Giáo sư nhận được một bức điện từ nhà máy của gia đình Lyalikov; người ta khẩn khoản mời ông đến càng nhanh càng tốt. Con gái của một bà Lyalikov nào đó, có lẽ là chủ nhà máy, đang lâm bệnh, và đó là tất cả những gì người ta có thể hiểu được từ bức điện dài dòng và lủng củng ấy. Giáo sư không tự mình đi, mà phái người trợ lý là Korolyov đến thay.
Nơi đó cách Moscow hai ga tàu, và phải đi xe ngựa chừng ba dặm từ nhà ga. Một cỗ xe ba ngựa đã được phái ra ga đón Korolyov; người đánh xe đội chiếc mũ có cắm một chiếc lông công, và trả lời mọi câu hỏi bằng một giọng oang oang như lính tráng: "Thưa không ạ!" "Xin tuân lệnh!"
Hôm đó là chiều thứ Bảy; mặt trời đang lặn, công nhân từng đoàn lũ lượt từ nhà máy kéo ra ga, họ ngả đầu chào cỗ xe mà Korolyov đang ngồi. Và ông đâm ra thích thú buổi chiều hôm ấy, những ngôi nhà trang trại cùng biệt thự bên đường, những hàng bạch dương, và bầu không gian tĩnh lặng bao trùm khắp chốn, khi đồng ruộng, rừng cây và ánh mặt trời dường như đang chuẩn bị – cũng giống như những công nhân đang bước vào thềm ngày nghỉ lễ – để nghỉ ngơi, và có lẽ để cầu nguyện...
Ông sinh ra và lớn lên ở Moscow; ông không rành vùng nông thôn, chưa từng bận tâm đến các nhà máy hay đặt chân vào bên trong bao giờ, nhưng ông tình cờ đọc được vài tài liệu về nhà máy, từng đến nhà của các chủ xưởng và trò chuyện với họ; và bất cứ khi nào nhìn thấy một nhà máy ở gần hay ở xa, ông luôn nghĩ rằng bên ngoài tuy có vẻ yên tĩnh và thanh bình, nhưng bên trong chắc chắn ngập tràn sự dốt nát không thể lay chuyển và thói ích kỷ tối tăm từ phía ông chủ, những giọt mồ hôi nhọc nhằn, độc hại từ phía công nhân, cùng những cuộc cãi vã, rận rược và rượu chè. Và giờ đây, khi những người công nhân rụt rè và kính cẩn dạt sang một bên nhường đường cho cỗ xe, qua nét mặt, chiếc mũ và dáng đi của họ, ông đọc thấy sự ô uế về thể xác, sự nát rượu, sự kiệt quệ thần kinh và nỗi hoang mang.
Họ đánh xe vào cổng nhà máy. Hai bên đường, ông thoáng thấy những ngôi nhà nhỏ của công nhân, khuôn mặt của những người phụ nữ, những chiếc chăn và quần áo phơi trên lan can. "Tránh ra nào!" người đánh xe hét lên mà không thèm kìm cương ngựa. Đó là một khoảng sân rộng không một ngọn cỏ, với năm tòa nhà khổng lồ có những chiếc ống khói cao đứng cách nhau một khoảng, nào nhà kho, nào dãy nhà ở tập thể, và bao trùm lên vạn vật là một lớp bụi xám xịt tựa tro tàn. Thấp thoáng đây đó, như những ốc đảo giữa sa mạc, là mấy mảnh vườn nghèo nàn cùng những mái nhà xanh đỏ nơi ban quản lý và các viên thư ký sinh sống. Người đánh xe bất ngờ giật cương, cỗ xe dừng lại trước ngôi nhà vừa được sơn lại màu xám; trước cửa là một mảnh vườn hoa với bụi cây tử đinh hương phủ đầy bụi, và trên bậc thềm vàng dẫn vào cửa chính sực nức mùi sơn mới.
"Xin mời bác sĩ vào ạ," những giọng phụ nữ cất lên ở hành lang và tiền sảnh, đồng thời ông nghe thấy tiếng thở dài và tiếng thì thầm. "Xin mời bước vào... Chúng tôi đợi ngài lâu quá... nhà tôi đang có chuyện lớn rồi. Lối này, thưa bác sĩ."
