Tôi tản bộ dọc theo một con phố ở Beyoglu, khu mang nét châu Âu nhất bên bờ châu Âu của Istanbul, thì gặp một tiệm sách cũ. Tôi biết con phố hẹp, ngoằn ngoèo này, với những tiệm sửa chữa vặt, những cửa hàng bán gương và đồ gỗ nho nhỏ, và những tiệm ăn bình dân nữa. Đây là một chỗ mới, nên tôi bước vào bên trong.
Tôi thấy ở đây chẳng có nét nào giống những tiệm sách cũ ở Istanbul, nơi thường có những cảo bản phủ bụi cùng những loại ấn phẩm khác; không có những tháp sách bụi bặm, những núi sách chờ định giá. Mọi thứ sạch sẽ và ngăn nắp như trong những cửa hàng bán đồ cổ bắt đầu nhanh chóng mọc lên trong khu vực; các cuốn sách thậm chí còn được phân loại. Vậy ra đây là một tiệm sách “cổ” thuộc loại đã bắt đầu thay thế những hiệu buôn kiểu cũ trong khu vực này. Tôi chán nản nhìn những kệ sách, trên đó những cuốn sách được đóng bìa đứng chờ như những anh lính trong một đội quân hiện đại, kỷ luật.
Trong một góc tôi để ý thấy một kệ dài những cuốn sách luật Hy Lạp. Hẳn chúng thuộc về một luật sư Hy Lạp đã chết hoặc chuyển đến Athens từ lâu rồi, và chẳng còn mấy người Hy Lạp ở trong thành phố quan tâm đến việc mua những cuốn sách luật cũ này, tôi đoán chừng chủ tiệm chọn những cuốn này trưng bày trên các kệ trống vì gáy của chúng rất đẹp. Tôi cầm chúng lên, mân mê, không ấn tượng mấy vì bìa hay nội dung mà vì thực tế rằng những người chủ nguyên thủy của chúng có thể đã truy gia phả của họ ngược về tận Đế quốc Byzantine; rồi tôi để ý những cuốn sách bên cạnh chúng. Đây là trọn tám tập của tác phẩm chính đầu thế kỷ 20 của Albert Sorel[1], L’Europe et la révolution franÇaise[2]. Tôi thường bắt gặp bộ này tại các tiệm sách cũ. Phát hiện ra sự liên quan của nó với thời đại chúng ta, tiểu thuyết gia Nahit Sirri Örik dịch những tập sách dày cộm này sang tiếng Thổ, và sau đó chúng được Bộ Giáo dục Quốc gia của nền Cộng hòa thân phương Tây xuất bản. Cho dù họ nói thứ tiếng nào ở nhà - Hy Lạp, Pháp hay Thổ - khá nhiều trí thức Istanbul đã đọc tác phẩm này, nhưng, tôi biết rõ, họ không đọc chúng như một độc giả Pháp, thay vì tìm kiếm mối liên hệ với ký ức và quá khứ của riêng mình, họ tìm trong những trang sách ý niệm về tương lai và về những giấc mơ châu Âu của mình.
Với những người như tôi, sống bấp bênh trên rìa châu Âu mà chỉ có những cuốn sách làm bạn, châu Âu luôn hiện ra như một giấc mơ, một viễn tượng của điều sẽ tới; một bóng ma lúc ta khao khát, lúc ta sợ hãi; một mục tiêu phải đạt được hoặc một mối nguy hiểm. Tương lai - nhưng không bao giờ là ký ức.
