Mike Rogan không bao giờ quên chuyện gì. Ở tuổi lên năm cậu kể lại với mẹ từng chi tiết những gì đã xảy ra cho mình ba năm trước đó khi, mới lên hai, cậu đã bị viêm phổi nặng. Cậu nói với mẹ tên của bệnh viện, điều mà chính mẹ cậu cũng không còn nhớ; cậu mô tả ông bác sĩ nhi khoa của bệnh viện, một người đàn ông xấu xí cực kỳ nhưng lại có một cách tiếp cận trẻ con thật kỳ diệu. Ông bác sĩ nhi này còn để cho các cháu bé đùa nghịch với cái cục u hình ngôi sao nơi cằm mình, nó làm biến dạng khuôn mặt ông, để cho chúng không còn thấy sợ cục u đó nữa. Michael Rogan còn nhớ mình đã cố kéo rời cục u đó ra và ông bác sĩ làm bộ la “úi dza!” một cách hài hước.
Mẹ chàng ngạc nhiên sửng sốt và có hơi e sợ đối với ký tính phi thường của Michael nhưng cha chàng thì sung sướng vô cùng. Joseph Rogan là một viên thư ký kế toán cần cù chịu khó và ông có những viễn tượng về cậu con sẽ trở thành một Giám định viên Kế toán Quốc gia trước khi đến tuổi hai mươi mốt và như vậy sẽ có một cuộc sống khá giả hơn chính vợ chồng ông bây giờ rất nhiều. Hoài bão của ông chỉ mới đến thế thôi, chưa đi xa hơn cho đến khi cậu bé Michael Rogan từ nhà trẻ trở về nhà với một bức thư ngắn của cô giáo. Bức thư thông báo cho cả nhà Rogan, cha mẹ và cậu con nên đến văn phòng thầy Hiệu trưởng vào ngày hôm sau để bàn về tương lai chuyện học hành của Michael.
Cuộc trao đổi diễn ra ngắn gọn và đi ngay vào trọng điểm. Michael không thể tiếp tục ở nhà trẻ với những đứa trẻ khác. Cậu bé là một ảnh hưởng gây rối. Cậu “sửa lưng” cô giáo khi cô bỏ sót một vài chi tiết trong câu truyện cô đang kể. Cậu đã biết đọc và biết viết. Nên gửi cậu đến một trường đặc biệt hoặc nên cho cậu lên những lớp cao hơn, ngay bây giờ. Bố mẹ cậu quyết định gửi cậu đến một trường đặc biệt.
Ở tuổi lên chín, khi những đứa trẻ khác còn chạy nhảy nơi đường phố để chơi bóng chày hay bóng đá, thì Michael Rogan rời nhà, mang theo cái cặp da xịn có những chữ đầu của tên họ cậu và địa chỉ nhà cậu gắn lên đó bằng chữ mạ vàng. Bên trong cặp là bản văn của khóa học mà cậu đang học trong tuần đó. Hiếm khi cậu phải mất hơn một tuần để nắm vững chương trình một môn học thường đòi hỏi phải cả năm. Cậu chỉ cần đọc các bản văn một lần là thuộc và nhớ mãi. Và cũng là tự nhiên thôi khi một đứa trẻ như vậy bị hàng xóm láng giềng nhìn như một hiện tượng quái dị, khác thường.
Ngày nọ, một nhóm trẻ con cùng lứa tuổi vây quanh Michael Rogan. Một đứa trong bọn, một cậu bé tóc vàng thấp bè bè mà chắc nịch, nói với cậu,” Ê này, bạn không bao giờ chơi đùa sao?” Rogan chẳng trả lời trả vốn gì cả. Cậu bé tóc vàng vẫn tỉnh queo, “Bạn có thể chơi theo phe mình. Chúng ta chơi bóng đá, nhá?”
“Được rồi,” Michael hưởng ứng. ”Chơi thì chơi.”
Hôm đó là một ngày vẻ vang cho cậu. Cậu nhận ra rằng mình có tố chất thể lực tốt và rằng mình có thể chơi bóng đá ngon lành hoặc đánh đấm ra trò với những đứa trẻ khác. Cậu trở về nhà cho bữa ăn tối với chiếc cặp da đắc tiền dính đầy bùn. Cậu cũng có một con mắt bị thâm tím và đôi môi sưng vều, chảy máu. Nhưng cậu rất tự hào và rất vui sướng đến nỗi cậu vừa chạy đến với mẹ vừa la to,” Con sắp sửa vào đội bóng đá! Các bạn đã tuyển con vào đội bóng đá!”
Alice Rogan nhìn vào khuôn mặt bầm dập của cậu con và òa ra khóc!
Bà cố giữ bình tĩnh. Bà giải thích cho cậu con rằng óc não của cậu rất quí giá, rằng cậu đừng bao giờ để nó chịu bất kỳ nguy cơ nào. ”Con có một bộ óc phi thường, Michael à,” bà nói. ”Bộ óc của con mai sau sẽ giúp ích rất nhiều cho nhân loại. Con không thể như những đứa trẻ khác. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như con làm tổn thương cái đầu con với việc chơi bóng đá? Hay đánh nhau với những đứa trẻ khác?”