Bà Lyalikov – một phụ nữ lớn tuổi đẫy đà mặc chiếc áo lụa đen với kiểu tay áo đang mốt thời bấy giờ, nhưng qua nét mặt lại cho thấy đó là một người phụ nữ chất phác, ít học – lo lắng nhìn vị bác sĩ, không dám chìa tay ra chào; bà không dám. Đứng bên cạnh bà là một người phụ nữ tóc ngắn đeo kính gọng kẹp; bà mặc chiếc áo blouse nhiều màu, gầy đét và đã luống tuổi. Bọn gia nhân gọi bà là Christina Dmitryevna, và Korolyov đoán đây chính là cô gia sư. Có lẽ vì là người có học thức nhất trong nhà, bà được giao trọng trách ra mắt và tiếp đón vị bác sĩ, nên bà liền tuôn ra một thôi hồi, vô cùng vội vã, kể lể nguyên nhân bệnh tình với những chi tiết vụn vặt, nhàm chán nhưng lại chẳng nói rõ ai đang ốm hay mắc bệnh gì.
Bác sĩ và cô gia sư ngồi trò chuyện trong lúc bà chủ nhà đứng bất động bên cửa, chờ đợi. Qua cuộc trò chuyện, Korolyov biết được bệnh nhân chính là cô con gái độc nhất kiêm người thừa kế của bà Lyalikov, một thiếu nữ đôi mươi tên là Liza; cô đã đau ốm từ lâu, đã chạy chữa nhiều bác sĩ, và đêm qua cô bị những cơn hồi hộp đánh trống ngực dữ dội hành hạ đến tận sáng khiến chẳng ai trong nhà được chợp mắt, và họ đã sợ rằng cô có thể không qua khỏi.
"Có thể nói là con bé đau yếu từ bé," Christina Dmitryevna cất giọng đều đều như ngâm nga, liên tục dùng tay lau miệng. "Các bác sĩ bảo đó là bệnh thần kinh; hồi nhỏ con bé bị tràng nhạc, rồi các bác sĩ cho thuốc đẩy lùi vào trong, nên tôi nghĩ có lẽ vì thế mà ra cơ sự này."
Họ tiến vào phòng bệnh nhân. Đã trưởng thành, cao lớn nhưng lại kém sắc giống hệt mẹ, với đôi mắt húp híp cùng phần cằm bè ra mất cân đối, đang nằm với mái tóc bù xù và trùm chăn kín tận cằm, ngay khoảnh khắc đầu tiên cô tạo cho Korolyov ấn tượng về một sinh vật nghèo hèn, bất hạnh được cưu mang và chăm sóc ở đây vì lòng bố thí, và ông suýt không thể tin đây lại là người thừa kế của năm tòa nhà khổng lồ kia.
"Tôi là bác sĩ đến khám cho cô đây," Korolyov nói. "Xin chào cô."
Ông xưng tên và bắt tay cô, một bàn tay to lớn, lạnh ngắt và thô kệch; cô ngồi dậy, có lẽ đã quen với các bác sĩ nên cứ để mặc ông thăm khám mà chẳng hề bận tâm việc vai và ngực mình đang để trần.
"Tim cháu đập loạn lên," cô nói. "Cả đêm qua khủng khiếp quá... Cháu suýt chết vì sợ! Xin bác sĩ cho cháu thuốc gì đi."
"Rồi, tôi sẽ cho; cô đừng lo lắng."
Korolyov khám cho cô và nhún vai.
"Tim hoàn toàn bình thường," ông nói; "mọi thứ đều ổn định cả; chẳng có vấn đề gì đáng ngại. Chắc thần kinh của cô hơi căng thẳng chút thôi, nhưng chuyện đó phổ biến lắm. Cơn phát bệnh giờ chắc cũng qua rồi; cô hãy nằm xuống và ngủ đi."
Đúng lúc ấy, người ta mang đèn vào phòng ngủ. Bệnh nhân nheo mắt trước ánh sáng, rồi bất chợt đưa tay ôm đầu và bật khóc nức nở. Thế là ấn tượng về một sinh vật nghèo hèn, xấu xí bỗng tan biến, và Korolyov không còn để ý đến đôi mắt nhỏ hay phần hàm dưới nặng nề của cô nữa. Ông nhìn thấy một nét mặt dịu dàng, đầy đau khổ, thông minh và vô cùng cảm động: cô hiện lên trong mắt ông thật duyên dáng, nữ tính và giản dị; và ông khao khát được xoa dịu cô, không phải bằng thuốc men, không phải bằng những lời khuyên nhủ, mà bằng những lời thăm hỏi chân tình, giản dị. Người mẹ ôm chàng lấy đầu cô và siết chặt vào ngực. Nỗi tuyệt vọng và đau đớn nào đang hiện lên trên khuôn mặt người đàn bà lớn tuổi ấy! Chính bà, người mẹ đã nuôi nấng và dạy dỗ cô, chẳng tiếc thứ gì, cống hiến cả cuộc đời để con gái được học tiếng Pháp, học khiêu vũ, học âm nhạc: đã thuê cả tá gia thầy cô về dạy; đã thỉnh cầu những vị bác sĩ giỏi nhất, thuê cả gia sư riêng. Thế mà giờ đây bà không thể hiểu nổi lý do của những giọt nước mắt này, tại sao lại có nỗi thống khổ nhường này, bà chẳng thể hiểu nổi và hoàn toàn hoang mang; gương mặt bà mang vẻ tội lỗi, bấn loạn và tuyệt vọng, tựa hồ như bà đã bỏ sót điều gì vô cùng quan trọng, đã quên làm việc gì đó, đã bỏ quên chưa mời một ai đó – mà là ai thì bà cũng chẳng biết.