Cũng như vậy, trong chừng mực mà tôi có thể phóng đại chúng, ký ức của riêng tôi về những sự vật châu Âu là những tưởng tượng trong một giấc mơ hơn là ký ức: Tôi không có ký ức thực thụ về châu Âu. Tôi chỉ có những giấc mơ và ảo mộng châu Âu của một người đã sống cả đời ở Istanbul. Năm bảy tuổi, tôi nghỉ hè ở Geneva, nơi cha tôi đang làm kỹ sư. Căn nhà chúng tôi đứng giữa các mái nhà nhô trên đài phun nước mang tên một người anh hùng, và lần đầu tiên nghe tiếng chuông nhà thờ rung, tôi cảm thấy mình không ở tại châu Âu mà ở trong lòng nước Chúa. Như những người Thổ đi châu Âu để tiêu tiền kiếm được từ buôn bán thuốc lá, và như rất nhiều người khác đi tìm kiếm tị nạn chính trị hay kinh tế, tôi cũng dạo bước trên những con phố của Geneva lòng đầy ngưỡng mộ và kinh ngạc, có lẽ không quen với cảm giác quá tự do, nhưng hồi ức của tôi về những gì tôi thấy qua cửa sổ các cửa tiệm, rạp chiếu bóng, những gương mặt người, và các con đường của thành phố là những ký ức về thoáng nhìn đầu tiên của tôi về một tương lai tưởng tượng. Với những người như tôi, châu Âu chỉ thú vị như một viễn tượng về tương lai - và như một mối đe dọa.
Vì là một trong nhiều trí thức bên rìa châu Âu gắn bó đến mức ám ảnh với tương lai này nên tôi có thể dễ dàng tìm ra cuốn sách lịch sử của Sorel bán ở các tiệm sách Istanbul. Cách đây một trăm ba mươi năm, khi Dostoyevsky đăng những ấn tượng của ông về châu Âu trên một tờ báo Nga, ông đặt câu hỏi, “Trong số những người Nga có đọc báo và tạp chí, ai mà không biết về châu Âu nhiều gấp đôi nước Nga?” và rồi ông thêm, nửa giận, nửa đùa, “Thật ra, chúng ta biết về châu Âu nhiều gấp mười lần, nhưng tôi nói ‘gấp đôi’ để quý vị khỏi mếch lòng.” Mối quan tâm đầy rắc rối về châu Âu này, với nhiều trí thức sống ở ngoại vi, là một truyền thống đã có từ hàng thế kỷ. Với một số người, có phần quá đáng khi Dostoyevsky xem hiện tượng kia là chướng tai gai mắt, trong khi những người khác coi đó là chuyện bình thường, không thể tránh khỏi. Sự tranh cãi giữa hai cách tiếp cận này đã thúc đẩy cho một nền văn chương có lúc cáu gắt có lúc triết lý hay châm biếm, tôi dành sự đồng cảm lớn nhất cho chính nền văn chương này, chứ không phải những truyền thống vĩ đại của châu Âu hay châu Á.
Quy tắc đầu tiên của truyền thống này là ai cũng phải chọn một phe. Cuộc tranh luận về châu Âu có lịch sử lâu đời ở Thổ Nhĩ Kỳ và được khơi lại năm 1996 - sau khi đảng Hồi giáo Refah trở thành một phần của chính phủ liên hiệp - và mỗi vòng tranh luận mới bắt đầu với một nỗ lực xác định và khước từ cả phiên bản châu Âu trong mơ lẫn cơn ác mộng. Mọi người - dù là người theo khuynh hướng tự do hay ủng hộ đạo Hồi, xã hội chủ nghĩa hay kẻ quảng giao - đều có điều gì đó để nói về vấn đề này, và tôi đã nghe quá nhiều khuyên răn về việc chúng ta nên bàn thảo về châu Âu nào - châu Âu nhân đạo, châu Âu phân biệt chủng tộc, châu Âu dân chủ, châu Âu Thiên Chúa giáo, châu Âu công nghệ, châu Âu giàu có, châu Âu tôn trọng nhân quyền - đến nỗi tôi thường cảm thấy mình như một đứa trẻ chán ngấy những thảo luận tôn giáo bên bàn ăn tối đến nỗi nó từ bỏ mọi niềm tin vào tôn giáo; có những lúc tôi ước mình quên sạch sẽ mọi thứ đã nghe về đề tài này. Nhưng tôi vẫn muốn chia sẻ vài ký ức của tôi với các bạn đọc châu Âu và một vài bí mật về đời sống riêng tư của những người sống trên rìa châu Âu. Sau đây là một vài cách thức theo đó chúng tôi - những người sống ở Istanbul - khẳng định phẩm chất châu Âu của mình:
1. Một câu nói tôi nghe trong cái gia đình Tây hóa trung lưu lớp trên của tôi từ thời thơ ấu: “Ở châu Âu người ta làm như thế này.” Nếu người ta đang dự thảo một đạo luật mới về đánh bắt cá, nếu bạn đang chọn màn cửa mới cho nhà bạn, hay đang ấp ủ một kế hoạch hiểm ác dành cho kẻ thù, cứ phát ra những từ huyền diệu này là bạn có thể ngay lập tức chấm dứt bất kỳ thảo luận nào về phương pháp, màu sắc, kiểu dáng hay nội dung.