Michael lắng nghe và thấu hiểu. Khi bố cậu về nhà buổi chiều hôm ấy thì hầu như ông cũng nói cùng điều đó. Thế là Michael bỏ đi mọi ý nghĩ sống giống như những đứa trẻ bình thường. Cậu có cả một kho báu phải gìn giữ cho nhân loại. Phải chi cậu trưởng thành hơn một chút cậu đã nhận ra rằng ông via bà via của mình đã thổi phồng quá đáng và “hơi bị” buồn cười về cái kho báu nơi mình, thế nhưng cậu chưa đủ chín chắn để có kiểu nhận thức đúng đắn như thế.
Khi cậu lên mười ba những đứa trẻ khác bắt đầu làm nhục cậu, chế diễu cậu, giật lấy cái cặp da khỏi tay cậu và ném qua ném lại chơi. Michael Rogan, vâng lời cha mẹ, từ chối chuyện đánh nhau và cam chịu sự làm nhục. Nhưng rồi chính cha cậu bắt đầu nghi ngờ về chuyện phải giáo dục con mình như thế nào.
Một hôm Joseph Rogan mang về nhà những đôi găng tay đánh bốc to đùng và dạy cho cậu con nghệ thuật tự vệ. Joseph bảo con phải tự bảo vệ mình và hãy chiến đấu nếu cần thiết. ”Con phải làm một người đàn ông sống hiên ngang,” ông nói, “điều đó còn quan trọng hơn là làm một thiên tài.”
Chính trong năm lên mười ba mà Michael Rogan khám phá mình khác với những đứa trẻ bình thường khác theo một cách khác. Bố mẹ cậu vẫn luôn bảo cậu ăn mặc tươm tất và theo kiểu người trưởng thành bởi vì phần lớn thời gian cậu học tập cùng với những người lớn hơn cậu đến những bốn, năm tuổi. Ngày nọ một nhóm con trai vây quanh Rogan và nói rằng chúng sắp tuột quần cậu và treo lên trên trụ đèn, một kiểu chịu sỉ nhục rất thường thấy mà phần lớn các cậu trai đều phải có lần đoạn trường ai có qua cầu.
Rogan giận điên lên khi bọn chúng bấu tay lên người cậu. Cậu nghiến răng cắn vào tai một đứa trong bọn và dứt ra một phần cái tai, lìa khỏi đầu đứa đó. Cậu chộp tay vào cổ đứa đầu têu và dùng hết sức bóp cổ nó mặc cho những đứa khác đấm đá cậu tưng bừng để buộc cậu phải thả đứa kia ra. Khi cuối cùng có mấy người lớn đến giải tán đám đánh nhau thì ba đứa trong bọn và Rogan đều phải vào nhà thương.
Nhưng từ đó chẳng còn ma nào dám bắt nạt cậu nữa. Chúng kiềng mặt cậu, không chỉ như một đứa kỳ dị mà như một đứa kỳ dị rất hung hăng.
Michael Rogan đủ thông minh để biết rằng cơn giận như điên đó của mình là không tự nhiên, rằng nó phun trào lên từ một suối nguồn nào đó sâu xa hơn. Và chàng đã lần ra nó là gì. Chàng đang hưởng thành quả từ ký tính phi thường của mình, từ những năng lực trí tuệ xuất sắc của mình mà không phải làm bất kỳ điều gì để xứng đáng với chúng và chàng cảm thấy có lỗi về chuyện đó. Chàng bộc lộ những cảm nghĩ của mình cho bố nghe, ông hiểu và bắt đầu vạch ra những kế hoạch để Michael sống một cuộc đời bình thường hơn. Bất hạnh thay là Joseph Rogan lại chết vì một cơn đột quị tim trước khi có thể giúp cho con mình.
Michael Rogan, lên tuổi mười lăm, cao lớn, khỏe mạnh và có cấu tạo thể hình tốt. Giờ đây chàng đang thâu thái kiến thức trên những trình độ cao; và dưới sự thống trị hoàn toàn của bà mẹ, chàng thật sự tin rằng trí tuệ của mình là một tín thác thiêng liêng (a sacred trust) cần được trân trọng gìn giữ để mai sau phụng sự cho nhân loại. Vào thời kỳ đó chàng đã tốt nghiệp Thạc sĩ Văn học và đang nghiên cứu làm Luận văn để lấy Thạc sĩ Khoa học. Mẹ chàng sùng mộ chàng như một vị vua đang trị vì. Cùng năm đó Michael Rogan khám phá ...các cô nàng.
Về cái khuỷnh này thì chàng hoàn toàn bình thường. Nhưng chàng lấy làm phiền lòng mà nhận ra rằng các cô gái e sợ chàng và đối xử với chàng với sự độc ác bỡn cợt của tuổi teen. Chàng chín muồi về phương diện trí thức đến độ, một lần nữa, chàng lại bị nhìn như một kẻ kỳ dị bởi bạn bè đồng trang lứaĐiều này lại khiến chàng quay về với những học hành nghiên cứu của mình một cách mê cuồng để quên đi nỗi bực dọc với những người chung quanh.