"Lizanka, con lại khóc nữa rồi... lại khóc nữa rồi," bà vừa nói vừa ôm chặt con gái vào lòng. "Cục cưng của mẹ, đứa con ngoan của mẹ, hãy nói cho mẹ nghe có chuyện gì đi! Xin con hãy rủ lòng thương đến mẹ! Hãy nói cho mẹ biết đi."
Cả hai mẹ con đều khóc nức nở. Korolyov ngồi xuống mép giường và cầm lấy tay Liza.
"Thôi nào, nín đi chứ; khóc lóc chẳng ích gì đâu," ông dịu dàng nói. "Chẳng có gì trên đời này đáng để phải rơi những giọt nước mắt ấy cả. Nào, chúng ta không khóc nữa nhé; vô ích lắm..."
Và thâm tâm ông thầm nghĩ:
"Đã đến tuổi lấy chồng lắm rồi..."
"Bác sĩ ở nhà máy cho con bé uống nước brôm," cô gia sư lên tiếng, "nhưng tôi thấy thuốc ấy chỉ làm con bé tệ hơn. Lẽ ra nếu cho thuốc trợ tim thì phải dùng dạng thuốc giọt chứ nhỉ... Tôi quên béng mất tên rồi... Hình như là Convallaria phỏng?"
Và sau đó là tràng man mác những chi tiết vụn vặt. Cô ta ngắt lời bác sĩ, không để ông nói, nét mặt ra điều cố gắng lắm, như thể cô ta đinh ninh rằng với tư cách là người có học thức nhất trong nhà, cô ta có bổn phận phải duy trì cuộc trò chuyện với vị bác sĩ, và tuyệt đối không được nói về chủ đề nào khác ngoài y khoa.
Korolyov cảm thấy chán ngán.
"Tôi thấy chẳng có vấn đề gì đặc biệt cả," ông vừa nói vừa bước ra khỏi phòng ngủ, hướng về phía người mẹ. "Nếu con gái bà đang được bác sĩ của nhà máy điều trị, cứ để anh ta tiếp tục chữa trị đi. Phác đồ từ trước đến nay hoàn toàn chính xác, và tôi không thấy lý do gì để phải đổi bác sĩ cả. Đổi làm gì cơ chứ? Đó chỉ là một thứ bệnh thông thường; chẳng có gì nghiêm trọng đâu."
Ông vừa điềm tĩnh đeo găng tay vừa nói, trong khi bà Lyalikov đứng im phăng phắc, ngước nhìn ông bằng đôi mắt đẫm lệ.
"Tôi còn nửa tiếng để kịp chuyến tàu lúc mười giờ," ông nói. "Hy vọng là tôi chưa bị muộn."
"Thế ngài không ở lại được sao?" bà hỏi, và nước mắt lại rỉ ra trên má. "Tôi thật ngại khi làm phiền ngài, nhưng nếu ngài có thể rộng lòng... Vì Chúa," bà hạ giọng nói tiếp, liếc mắt về phía cửa, "xin hãy ở lại đêm nay với chúng tôi! Nó là tất cả những gì tôi có... đứa con gái duy nhất... Đêm qua nó làm tôi hoảng hồn; giờ tôi vẫn chưa hoàn hồn nổi... Xin ngài chớ đi, vì ơn trên!..."
Ông định nói rằng mình còn rất nhiều việc ở Moscow, rằng gia đình đang ngóng trông ông về; ông vốn chẳng mấy mặn mà việc phải trải qua buổi tối và suốt cả đêm dài trong một ngôi nhà xa lạ mà chẳng vì mục đích gì; nhưng nhìn gương mặt bà, ông thở dài, lẳng lặng tháo găng tay ra.
