội loài người chứa đựng nhiều phức tạp.
Những phức tạp ấy đều là sản phẩm của xã hội, do cuộc sống tạo nên, đưa con người đến một tham vọng, rồi cũng chính con người từ cảm thấy bất mãn khi tham vọng bị chênh lệch trở thành những bất công trong xã hội.
Vậy bất công là gì ? Nó là sự mất thăng bằng, là trạng thái cực đoan, mà trong mọi chế độ xã hội con người luôn luôn chống lại để đòi hỏi sự quân bình.
Cũng như mọi hiện tượng trong vũ trụ, mỗi cá thể đều vươn lên để tranh đoạt sự sinh tồn, và tạo cho vạn hữu một sức mâu thuẫn, thì trong cuộc sống loài người cũng thế. Dục vọng con người cũng luôn luôn vươn lên tranh đoạt cho lẽ sống cá nhân, tạo cho xã hội loài người những hiện tượng chênh lệch mà loài người thường gọi là những bất công xã hội. Cho nên, nếu mọi biến động vũ trụ là trạng thái điều hòa những mâu thuẫn của vạn hữu, khí nóng điều hòa được khí lạnh trở thành sức ấm áp ; như vậy ta thấy rằng mọi ý thức tranh đấu của con người trong cuộc sống cũng chỉ để san bằng mọi chênh lệch bất công mà thôi. Mục tiêu của vũ trụ cũng như của con người đều tiến tới chỗ thăng bằng, và chỉ có thăng bằng mới tồn tại.
Tự nghìn xưa, ý thức con người cũng đã nhìn thấy yếu tố thăng bằng chính là yếu tố của đạo lý. Và công bằng chính là mục tiêu của lẽ sống mà con người muốn tồn tại cần phải tranh đấu.
Bởi vậy, người bình dân thời xưa đã biểu lộ quan niệm nhân sinh của họ qua các câu hát như :
Công bằng là đạo người ta ở đời.
Lấy công bằng làm tầm mức cho lẽ sống, dĩ nhiên ý thức họ phải chống lại những gì mất công bằng, tức là chống lại mọi chênh lệch.
Để chứng minh điều này, trong địa hạt hài hước châm biếm, chúng ta không lấy làm lạ khi họ lôi những ông già, bà già ra để làm trò cười trong cuộc sống.
Đây, chúng ta thử nhìn những ông già dưới con mắt khắc nghiệt của họ về phương diện luyến ái.
Già thì bế cháu ẵm con,
Già đâu lại muốn cau non trái mùa.
Hoặc :Ông già đầu bạc răng long,
Cưới cô con gái còn măng tuổi đào.
Tại sao lại chê cười khi một ông già lấy một cô gái ? Có phải đó là do ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh chăng ?
Thực ra, nếu quan niệm này có trùng hợp với giáo lý Khổng Mạnh thì cũng chỉ là phương diện ngẫu nhiên. Bởi vì các nước Tây Âu thời xưa không bị ảnh hưởng Nho giáo, tại sao họ cũng có những quan niệm châm biếm về cô gái lấy ông già.
Vả lại Nho giáo không chủ trương bình đẳng hôn nhân, địa vị của người đàn bà đối với Nho giáo không được coi trọng trong xã hội thì việc ông già lấy gái tơ, Nho giáo không cho là chuyện trái với lẽ sống. Bằng chứng Nho giáo đã bênh vực các bậc đế vương chọn cung phi mỹ nữ vào cung hằng loạt mà không bị giáo lý ngăn cấm.
Cho nên quan niệm ông già lấy gái tơ chỉ bị châm biếm trong giai cấp bình dân, quan niệm ấy phát nguồn từ ý thức bình đẳng. Họ đả phá những gì chênh lệch, mất thăng bằng. Mọi bất công trong xã hội loài người chỉ là những chênh lệch chồng chất. Những sự giàu sang áp chế là những bất công đã biểu lộ ra thực trạng, họ chống đối đã đành, mà đến những ý thức dục vọng chênh lệch cũng bị họ chống đối nữa. Tinh thần bình đẳng của họ là tinh thần tất yếu hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật. Lúc nào họ cũng tìm đến chỗ thăng bằng, đả phá những cực đoan.
Dục vọng con người thường chịu ảnh hưởng vào cuộc sống. Bởi vậy xã hội phát sanh những chênh lệch như :
Áo dài chẳng nệ quần thưa,
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm.
Bảy mươi mười bảy bao xa,
Bảy mươi có của mười ba cũng vừa.