Đến tuổi mười tám chàng thấy mình được chấp nhận như một kẻ đồng đẳng, bằng vai phải lứa, bởi những vị huynh trưởng và những sinh viên đã tốt nghiệp ở trường Ivy League khi chàng đang hoàn tất những nghiên cứu để lấy bằng Tiến sĩ Toán học. Giờ đây các cô gái dường như cũng bị lôi cuốn về phía chàng. Lớn con so với tuổi của mình, chàng là kẻ thân dài vai rộng và người khác dễ dàng tưởng là chàng đã hai mươi hai hay hai mươi ba. Chàng tìm cách ngụy trang sự ưu việt của mình để nó không có vẻ dọa nạt quá đáng đối với người khác, và cuối cùng rồi chàng cũng kéo được một em xinh đẹp lên giường để ... ”gài độ” mây mưa.
Em Marian Hawkins này là một nàng tóc vàng học hành giỏi giang nhưng cũng không từ chối những cuộc vui suốt sáng trận cười thâu đêm. Nàng là “đối tác tình dục kiên định” của chàng trong năm học ấy. Biết nếm mùi đời, chàng Rogan bắt đầu hơi bê trễ chuyện học hành, rượu bia hơi nhiều và phạm mọi chuyện hư đốn tự nhiên của một chàng trai bình thường đang lớn. Mẹ chàng tỏ vẻ buồn lo trước khúc quanh của những biến cố này nhưng Rogan không để cho sự buồn lo của mẹ làm bận lòng chàng, vẫn cứ vô tư làm những gì mình thích. Mặc dầu sẽ không bao giờ chàng chịu thừa nhận điều ấy với chính lòng mình, nhưng thực sự thì chàng không ưa bà mẹ cho lắm.
* *
Quân Nhật bất ngờ tấn công Trân châu Cảng (Pearl Harbor) vào đúng cái ngày chàng Rogan bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ. Lúc này Rogan đã ngán em Marian Hawkins – vì đã ăn nhiều quá nên bị bội thực - và chàng đang tìm một lối thoát đẹp. Chàng chán việc đào luyện trí tuệ và chàng cũng chán bà via của mình. Chàng thèm khát sự kích thích của phiêu lưu mạo hiểm. Ngày hôm sau sự kiện Trân châu Cảng chàng ngồi xuống và viết một bức thư dài cho vị Chỉ huy Tình báo Quân đội. Chàng ghi ra một danh sách đầy đủ những thành tích học tập của mình và đính kèm những bản sao các văn bằng với bức thư. Chưa đầy một tuần sau chàng nhận được điện tín từ Washington yêu cầu chàng trình diện cho một cuộc phỏng vấn.
Cuộc phỏng vấn là một trong những thời khắc vẻ vang của đời chàng. Chàng được sát hạch bởi một viên Đại úy Tình báo đầu tóc cắt rất ngắn. Anh ta liếc qua danh sách mà Rogan đã gửi đến với vẻ uể oải. Có vẻ như anh ta chẳng thấy ấn tượng gì, nhất là khi anh ta được biết rằng Rogan không có thành tích gì về hoạt động thể thao.
Đại úy Alexander nhét bộ hồ sơ giấy tờ của Rogan vào lại một bìa kẹp bằng giấy cứng và mang vào văn phòng bên trong. Anh ta đi một lác và khi trở lại anh ta cầm trong tay một tờ giấy in roneo. Anh ta đặt tờ giấy xuống bàn, trước mặt mình và dùng cây bút chì gõ gõ vào tờ giấy. ”Tờ giấy này ghi đầy một thông điệp mã hóa. Đó là một loại mật mã cũ, đã quá “đát” chúng tôi không còn sử dụng nữa. Nhưng tôi muốn thử xem anh bạn có thể hình dung ra được không. Đừng ngạc nhiên nếu như bạn thấy nó quá khó; dầu sao thì bạn cũng đâu đã được huấn luyện chuyên môn. ”Anh ta chí tờ giấy cho Rogan.
Rogan liếc nhìn qua tờ giấy. Có vẻ là một kiểu thay thế cho chữ mã hóa tiêu chuẩn, tương đối đơn giản. Rogan từng mày mò tự học phép viết mật mã và lý thuyết các loại mã khi mới mười một tuổi, như một trò chơi trí tuệ. Chàng cầm cây bút chì lên và làm việc, và chỉ trong vòng năm phút chàng đọc bức thông điệp được dịch ra cho Đại úy Alexander.
Viên đại úy biến đi vào một phòng khác và quay lại với một bìa kẹp hồ sơ từ đó anh ta rút ra một tờ giấy chỉ ghi có hai đoạn văn. Đây là một loại mã khó hơn và sự ngắn gọn của nó càng làm cho việc giải mã gặp khó khăn hơn. Rogan phải mất gần cả tiếng đồng hồ để bẻ khóa. Đại úy Alexander nhìn bản dịch của chàng và lại biến đi vào văn phòng bên trong. Anh ta trở ra cùng với một viên đại tá tóc xám, ông này ngồi nơi một góc của phòng tiếp tân và chiếu tướng kỹ Rogan.