Toàn bộ đèn và nến được thắp sáng rực rỡ để tiếp đón ông trong phòng khách và phòng ăn. Ông bước lại bên đàn piano và lật xem mấy cuốn bản nhạc. Rồi ông ngắm những bức tranh treo trên tường, những bức chân dung sơn dầu trong khung mạ vàng vẽ cảnh vùng Crimea – một vùng biển động có chiếc thuyền, một vị tu sĩ Thiên Chúa giáo cầm ly rượu vang; tất cả đều là những tác phẩm hội họa tẻ nhạt, phẳng lì, hoàn toàn không thấy chút tài năng nào. Chẳng có lấy một khuôn mặt ưa nhìn nào giữa những bức chân dung ấy, toàn là gò má cao và đôi mắt trợn trừng đầy ngạc nhiên. Lyalikov, cha của Liza, có chiếc vầng trán thấp và nét mặt mãn nguyện; bộ quân phục mặc trên vóc dáng thô kệch của ông ta trông như cái bao bố; trên ngực áo gắn một tấm huy chương và Phù hiệu Hội Chữ Thập Đỏ. Nơi đây chẳng thấy mấy bóng dáng của văn minh, sự xa hoa thì ngớ ngẩn, bạ đâu bày đấy và lạc lõng y hệt bộ quân phục kia. Những tấm sàn nhà được đánh bóng lộn bóng làm ông phát bực, những chùm pha lê trên đèn chùm làm ông khó chịu, và chẳng hiểu sao ông lại liên tưởng đến câu chuyện về tay lái buôn thường đeo huy chương trên cổ mỗi khi đi nhà tắm...
Ông nghe thấy tiếng thì thầm ở tiền sảnh; có ai đó đang ngáy khò khè nhè nhẹ. Và bất thình lình, từ bên ngoài vọng vào những âm thanh khô khốc, cụt lủn mang âm hưởng kim loại, thứ âm thanh mà Korolyov chưa từng nghe thấy bao giờ và lúc này cũng chẳng tài nào hiểu nổi; chúng khơi dậy trong tâm hồn ông những tiếng vọng kỳ lạ và khó chịu.
"Tôi tin là dù có chuyện gì đi nữa thì tôi cũng chẳng đời nào chịu ở lại đây sống..." ông thầm nghĩ, rồi lại quay về với những tập bản nhạc.
"Thưa bác sĩ, xin mời ngài dùng bữa tối!" cô gia sư hạ giọng gọi ông.
Ông bước vào bàn ăn tối. Chiếc bàn lớn được bày biện vô số món ăn và rượu vang, nhưng chỉ có hai người dùng bữa: bản thân ông và Christina Dmitryevna. Cô ta uống rượu Madeira, ăn ngấu nghiến và vừa ăn vừa trò chuyện, nhìn ông qua cặp kính gọng kẹp:
"Công nhân nhà máy chúng tôi rất mãn nguyện. Mùa đông nào chúng tôi cũng tổ chức biểu diễn văn nghệ tại nhà máy; chính công nhân tự diễn. Họ còn được nghe các buổi thuyết trình có chiếu đèn ma thuật, có một phòng trà tuyệt vời và mọi thứ họ muốn. Họ gắn bó với chúng tôi lắm, và khi nghe tin con bé Lizanka trở nặng, họ đã tự nguyện góp tiền làm lễ cầu siêu cho con bé. Dù họ chẳng được học hành, nhưng họ cũng có tình cảm đấy chứ."
"Xem ra trong nhà các cô không còn một người đàn ông nào nữa thì phải," Korolyov nói.
"Không còn ai cả. Pyotr Nikanoritch đã qua đời cách đây một năm rưỡi, để lại mẹ con chúng tôi thui thủi. Thế là chỉ có ba chúng tôi. Mùa hè chúng tôi ở đây, còn mùa đông thì về Moscow, ở phố Polianka. Tôi đã sống cùng họ mười một năm nay – như người trong một nhà."
Bữa tối họ dọn cá tầm, chả gà viên và hoa quả ngâm; rượu vang đều là loại rượu Pháp đắt tiền.
"Xin bác sĩ cứ tự nhiên, đừng câu nệ," Christina Dmitryevna vừa ăn vừa dùng nắm tay lau miệng nói, và rõ ràng cô ta thấy cuộc sống ở đây vô cùng dễ chịu. "Xin mời ngài dùng thêm chút nữa."
Dùng bữa xong, bác sĩ được dẫn về phòng nghỉ đã dọn sẵn giường chiếu, nhưng ông không sao chợp mắt được. căn phòng ngột ngạt và sực nức mùi sơn; ông mặc áo khoác vào và bước ra ngoài.
Bầu trời ngoài trời mát mẻ; ánh bình minh đã bắt đầu hửng sáng, và toàn bộ năm khối nhà cùng những chiếc ống khói cao, các dãy nhà ở tập thể và nhà kho hiện lên sắc nét trên nền không khí ẩm ướt. Vì là ngày nghỉ lễ nên công nhân không phải làm việc, các ô cửa sổ đều tối om, chỉ duy nhất một tòa nhà là còn lò luyện đang cháy; hai ô cửa sổ đỏ rực, và ngọn lửa lẫn với làn khói thỉnh thoảng lại bốc lên từ ống khói. Xa xa bên kia khoảng sân, tiếng ếch nhái kêu râm ran và tiếng chim họa mi hót vang.