Dưới mắt người bình dân, dù bị cuộc sống xã hội lôi cuốn thế nào đi nữa, họ vẫn cho đó là chuyện khôi hài, nếu không làm đúng với ý thức thăng bằng của họ. Mà ý thức thăng bằng là nguồn gốc của bình đẳng. Sự bất công phát xuất từ trạng thái mất thăng bằng ấy. Cho nên, chúng ta thấy ý thức khắc nghiệt của họ trong lãnh vực luyến ái không phải không duyên cớ.
Dù cho những ông già có đem lý luận về sức khỏe để bào chữa như :
Càng già, càng dẻo, càng dai,
Càng gãy chong chóng, càng sai chân giường.
thì đối với họ cũng là chuyện ngụy biện. Thời gian không bao giờ dừng lại, không gian không giữ mãi trạng thái bất di bất dịch, thì làm sao chúng ta lại bắt mùa Xuân phải đứng yên một chỗ ? Mùa xuân hôm nay không phải là mùa xuân của năm qua. Mặt trăng hôm nay không là mặt trăng của tháng trước. Dòng nước đang chảy không phải dòng nước chúng ta đã tắm vừa rồi. Thế thì khi họ là một ông già, dù trạng thái nào đi nữa, họ vẫn là một ông già và đang đi kề bên cái chết.
Người bình dân đã thấy rõ điều đó, nên cô thôn nữ đã châm biếm thái độ ngụy biện của họ.
Ông ơi, tôi chẳng lấy đâu,
Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.
Nhổ râu, cạo mặt không làm cho con người trẻ lại. Đó là hình thức miễn cưỡng chống lại cái già nua, một sự phỉnh phờ đối với thực chất cằn cỗi. Cũng như hiện tại chúng ta không thể đi ngược thời gian để sống trong dĩ vãng được vậy.
Nếu ông già lấy gái tơ bị họ châm biếm thì bà già lấy trai tơ họ cũng không tha. Ý thức châm biếm ấy lại cũng nhắm vào một mục tiêu. Ví như :
Rung rinh nước chảy qua đèo,
Bà già lật đật mua heo cưới chồng.
Bà già đã tám mươi tư,
Ngồi bên cửa sổ viết thư tìm chồng.
Bà già đi chợ Cầu Đông,
Bói xem một quẻ có chồng được chăng ?
Ông thày gieo quẻ bói rằng :
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay,
Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn ba.
Mồ cha đứa chê thiếp già,
Thiếp còn gánh nổi một vài trăm kim.
Trăm kim đổi lấy lạng vàng,
Mua gương Tư Mã thiếp với chàng soi chung.
Chàng về sắm sửa loan phòng,
Thiếp xin điểm phấn tô hồng thiếp theo !
Họ đưa ra những trạng huống ngược đời để trút vào đấy những nụ cười hài hước. Tuy nhiên, chúng ta đừng tưởng ý thức họ không sâu sắc. Nếu trong lớp người quí tộc đã dùng những ngôn từ hoa mỹ, những giọt nước mắt thâu đêm khóc lóc, oán than cho cuộc đời bất công của họ, thì chính người bình dân lại dùng tiếng nói mộc mạc, nụ cười mỉa mai để làm vơi đi những bất mãn đang lắng đọng trong tâm tư. Nhưng dù trạng thái bất mãn nào, trong tầng lớp nào, chúng ta cũng thấy mục tiêu của ý thức con người là đả phá cực đoan, tức là sự chênh lệch, và tìm về với trạng thái thăng bằng.
Sự thăng bằng trong quan niệm người bình dân đối với lẽ sống rất mạnh mẽ. Cho nên, chẳng những họ châm biếm mỉa mai những trạng thái cực đoan như ông già, bà già lấy gái tơ, trai tơ, mà họ còn đả phá luôn những trạng thái chênh lệch nhỏ nhen như :
Trai tơ ơi hỡi trai tơ !
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?
Nạ dòng lấy được trai tơ,
Đêm nằm hí hửng như Ngô được vàng.
Trai tơ vớ phải nạ dòng,
Như nước mắm thúi chấm lòng lợn thiu.
Trai tơ lấy gái có một đời chồng cũng bị họ châm biếm. Sở dĩ họ có quan niệm khắc nghiệt như vậy cũng chỉ vì ý thức thăng bằng của họ quá mạnh. Cái gì chênh lệch trước mắt đều bị họ đả kích. Bởi vậy những trạng thái yêu đương không tương xứng như chồng thấp vợ cao, chồng nhỏ vợ lớn đều bị họ cho là xấu ! Ví như :
Chồng thấp mà lấy vợ cao,
Qua sông nước lớn, cõng tao bớ mày !
Em đừng thấy anh nhỏ mà rầu,
Con ong kia bao lớn nó chích cài bầu cũng teo !
Anh đừng chê em nhỏ mà lầm,
Hòn đá đập nằm dưới, hòn đá cầm nằm trên !