Bây giờ Đại úy Alexander trao cho Rogan ba tờ giấy đầy những biểu tượng. Lần này anh ta thoáng cười nhẹ. Rogan nhận ra nụ cười đó; chàng từng thấy kiểu cười ấy trên khuôn mặt của các thầy giáo và các chuyên gia khi họ nghĩ họ đã đưa chàng vào tình huống nan giải. Thế nên chàng rất thận trọng với mật mã đó và chàng phải mất đến ba tiếng đồng hồ mới bẻ khóa được. Chàng tập trung cao độ vào công việc đến nỗi chàng không để ý căn phòng đầy dần các sĩ quan, tất cả đều đang chú mục vào chàng. Khi Rogan kết thúc, chàng trao mấy tờ giấy làm bài cho viên đại úy. Đại úy Alexander liếc nhanh qua bản dịch và không một lời nào, trao nó lại cho viên đại tá tóc xám. Viên đại tá nhìn xuống tờ giấy và rồi nói vắn tắt với viên đại úy,” Dẫn anh chàng ấy vào phòng tôi.”
Với Rogan, toàn bộ chuyện này là một bài tập hứng thú, và chàng hơi sững lại khi thấy viên đại tá trông có vẻ bối rối. Điều đầu tiên mà ông nói với Rogan là,” Bạn đã biến ngày hôm nay thành một ngày khó ở cho tôi đấy, bạn trẻ ạ.”
“Tôi xin lỗi,” Rogan lịch sự đáp lời. Thật ra chàng đâu có làm gì sai.
“Không phải lỗi của anh bạn,” viên đại tá làu bàu. “Không ai trong chúng tôi nghĩ là bạn có thể bẻ khóa mật mã cuối. Đó là một trong những mã tốt nhất của chúng tôi và giờ đây vì bạn đã biết nó chúng tôi sẽ phải đổi mã khác. Sau khi chúng tôi thanh tra nhân thân bạn và chấp nhận bạn vào làm việc thì có lẽ chúng tôi mới sử dụng lại bộ mã đó.”
Rogan nói giọng nghi ngờ,” Đại tá muốn nói mọi bộ mã đều dễ thế sao?”
Ông ta đáp với giọng khô khan,” Với anh thì chúng dễ, hẳn thế. Nhưng với bất kỳ ai khác thì chúng đều khó cả. Anh sẵn sàng nhập ngũ chưa?”
Rogan gật đầu. ”Ngay từ phút này, thưa Đại tá.”
Viên đại tá nhíu mày. ”Ồ, không đơn giản như thế. Bạn phải được thanh lọc về an ninh. Và cho đến khi bạn được làm sáng tỏ, chúng tôi phải tạm giữ bạn. Bạn đã biết quá nhiều nên không thể thả lõng bạn được. Nhưng đó chỉ là thủ tục thôi.”
Thủ tục được chứng tỏ là một nhà tù của Cục Tình báo, một nơi kiên cố và nghiêm ngặt đến độ nhà tù nổi tiếng Alcatraz so ra mới chỉ là một trại hè! Nhưng đối với Rogan thì cách đối xử này chẳng phải là tiêu biểu cho thái độ của cánh tình báo. Một tuần lễ sau chàng tuyên thệ nhập ngũ với chức trung úy. Ba tháng sau chàng phụ trách phiên hiệu chịu trách nhiệm bẻ khóa mọi mật mã châu Âu., trừ Nga. Mật mã của Nga do phiên hiệu châu Á chịu trách nhiệm.
Chàng cảm thấy hạnh phúc. Lần đầu tiên trong đời chàng đang làm chuyện gì đó đầy kịch tính và hào hứng. Ký tính của chàng, trí tuệ xuất sắc đến mức hoang đường của chàng đang góp phần giúp cho đất nước chàng thắng một cuộc chiến lớn. Và chàng đang được khối cô gái trẻ ở thủ đô Washington mê mệt vì tài năng quá vượt trội của mìnhVà chẳng bao lâu chàng được đặc cách thăng chức. Đời còn gì đẹp hơn. Nhưng đến năm 1943 chàng bắt đầu cảm thấy có tội trở lại. Chàng nghĩ rằng mình đang dùng khả năng trí tuệ để tránh né việc phải ra tiền tuyến, và chàng tình nguyện qua phiên hiệu tình báo chiến trường. Nhưng lời yêu cầu của chàng bị bác bỏ; bởi chàng quá có giá để đem phí phạm vào nơi nguy hiểm.
Chính lúc đó chàng nghĩ ra ý tưởng biến mình thành một bảng mã di động (a walking code switchboard) để điều phối cuộc đổ bộ lên nước Pháp từ bên trong xứ sở này. Chàng chuẩn bị kế hoạch tỉ mỉ đến từng chi tiết; kế hoạch thật xuất sắc và các thủ trưởng đồng ý duyệt. Và thế là Đại úy Rogan, viên sĩ quan tình báo thượng thặng, được bí mật thả dù xuống đất Pháp.