Nhìn các tòa nhà xưởng và khu nhà tập thể nơi công nhân đang say ngủ, ông lại suy nghĩ những điều vẫn thường nghĩ mỗi khi nhìn thấy một nhà máy. Dù họ có tổ chức biểu diễn cho công nhân xem, có đèn ma thuật, có bác sĩ nhà máy và đủ thứ cải thiện đi chăng nữa, thì xét cho cùng, những người công nhân mà ông gặp trên đường từ ga tàu đến đây ngày hôm nay trông chẳng có gì khác biệt so với những người mà ông từng biết từ thuở thơ ấu, trước khi có các buổi biểu diễn hay những đợt cải thiện ở nhà máy. Là một bác sĩ quen chẩn đoán chính xác các bệnh mãn tính mà nguyên nhân gốc rễ vừa khó hiểu vừa vô phương cứu chữa, ông coi các nhà máy như một thứ gì đó vô phương lý giải, có nguyên nhân cũng vô cùng mờ mịt và không thể gột bỏ, và mọi sự cải thiện trong đời sống của thợ thuyền chẳng qua không phải là điều thừa thãi, mà chỉ có thể ví như việc chữa trị những căn bệnh nan y.
"Quả thực có điều gì đó thật khó hiểu ẩn chứa đằng sau nó..." ông thầm nghĩ khi nhìn vào những ô cửa sổ đỏ rực. "Mười lăm trăm hoặc hai nghìn công nhân đang đầu tắt mặt tối làm việc trong môi trường độc hại, sản xuất ra những thứ vải vóc kém chất lượng, sống bên bờ vực đói nghèo, và chỉ tỉnh mộng khỏi cơn ác mộng ấy trong chốc lát tại mấy quán rượu; một trăm kẻ làm quản đốc, và toàn bộ cuộc sống của một trăm con người ấy trôi qua trong việc phạt vạ, chửi bới, bất công, để rồi chỉ có hai hay ba kẻ được gọi là chủ xưởng hưởng trọn lợi nhuận, dẫu chúng chẳng thèm động tay động chân và khinh miệt cả thứ vải bông khốn nạn kia. Nhưng lợi nhuận là gì, và chúng hưởng thụ nó ra sao? Bà Lyalikov cùng con gái đang bất hạnh – nhìn họ là thấy chạnh lòng; người duy nhất tận hưởng cuộc sống lại là Christina Dmitryevna, một ả gái già ngốc nghếch đeo kính gọng kẹp. Và thế là hóa ra cả năm khối nhà đồ sộ này hoạt động hết công suất, vải bông tồi tệ được bán ra các thị trường phương Đông, đơn giản chỉ để cho Christina Dmitryevna có cá tầm mà ăn và rượu Madeira mà uống."
Bỗng vang lên một thứ âm thanh kỳ lạ, chính là thứ âm thanh mà Korolyov đã nghe thấy trước bữa tối. Ai đó đang gõ vào một tấm kim loại gần một trong các tòa nhà; hắn gõ một nhịp, rồi lập tức chặn sự rung động lại, tạo ra những âm thanh ngắn, cụt lủn và lạc điệu, nghe tựa như "Dair... dair... dair...". Rồi nửa phút tĩnh lặng trôi qua, từ một tòa nhà khác lại phát ra những âm thanh cũng cụt lủn và khó chịu không kém, với âm vực trầm hơn: "Drin... drin... drin..." Mười một tiếng. Rõ ràng đó là người gác đêm đánh chuông báo giờ. Gần tòa nhà thứ ba, ông nghe thấy: "Zhuk... zhuk... zhuk...". Cứ thế vang lên ở tất cả các tòa nhà, rồi lan ra sau các dãy nhà tập thể và vượt qua cả cổng ra vào. Và giữa màn đêm tĩnh lặng, những âm thanh ấy tựa hồ được phát ra từ một con quái vật có đôi mắt đỏ rực – chính là con quỷ dữ, kẻ đang thao túng cả chủ lẫn thợ và lừa phỉnh tất cả bọn họ.
Korolyov rời khỏi khoảng sân bước ra vùng đất trống bên ngoài.
"Ai đấy?" một giọng nói cụt lủn vang lên hỏi ông ở cổng.
"Cứ như thể đang ở trong tù ấy," ông thầm nghĩ và chẳng thèm đáp lời.