Chẳng những họ chú trọng về hình thức, mà còn chú trọng đến cả trạng thái thăng bằng về tâm hồn nữa, cho nên đối với những cô gái lẳng lơ, nhiều dục tính, làm mất trạng thái thăng bằng trong con người cũng bị họ chế riễu :
Ở đây có đứa lấy trai,
Cho nên trời hạn nắng hoài không mưa.
Lấy trai ở đây có nghĩa là lang chạ, đa dâm. Khi tâm hồn con người đã đi vào trạng thái đa tình thì sẽ bất chính. Quan niệm bất chính của người bình dân lại không như quan niệm tứ đức tam tùng của Nho giáo. Bất chính đối với họ có nghĩa là thiếu chung thủy, làm mất lẽ sống công bằng do tham vọng của con người. Khi đã chủ trương thăng bằng cuộc sống dĩ nhiên họ chống lại khắt khe, và cũng không đồng ý với thái độ buông xả. Cả hai thái cực ấy đối với họ đều không hợp với lẽ sống con người. Cho nên, nếu họ đã mạnh dạn đứng ra phản đối quan niệm chính chuyên để tôn thờ nam giới do giáo lý Khổng Mạnh chủ trương thì họ cũng không tha thứ đối với những cô gái đầy dục tính. Ví dụ :
Hỡi cô mặc yếm hoa tâm,
Chồng cô đi lính, cô nằm với ai ?
Cô nằm cô đẻ thằng bé con trai.
Chồng cô về hỏi con ai thế này ?
- Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.
Sông Mơ, sông Mận, sông Đào,
Ba ngọn sông ấy chảy vào tuần ty.
Em trót yêu anh, bụng dạ phát phì,
Thuốc thang đâu khỏi anh thì bảo tôi ?
Trót yêu anh dễ đứng khó ngồi !
Rủ nhau đi cấy xứ Đoài,
Công lênh chẳng được, được vài mụn con.
Đem về bế bế hôn hôn,
Đánh tiếng ứ hự rằng con xứ Đoài.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, thương trai thì nhiều !
Nếu sự đam mê về giàu sang đã đưa xã hội loài người vào con đường bất công, tàn bạo, thì sự đam mê dục vọng của con người cũng không tránh khỏi thảm trạng ấy. Người bình dân đã có ý thức tự do luyến ái, bình đẳng hôn nhân, nhưng sự tự do và bình đẳng ấy phải ở trong khuôn khổ không chênh lệch, tức đả phá dục vọng. Bởi vậy, khi chê trách những cô gái lang chạ thì họ cũng không bênh vực những chàng trai si tình. Ví như :
Bươm bướm mà đậu cành hồng,
Đã yêu con chị lại bồng con em.
Thôi thôi xếp sách ra về,
Học hành chi nữa chúng chê bạn cười !
- Bạn cười thì mặc bạn cười,
Tháng năm đi cưới,tháng mười có con.
Văn chương chữ nghĩa bề bề,
Thần l… ám ảnh cũng mê mẩn người.
Thuyền than lại đậu bến than,
Gặp cô yếm thắm ôm quàng ngang lưng.
- Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng,
Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt hoa,
Tôi về tôi gọi chị tôi ra,
Chị tôi đã lớn, nguyệt hoa đã từng.
Ý thức châm biếm của họ không ngoài xây dựng một cuộc sống thăng bằng.
Trong lãnh vực sinh lý, ngoài quan niệm luyến ái, dục vọng con người còn ảnh hưởng nhiều mặt khác nữa, như ham giàu phụ khó, ham địa vị vứt bỏ nghĩa nhân. Tất cả hành động ấy đều bị người bình dân cho là xấu xa, bỉ ổi.
Tham vàng lấy phải thằng Ngô,
Đêm nằm hú hí như vồ đập bông.
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng lên trên.
Lúc khó thì chẳng ai màng,
Lúc lên quan cả chán vàn người yêu.
Như vậy, ý thức đả kích của họ cũng chỉ nhắm vào trạng thái cực đoan. Người bình dân không phải là những kẻ không quí trọng đồng tiền, không thiết tha với vinh dự, nhưng đồng tiền của họ phải là do sức minh làm ra, không phải do tham vọng ; vinh dự đối với họ là vinh dự do đích thân minh làm nên, không phải do cậy thế cậy thần mà có.
Nói chung thì ý thức tự lực tự cường của họ rất manh, nên bao giờ họ cũng đứng trên lập trường ấy mà xác định nhân sinh quan. Ý thức tự lực tự cường của họ lại đi đôi với quan niệm thăng bằng trong lẽ sống, để giữ cho lẽ sống được công bình, khi đã công bình tức là có bình đẳng, và xã hội loài người bớt đi những xáo trộn tai hại.