Chàng tự hào về bản thân, và chàng biết rằng hương hồn bố mình hẳn là cũng lấy làm tự hào về những gì chàng đang làm. Nhưng mẹ chàng khóc lóc than trách vì chàng đang làm cho bộ não chàng phải chịu hiểm nguy, cái bộ não thần kỳ mà họ đã bảo bọc nuôi dưỡng biết bao lâu. Rogan chỉ nhứn vai. Chàng vẫn chưa làm nên điều gì kỳ diệu với bộ não của mình. Có lẽ sau chiến tranh chàng sẽ phát hiện được hứng thú thực sự và xác lập thiên tài đích thực của mình. Nhưng chàng đã học khá đủ để biết rằng trí thông minh ở dạng thô cần có nhiều năm rèn luyện để phát triển thích hợp. Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh, Gió reo khúc nhạc thanh bình chàng sẽ còn đủ thời gian để làm việc đó mà. Còn bây giờ thiên hạ đại loạn thì người hào kiệt phải lo cứu nạn lớn lập công to, phải “ Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao, Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị ào ào gió thu” chứ! Thế nên ngay vào Ngày Đầu Năm Mới, 1944, Đại úy Michael Rogan được bí mật thả dù xuống nước Pháp bị chiếm đóng như là Sĩ quan Chỉ huy Liên lạc của Đồng minh với Quân Kháng chiến Pháp. Chàng đã huấn luyện với các điệp viên Anh quốc, học cách vận hành một đài thu-phát thanh bí mật và mang một viên thuốc tự vẫn nhỏ xíu được phẫu thuật cấy vào lòng bàn tay trái.
Nơi ém quân của chàng là trong nhà của một gia đình người Pháp tên là Charney ở thị xã Vitry-sur-Seine, ngay phía nam Paris. Tại đó Rogan dựng lên mạng lưới giao liên và điềm chỉ và phát đi thông tin mã hóa đến Anh quốc. Có lúc chàng nhận được yêu cầu chuyển qua radio về một số chi tiết cần thiết cho cuộc đổ bộ sắp đến ở châu Âu.
Có vẻ như chàng đang trải qua một cuộc sống thanh bình, yên ắng. Vào những chiều Chủ nhật đẹp trời chàng đi chơi dã ngoại với cô con gái ông chủ nhà, Christine Charney, một cô gái chân tay dài, cử chỉ ngọt ngào, với mái tóc màu hạt dẻ. Cô đang học nhạc ở trường đại học địa phương. Cô và Michael Rogan trở thành người tình của nhau và rồi sau những lần” dỡn chơi chút xíu” ai dè... cô có mang.
Đội mũ bê-rê và trưng ra những giấy chứng minh nhân thân giả mạo Rogan cưới Christine Charney ở tòa thị chính và họ quay về nhà bố mẹ cô để cùng thực hiện công tác bí mật bên nhau.
Khi quân Đồng minh đổ bộ xuống Normandy vào ngày 6 tháng sáu, 1944, Rogan có quá nhiều cuộc điện tín liên lạc khiến chàng trở nên thiếu cảnh giác. Hai tuần lễ sau bọn Mật vụ Gestapo ập vào nhà Charney và bắt hết mọi người trong nhà. Chúng đã mai phục và ra tay đúng lúc. Không những chúng bắt gia đình Charney và Mike Rogan chúng còn tóm được sáu người giao liên kháng chiến đang chờ nhận tin. Trong vòng một tháng tất cả đều bị thẩm vấn, bị tra tấn và rồi bị hành quyết. Tất cả, trừ Michael Rogan và vợ, Christine. Từ việc thẩm vấn những tù nhân khác bọn Đức đã biết được khả năng phi thường của Rogan trong việc ghi nhớ những mật mã rắc rối và chúng muốn dành cho chàng sự quan tâm đặc biệt. Vợ chàng được để cho sống ,” như một ân huệ đặc biệt” Rogan được chúng tươi cười cho biết như thế. Lúc đó nàng đang mang thai năm tháng.
Sáu tuần lễ sau khi bị bắt, Michael Rogan và vợ bị đẩy vào những chiếc xe riêng biệt của bọn Gestapo và chở đến Munich. Nơi quảng trường trung tâm nhộn nhịp của thành phố đó đứng sừng sững Tòa án Munich và tại một trong những tòa nhà pháp đình kia, cuộc thẩm vấn cuối cùng và khủng khiếp nhất đối với Michael Rogan bắt đầu. Cuộc phỏng vấn kéo dài nhiều ngày đến vô tận, nhiều ngày hơn là chàng có thể đếm. Nhưng trong những năm sau đó trí nhớ thần kỳ của chàng đã không buông tha điều gì. Trí nhớ đó lặp lại cơn hấp hối của chàng từng giây từng giây, lặp đi lặp lại mãi. Chàng đã trải qua và đã chịu đựng hàng ngàn cơn ác mộng kinh hoàng. Và những cơn mộng dữ luôn bắt đầu với đội thẩm vấn bảy người chờ chàng trong căn phòng vòm cao của Tòa án Munich – chờ đợi một cách kiên nhẫn và với khiếu hài hước tốt (with good humour) cho cuộc đấu thể thao sẽ đem lại thích thú cho bọn họ.
Tất cả bảy đứa chúng nó đều mang băng tay có hình chữ vạn, nhưng có hai người mang áo thụng khác màu. Từ điểm đó và từ huy hiệu nơi cổ áo, Rogan biết rằng một đứa trong bọn thuộc quân đội Hung-ga-ry còn tên kia trong quân đội Ý. Hai tên này lúc đầu không tham gia vào việc thẩm vấn; chúng là quan sát viên chính thức.