Ở đây có thể nghe rõ hơn tiếng chim họa mi và tiếng ếch kêu, và người ta có thể cảm nhận rõ đây là một đêm tháng Năm. Từ phía nhà ga vọng lại tiếng tàu chạy; đâu đó đằng xa, những chú gà trống đang ngái ngủ cất tiếng gáy; nhưng dẫu vậy, đêm vẫn tĩnh mịch, vạn vật đang chìm trong giấc ngủ bình yên. Trên cánh đồng cách nhà máy không xa, người ta có thể nhìn thấy khung của một ngôi nhà đang xây dở cùng những đống vật liệu xây dựng.
Korolyov ngồi xuống những tấm ván và tiếp tục chìm đắm trong suy tư.
"Kẻ duy nhất cảm thấy hạnh phúc ở đây chính là cô gia sư, còn thợ thuyền thì đang bán mạng vì sự thỏa mãn của ả ta mà thôi. Nhưng đó chỉ là bề nổi: ả ta thực chất chỉ là bù nhìn. Kẻ thực sự, kẻ mà vì hắn mọi thứ đang được vận hành, chính là con quỷ dữ."
Và ông nghĩ về con quỷ dữ, một sinh vật mà ông chẳng hề tin tưởng, rồi đảo mắt nhìn về phía hai ô cửa sổ nơi những đốm lửa đang hắt sáng. Ông có cảm giác như từ đôi mắt đỏ rực ấy, chính con quỷ dữ đang nhìn ông – thứ thế lực vô hình đã tạo nên mối quan hệ tương hỗ giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, thứ sai lầm thô thiển mà chẳng tài nào sửa chữa nổi. Kẻ mạnh phải cản trở kẻ yếu sinh tồn – đó là quy luật của Tự nhiên; nhưng chỉ khi nằm trên các bài báo hay sách giáo khoa thì điều đó mới dễ hiểu và dễ bề chấp nhận. Còn trong cái mớ hỗn độn đời thường, trong chằng chịt những thứ vụn vặt dệt nên mối quan hệ giữa người với người, nó không còn là quy luật nữa, mà trở thành một sự phi lý ngớ ngẩn về mặt logic, khi cả kẻ mạnh lẫn kẻ yếu đều đồng thời là nạn nhân của mối quan hệ tương hỗ ấy, miễn cưỡng cúi đầu trước một thứ lực lượng điều khiển vô danh nào đó, tồn tại ngoài đời sống, tách biệt khỏi con người.
Korolyov nghĩ ngợi, ngồi trên những tấm ván, và dần dà ông bị bao trùm bởi cảm giác rằng thứ lực lượng vô danh và huyền bí ấy thực sự đang ở rất gần và dõi theo ông. Trong khi đó, phương đông đang dần ửng sáng, thời gian trôi đi vùn vụt; khi xung quanh không một bóng người, tựa như vạn vật đã chết, năm tòa nhà và những chiếc ống khói nổi bật trên nền xám của buổi bình minh mang một vẻ kỳ lạ – khác hẳn ban ngày; người ta hoàn toàn quên mất rằng bên trong đó có máy hơi nước, có điện, có điện thoại, mà cứ đinh ninh nghĩ đến những ngôi nhà trên hồ thời đồ đá, cảm nhận sự hiện diện của một thứ lực lượng thô sơ, vô thức...
Và một lần nữa âm thanh ấy lại vang lên: "Dair... dair... dair... dair..." mười hai tiếng. Rồi tĩnh lặng, tĩnh lặng trong nửa phút, và ở đầu bên kia khoảng sân vang lên:
"Drin... drin... drin..."
"Ghê tởm thật đấy," Korolyov thầm nghĩ.
"Zhuk... zhuk..." từ một hướng thứ ba vang lên, cụt lủn, sắc bén, như thể đầy bực bội – "Zhuk... zhuk..."
Và phải mất bốn phút để gõ xong mười hai tiếng chuông. Rồi mọi thứ chìm vào yên lặng; và người ta lại có cảm giác như vạn vật đã chết.
Korolyov ngồi thêm lát nữa rồi quay lại nhà, nhưng vẫn trằn trọc thức rất lâu sau đó. Ở những căn phòng bên cạnh có tiếng thì thầm, tiếng lê dép sột soạt và tiếng bước chân trần.
"Lại lên cơn nữa à?" Korolyov nghĩ bụng.
Ông bước ra để xem tình hình bệnh nhân thế nào. Lúc này trong phòng trời đã hửng sáng, một vệt nắng mờ ảo xuyên qua lớp sương mai đang lấp lánh trên sàn nhà và bức tường phòng khách. Cửa phòng Liza đang mở, cô đang ngồi trên chiếc ghế bành thấp cạnh giường, tóc xõa tung, mặc áo choàng tắm và quấn khăn choàng. Các tấm rèm che cửa sổ đều đang kéo xuống.
"Cô thấy thế nào rồi?" Korolyov hỏi.