2. Châu Âu là một thiên đường tính dục. So với Istanbul, đây là một phỏng đoán khá chính xác. Như nhiều đồng bào ham đọc sách khác, lần đầu tôi nhìn thấy phụ nữ trần truồng là trong hình minh họa trên một tạp chí nhập khẩu từ châu Âu. Hẳn nhiên đây là ký ức đầu tiên và choáng váng nhất của tôi về châu Âu.
3. “Nếu một người châu Âu nhìn thấy cái này, họ sẽ nghĩ gì?” Câu hỏi là vừa là nỗi lo sợ vừa là sự khao khát. Chúng tôi thảy đều lo rằng khi họ thấy chúng tôi không giống họ như thế nào, họ sẽ quở mắng chúng tôi. Đây là lý do tại sao chúng tôi muốn trong các nhà tù ít có tra tấn hơn, hoặc ít ra thì tra tấn nhưng đừng để lại dấu vết. Đôi khi chúng tôi muốn lấy việc phô bày cho họ thấy chúng tôi khác họ như thế nào làm niềm vui: như khi chúng tôi muốn gặp một tay khủng bố theo đạo Hồi, hay khi chúng tôi muốn kẻ đầu tiên bắn giáo hoàng sẽ là người Thổ.
4. Sau khi nói, “Người châu Âu thường rất nhã nhặn, tinh tế, có văn hóa, và lịch lãm,” người ta thường thêm, “Nhưng khi họ không được cái họ muốn thì…” và cái ví dụ họ đưa ra sẽ phản ánh mức độ bức xúc mang tính dân tộc chủ nghĩa của họ: “Lúc tay tài xế taxi Paris thấy tiền boa của tôi quá ít thì…” hay “Anh không biết là họ cũng đã tổ chức các cuộc Thập tự chinh sao?”
Cái châu Âu hiện ra trong những tuyên bố trên là một nơi chốn của tất cả hoặc không gì cả. Đối với những người như tôi sống trên rìa châu Âu và duy trì mối quan tâm đầy ám ảnh với châu Âu, trước hết nó là một giấc mơ mãi mãi thay đổi gương mặt và tính cách. Thế hệ của tôi, và những thế hệ trước tôi, hầu như tin vào giấc mơ này nhiệt thành còn hơn cả chính người châu Âu. Việc này là trước khi các cuộc đàm phán giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên minh châu Âu trở nên quá căng thẳng và rắc rối.
Vì cả đời tôi sống bên bờ châu Âu của Istanbul - nói cách khác, ở châu Âu - nên với tôi để cảm thấy mình là một người châu Âu về khía cạnh địa lý chẳng phải là chuyện khó khăn gì. Nhưng trong những tiệm sách Istanbul như tiệm tôi khám phá khi viết bài luận này, dấu hiệu duy nhất của sự nhận dạng ấy là cuốn sách của Albert Sorel, đã được dịch ra tiếng Thổ trong thế kỷ trước. Liệu bây giờ người ta có ngưng hỏi cuốn La question d’Orient au dix-huitième siècle[3] bởi vì cuốn sách này được xuất bản bằng chữ Ả rập, mà bây giờ chúng tôi không ai đọc được, do Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng bảng chữ cái Latinh trong những năm đầu của nền Cộng hòa, để có thể Âu châu hơn? Hoặc có phải là vì chúng tôi đã bắt đầu xem châu Âu như là quá mức phiền toái và rắc rối theo những cách chưa từng mơ thấy trước đây? Tôi không thể nói được.
❀ ❀ ❀
[1] Albert Sorel (1842-1906): sử gia người Pháp.
[2] L’Europe et la révolution franÇaise: Châu Âu và Cách mạng Pháp.
[3] La question d’Orient au dix-huitième siècle: vấn đề phương Đông thế kỷ 18.