Chỉ huy đội thẩm vấn là một sĩ quan cao dong dỏng, dáng vẻ dân quí tộc, với đôi mắt sâu. Y bảo đảm với Rogan rằng bọn y chỉ muốn những mật mã chứa trong đầu chàng và rồi Rogan và vợ chàng cùng đứa con chưa sinh sẽ được sống. Chúng thay nhau “bổ búa” vào đầu Rogan suốt ngày đầu tiên đó và Rogan vẫn im lặng. Chàng từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào. Thế rồi vào đêm của ngày thứ nhì chàng nghe giọng của Christine la hét cầu cứu ở phòng bên cạnh. Nàng cứ gọi tên chàng,”Michel! Michel!” lặp đi lặp lại mãi. Nàng đang hấp hối. Rogan nhìn vào đôi mắt rực lửa của tay trưởng ban thẩm vấn và thì thầm, “Ngưng lại. Xin ngưng lại. Tôi sẽ khai hết.”
Trong năm ngày tiếp theo chàng nói cho chúng những phức hợp mã xưa cũ đã bỏ đi. Bằng cách nào đó, có lẽ do đối chiếu chúng với những thông điệp bắt được, bọn chúng biết chàng đã dở trò. Ngày tiếp theo chúng ấn chàng ngồi vào ghế còn cả bọn chúng đứng vây quanh thành vòng tròn. Chúng không tra hỏi chàng; chúng không đụng vào người chàng. Tay sĩ quan mặc quân phục Ý biến đi vào một phòng khác. Một lác sau Rogan nghe lại vợ mình la hét trong cơn hấp hối. Sự đau đớn trong tiếng la của nàng vượt quá sức tưởng tượng. Rogan bắt đầu thì thầm rằng chàng sẽ khai hết mọi chuyện, bất kỳ chuyện gì họ muốn biết, nhưng tên trưởng ban thẩm vấn lắc đầu. Tất cả bọn chúng đều đứng yên lặng trong lúc những tiếng la hét xuyên thủng những bức tường và xoáy vào đầu óc họ, cho đến khi Rogan tụt người từ trên ghế xuống sàn nhà, nước mắt ràn rụa, gần như bất tỉnh vì cơn đau. Sau đó chúng kéo lê chàng qua sàn nhà của căn phòng vòm cao để vào phòng kế bên. Tay thẩm vấn trong bộ quân phục Ý ngồi kế bên cái máy ghiphát âm. Cuộn băng màu đen quay tròn phát ra những tiếng la rú của Christine thét lên vang vang khắp Pháp đình.
“Mi chẳng bao gờ chơi lỡm được các ông đâu,” tên đầu sỏ phỏng vấn nói giọng khinh miệt. ”Các ông đây khôn hơn mi nhiều. Vợ mi đã chết vì cực hình ngay trong ngày đầu tiên. ”Rogan quan sát thật kỹ những gương mặt ác quỉ này. Nếu chúng để chàng sống thế nào một ngày kia chàng cũng sẽ giết sạch bọn chúng, không để sót mống nào.
Chỉ sau đó chàng mới nhận ra đấy chính là phản ứng mà chúng muốn. Chúng hứa sẽ để chàng sống nếu chàng giao cho chúng những mật mã đúng. Và trong cơn khao khát trả thù, chàng đã làm thế. Trong hai tuần tiếp theo chàng đã cho chúng những mã sau cùng mà chàng biết và giải thích cách chúng vận hành. Nhưng chàng nghĩ rằng từ khi chàng bị bắt thì bộ chỉ huy cũng đã biết và chắc là họ đã thay các bộ mã khác rồi. Chàng được trả về phòng biệt giam hình như là thêm mấy tháng nữa. Mỗi tuần một lần chàng lại được đưa lên căn phòng vòm cao để bảy người kia thẩm vấn mà dần dần chàng nhận ra rằng chuyện đó thuần túy chỉ còn là một thủ tục thường lệ. Không có cách nào để Rogan biết được rằng trong những tháng đó Quân Đồng minh đã tràn qua khắp nước Pháp và tiến vào nước Đức và hiện đang ở cửa ngỏ Munich. Khi chàng bị triệu tập cho cuộc thẩm vấn cuối cùng chàng không thể biết rằng bảy tên thẩm vấn nọ sắp sửa đánh bài chuồn và ngụy trang lý lịch nhân thân của chúng để hòa lẩn vào trong đám đông những người Đức trong một cố gắng tuyệt vọng nhằm trốn tránh sự trừng phạt đối với những tội ác của chúng.
“Chúng tôi sắp trả tự do cho anh; chúng tôi giữ lời hứa của những sĩ quan Quốc xã biết trọng danh dự,” tay trưởng ban phỏng vấn có dáng vẻ quí tộc với đôi mắt sâu nói với Rogan như thế. Giọng nói vang lên với vẻ thành thật. Đó là giọng nói của một diễn viên hay của một nhà hùng biện. Một trong những người kia chỉ vào đống quần áo dân sự vắt trên phía sau ghế dựa. ”Hãy cỡi bỏ đống giẻ rách trên người anh và thay đồ đi.”