"Dạ, cảm ơn bác sĩ, tôi đỡ nhiều rồi."
Ông bắt mạch cho cô, rồi vén lại lọn tóc xõa xuống trán cô.
"Cô chưa ngủ à," ông nói. "Ngoài trời thời tiết đẹp lắm. Mùa xuân rồi. Chim họa mi đang hót, thế mà cô lại ngồi trong phòng tối rồi suy nghĩ vẫn vơ điều gì."
Cô lắng nghe và nhìn thẳng vào mặt ông; đôi mắt cô đượm buồn và thông minh, rõ ràng là cô đang muốn nói với ông điều gì đó.
"Chuyện này hay xảy ra lắm sao?" ông hỏi.
Cô mấp máy môi, rồi đáp:
"Thường xuyên lắm, hầu như đêm nào tôi cũng cảm thấy dằn vặt."
Đúng lúc ấy, người gác đêm ngoài sân bắt đầu điểm hai giờ. Âm thanh "Dair... dair..." vang lên và cô giật mình thon thót.
"Những tiếng gõ đó làm cô khó chịu à?" ông hỏi.
"Tôi cũng không rõ nữa. Mọi thứ ở đây đều làm tôi khó chịu," cô đáp, rồi trầm ngâm. "Mọi thứ đều bóp nghẹt tôi. Tôi nghe thấy sự đồng cảm trong giọng nói của bác sĩ; ngay từ phút đầu gặp ngài, tôi đã có cảm giác mình có thể giãi bày tất cả mọi chuyện."
"Xin cô cứ nói đi, tôi đang lắng nghe."
Và cô nở một nụ cười ngượng ngùng: "Tôi muốn bày tỏ suy nghĩ của mình. Dường như tôi không hề có bệnh, mà chỉ là tôi đang kiệt sức và sợ hãi, bởi vì mọi chuyện vốn dĩ phải thế và không thể khác đi được. Ngay cả một kẻ khỏe mạnh nhất cũng không thể tránh khỏi lo lắng nếu, ví dụ như có một tên cướp đang lảng vảng dưới cửa sổ nhà hắn. Tôi cứ liên tục bị bắt uống thuốc," cô nói tiếp, nhìn xuống đôi gối của mình.
"Tôi tất nhiên vô cùng biết ơn, và không phủ nhận rằng việc điều trị mang lại những lợi ích nhất định; nhưng tôi chỉ muốn được trò chuyện, không phải với một vị bác sĩ, mà với một người tri kỷ – người sẽ thấu hiểu tôi và thuyết phục tôi rằng tôi đúng hay sai."
"Cô không có bạn bè nào sao?" Korolyov hỏi.
"Tôi cô độc lắm. Tôi có mẹ; tôi rất yêu mẹ, nhưng suy cho cùng, tôi vẫn cô đơn. Mọi chuyện cứ thế diễn ra... Những kẻ cô độc thường đọc rất ít, à không, đọc rất nhiều nhưng nói lại ít và nghe cũng chẳng bao nhiêu. Cuộc đời đối với họ là một ẩn số; họ là những kẻ mộng mơ và thường nhìn thấy quỷ dữ ở những nơi chẳng có quỷ. Nàng Tamara trong thơ Lermontov cũng cô độc và nàng đã nhìn thấy quỷ."
"Cô đọc sách nhiều lắm à?"
"Vâng. Bác sĩ thấy đấy, thời gian của tôi rảnh rỗi từ sáng đến tối mịt. Ban ngày tôi đọc sách, còn ban đêm đầu óc tôi trống rỗng; thay vì những suy nghĩ thì chỉ toàn những bóng ma hiện về."
"Ban đêm cô có nhìn thấy gì không?" Korolyov hỏi.
"Không, nhưng tôi cảm nhận được..."
Cô lại mỉm cười, ngước đôi mắt nhìn bác sĩ đầy vẻ u sầu và thông minh; và ông có cảm giác rằng cô đặt trọn niềm tin nơi ông, rằng cô muốn bộc bạch thành thật với ông, và cô cũng có chung suy nghĩ với ông. Nhưng cô lại im lặng, có lẽ đang chờ đợi ông cất lời.
Và ông biết phải nói gì với cô. Ông hiểu rõ rằng việc cô cần làm cấp bách nhất là từ bỏ năm tòa nhà kia cùng khối tài sản kếch xù nếu có – để rời xa con thứ quỷ dữ hay nấp nhìn vào ban đêm; ông cũng hiểu rõ rằng chính cô cũng nghĩ vậy, và chỉ đang chờ đợi sự khẳng định từ một người mà cô tin tưởng.