Không mấy tin tưởng nhưng Rogan vẫn thay quần áo trước mắt bọn chúng. Còn có cả một chiếc mũ fedora rộng vành mà một trong những con người kia chụp lên đầu anh. Cả bọn cười với anh có vẻ hữu hảo. Tay sĩ quan vẻ quí tộc nói bằng giọng thành thật, vang như chuông,” Chẳng đáng vui sao khi biết mình sắp được tự do, sắp được sống, phải không anh bạn ?”
Nhưng ngay lập tức Rogan biết hắn đang nói dối. Có điều gì đó không ổn. Chỉ có sáu người trong phòng cùng với chàng và bọn chúng đang mĩm cười một cách bí ẩn, hiểm ácVào lúc đó Rogan cảm nhận hơi lạnh kim khí từ khẩu súng chạm vào sau gáy chàng. Chiếc mũ chàng đang đội nghiêng về phía trước khi nòng súng ấn mạnh vào vành mũ, và Rogan cảm nhận nỗi kinh hoàng ghê tởm của một người sắp bị giết. Tất cả chỉ là một trò đùa độc ác, và chúng sắp giết chàng như giết một con vật, như diễn một trò vui, để cùng cười với nhau chơiVà rồi một tiếng dội lớn ngập tràn đầu óc chàng, như thể chàng bất thình lình từ trên cao bị rơi tòm xuống nước sâu, và thân thể chàng bị xé ra bởi khoảng không gian mà nó choán chỗ, nổ tung ra thành một hư không đen ngòm, vô tận...
Thế mà Rogan vẫn còn sống mới là phép lạ! Chàng đã bị bắn vào phía sau đầu và thân xác chàng được ném chung vào với một đống tử thi, vốn là những tù nhân khác bị hành hình nơi sân Tòa án Munich. Sáu giờ sau những toán quân tiền phương của Đệ tam Quân đoàn Mỹ tiến vào Munich và những đơn vị y tế của Quân đoàn tìm thấy một đống tử thi lớn. Khi đến sát bên Rogan họ thấy chàng vẫn còn sống. Viên đạn đã làm xương sọ chệch đi, khoét một lỗ trong xương sọ, nhưng không chui vào trong óc não – một loại thương tích không gì lạ thường đối với các miểng bom nhưng hiếm khi được gây ra bởi các loại vũ khí nhỏ.
Rogan được phẫu thuật trong một bệnh viện dã chiến tiền phương và gửi về nước Mỹ. Chàng mất hai năm nữa trong nhiều quân y viện khác nhau để được đặc trị. Vết thương đã làm cho tầm nhìn của chàng giảm biên độ; chàng chỉ còn có thể thấy thẳng phía trước với tầm nhìn hai bên rất hạn chế. Với sự luyện tập kiên trì, tầm nhìn hai bên của chàng được cải thiện đủ để cho chàng lấy được bằng lái xe và sống cuộc sống bình thường. Nhưng chàng đi đến chỗ tin cậy vào thính giác hơn là thị giác, bất cứ khi nào có thể. Sau hai năm tấm thẻ bạc đặt trong sọ chàng để giữ các mảnh xương sọ vỡ gắn lại với nhau dường như đã trở thành một phần tự nhiên của cơ thể chàng. Chỉ trừ những lúc bị stress. Lúc đó chàng có cảm giác như bao nhiêu máu trong óc não đều ùa đến đập dồn dập vào tấm thẻ bạc nọ.
Khi xuất viện, các bác sĩ bảo Rogan rằng việc uống rượu bia sẽ gây tổn hại cho chàng, chuyện làm tình quá độ cũng nguy hiểm, và tốt hơn chàng nên bỏ thuốc lá. Chàng được bảo đảm rằng những năng lực trí tuệ của chàng không bị tổn thương nhưng chàng cần được nghỉ ngơi nhiều hơn người bình thường. Chàng cũng được kê toa thuốc cho những cơn nhức đầu. Nội áp sọ có lẽ sẽ tăng dần như là hậu quả tình trạng bị tổn thương của sọ và của tấm thẻ bạc.
Nói vắn tắt là óc não của chàng rất dễ bị tổn thương vì bất kỳ sự căng thẳng thể lý hay cảm xúc nào. Nếu bảo trọng đúng mức chàng có thể sống đến năm mươi, ngay cả là sáu mươi. Chàng cần tuân theo các chỉ định của bác sĩ, uống thuốc đều đặn – kể cả thuốc an thần – và báo cáo cho một bệnh viện hàng tháng để kiểm tra và thay đổi toa thuốc. Trí nhớ thần kỳ của chàng, Rogan được bảo đảm, không hề bị tổn thương tí nào. Và điều đó lại tỏ ra là một chuyện oái ăm không mấy dễ chịu.