Nhưng ông lại không biết phải mở lời thế nào. Bằng cách nào đây? Người ta thường ngại ngùng khi hỏi những kẻ đang mang án tử rằng chúng bị phán án vì tội gì; và tương tự như vậy, thật khó xử khi hỏi những kẻ cực kỳ giàu có xem chúng cần lắm tiền để làm gì, tại sao chúng lại sử dụng sự giàu có ấy một cách nghèo nàn đến thế, tại sao chúng không buông bỏ nó đi, ngay cả khi chúng nhận ra chính thứ đó mang lại bất hạnh cho mình; và nếu tự chúng khơi mơi câu chuyện đó, thì thường sẽ rất ngượng ngùng, khó xử và lê thê.
"Biết nói sao đây nhỉ?" Korolyov tự hỏi. "Và liệu có cần thiết phải nói ra không?"
Và rồi ông vòng vo tam quốc nói lên những suy nghĩ của mình:
"Cô ở cương vị của một chủ xưởng và là người thừa kế giàu có nên cảm thấy bất mãn; cô không tin vào quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với những thứ đó; và kết quả là giờ đây cô không thể ngủ được. Điều đó, tất nhiên, còn tốt chán so với việc cô mãn nguyện, ngủ say như chết và nghĩ rằng mọi thứ đều hoàn hảo. Chứng mất ngủ của cô cho thấy cô vẫn còn lương tri; dẫu sao thì đó cũng là một dấu hiệu tích cực. Thực tế mà nói, một cuộc trò chuyện thế này giữa tôi và cô lúc này là điều không thể tưởng tượng nổi đối với thế hệ cha mẹ chúng ta. Đêm xuống họ chẳng nói năng gì mà chỉ lăn ra ngủ say; còn thế hệ chúng ta thì ngủ chập chờn, bứt rứt, nhưng lại nói rất nhiều, và lúc nào cũng cố gắng phân định xem mình đúng hay sai. Đối với con cái hay cháu chắt chúng ta, câu hỏi đó – liệu chúng đúng hay sai – sẽ được giải quyết rốt ráo. Mọi thứ sẽ rõ ràng đối với chúng hơn là đối với chúng ta. Cuộc sống năm mươi năm sau sẽ vô cùng tốt đẹp; chỉ tiếc là chúng ta không sống nổi đến lúc đó để mà chứng kiến. Thật thú vị biết bao nếu được ngó qua một cái."
"Con cháu chúng ta sẽ làm gì cơ chứ?" Liza hỏi.
"Tôi chịu... Chắc chúng sẽ vứt xách tất cả mọi thứ đi và bỏ đi nơi khác."
"Đi đâu cơ chứ?"
"Đi đâu á?... Thì đi đến nơi nào chúng muốn," Korolyov đáp và bật cười. "Có vô số nơi mà một con người tử tế, thông minh có thể đặt chân tới."
Ông liếc nhìn đồng hồ.
"Mặt trời mọc rồi kìa," ông nói. "Đến lúc cô phải đi ngủ rồi đấy. Hãy thay đồ và ngủ một giấc thật ngon nhé. Rất vui vì được làm quen với cô," ông vừa nói vừa xiết chặt tay cô. "Cô là một người phụ nữ tốt và thú vị. Chúc cô ngủ ngon!"
Ông bước về phòng mình và lên giường nằm.
Buổi sáng, khi cỗ xe ngựa được đánh tới, tất cả mọi người đều ra bậc thềm tiễn ông. Liza, với dáng vẻ nhợt nhạt và phờ phạc, diện chiếc áo trắng tựa như đang trong ngày lễ, gài một bông hoa trên mái tóc; cô nhìn ông, vẫn ánh nhìn u sầu và thông minh như hôm qua, mỉm cười và trò chuyện, và tất cả toát lên vẻ mặt như thể cô muốn thì thầm với ông điều gì đó đặc biệt, quan trọng lắm – chỉ riêng với một mình ông mà thôi. Người ta có thể nghe thấy tiếng chim sơn ca hót lảnh lót và tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Những ô cửa sổ trong các tòa nhà xưởng đang lấp lánh vui tươi, và khi cỗ xe lăn bánh qua khoảng sân rồi tiếp tục hành trình trên con đường ra ga, Korolyov chẳng còn tơ tưởng gì đến công nhân, đến những ngôi nhà trên hồ hay đến con quỷ dữ nữa, mà chỉ nghĩ đến tương lai, có lẽ chẳng còn xa nữa, khi cuộc sống sẽ rực rỡ và ngập tràn niềm vui sướng giống hệt buổi sáng Chủ nhật thanh bình ấy; và ông nghĩ thật tuyệt vời biết bao trong một buổi sáng mùa xuân như thế khi được ngồi trên cỗ xe ngựa tốt với ba con ngựa phi nước đại, và đắm mình dưới ánh ban mai ấm áp.