Trong mười năm tiếp theo sau đó, chàng tuân thủ các chỉ định một cách nghiêm túc, uống thuốc đều đặn, báo cáo cho bệnh viện hàng tháng về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng cuối cùng điều chứng tỏ là nguyên nhân suy sụp tinh thần của chàng chính là cái trí nhớ ma thuật của chàng. Hàng đêm khi nằm lên giường thì như thể có một cuộn phim chạy qua trước mắt chàng. Chàng thấy bảy con người kia trong cái phòng vòm cao của Tòa án Munich trong từng chi tiết nhỏ nhặt. Chàng cảm nhận cái vành mũ của mình nghiêng tới trước, khẩu súng lạnh ngắt áp vào cổ. Và khoảng không đen ngòm vang lên, nuốt gọn chàng. Và khi nhắm mắt lại chàng nghe những tiếng la rú kinh hoàng của Christine từ phòng kế bên.
Mười năm trôi qua là một cơn mộng dữ liên tụcKhi được xuất viện chàng quyết định lấy Thành phố New York làm quê nhà. Mẹ chàng qua đời sau khi chàng được thông báo là đã mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ, vậy nên chẳng có nghĩa lý gì đối với chàng trong việc trở lại thành phố quê nhà. Và chàng nghĩ rằng ở New York chàng có thể tìm được sở dụng thích hợp cho tài năng của mình.
Chàng tìm được một việc làm với một trong những công ty bảo hiểm khổng lồ. Công việc chỉ là phân tích thống kê đơn giản, thế nhưng, ngạc nhiên chưa, chàng lại thấy việc ấy quá sức mình! Đơn giản chỉ vì chàng không còn khả năng tập trung tư tưởng trong thời gian lâu. Chàng bị cho thôi việc vì thiếu năng lực, một nỗi sỉ nhục khiến chàng nao núng tinh thần và suy sụp thể chất. Nó cũng làm tăng lòng nghi ngờ của chàng đối với đồng loại. Họ đang làm cái quái quỉ gì thế, sa thải chàng sau khi chàng đã chịu để suýt vỡ tung cái đầu ra vì bảo vệ mạng sống cho họ trong chiến tranh?
Chàng lại tìm được một chân thư ký trong Sở Cựu Chiến binh ở New York và được trả lương sáu mươi đô-la mỗi tuần và được yêu cầu chỉ làm công việc đơn giản nhất trong việc lập hồ sơ và phân loại. Hàng triệu hồ sơ mới được lập ra về những cựu chiến binh mới của Đệ nhị Thế chiến và chính chuyện này khiến chàng bắt đầu nghĩ về máy điện toán. Nhưng cần đến hai năm sau đó trước khi bộ óc chàng có thể thực sự tìm ra những công thức toán học phức hợp mà một hệ thống điện toán như thế cần đến.
Chàng sống cuộc đời buồn tẻ nơi một thành phố lớn. Sáu mươi đô-la một tuần chỉ vừa đủ để trang trải những chi phí cần thiết như trả tiền thuê căn hộ ở vùng ngoại ô Greenwich Village , thực phẩm đông lạnh và whiskey. Chàng cần whiskey để uống cho đủ say ngõ hầu sẽ không nằm mộng khi ngủ.
Trải qua từng ngày làm việc lập những tập hồ sơ chán ngắt, rồi trở về nhà trong căn hộ tồi tàn, ăn những món thực phẩm đông lạnh được hâm lên, chẳng có mùi vị gì. Và rồi chàng sẽ uống độ nửa chai whiskey rồi chìm vào giấc ngủ say mèm trên chiếc giường ọp ẹp, có khi còn để nguyên quần áo. Và tuy thế những cơn ác mộng vẫn đến. Nhưng những cơn ác mộng cũng không tệ hơn thực tế là mấy.
Trong tòa án Munich chúng đã lột sạch mọi phẩm giá của chàng. Chúng đã làm tương đương với điều mà những thằng nhóc đã dọa sẽ làm đối với chàng khi chàng mới lên mười ba. Chúng đã trộn thuốc xổ vào đồ ăn thức uống và cùng với nỗi sợ và món cháo lúa mạch loãng được dùng làm bữa điểm tâm, bữa trưa và bữa tối đã làm cho đường ruột của chàng không còn có thể kiểm soát: thực phẩm cứ tự động chạy tuốt tuồn tuột qua người chàng. Khi chàng bị kéo ra khỏi phòng giam cho cuộc phỏng vấn thường ngày ở cái bàn dài chàng có thể cảm nhận đũng quần của mình dính vào mông và ngửi thấy mùi hôi thối. Nhưng còn tệ hơn thế nữa, chàng còn thấy những cái cười nhăn nhở đểu cáng trên bộ mặt của những kẻ thẩm vấn và chàng cảm thấy xấu hổ như một đứa bé thấy xấu hổ. Và tuy thế, theo một cách nào đó, chuyện ấy lại làm cho chàng cảm thấy gần hơn với bảy con người đang tra tấn chàng.
Giờ đây, nhiều năm sau, một mình nơi căn hộ riêng, chàng sống lại những sỉ nhục thể lý xưa kia. Chàng thấy xấu hổ và không muốn ra ngoài căn hộ để gặp người nào, chàng cũng chẳng muốn nhận lời mời đi dự các parties. Chàng gặp một cô gái đang làm thư ký trong Sở Cựu Chiến binh, và với một cố gắng mạnh mẽ của ý chí đã giúp chàng đáp ứng lại tình ý bộc lộ rõ của nàng. Nàng đến nhà chàng cùng nhau ăn uống vui vẻ và thẳng thắn tỏ ý rằng nàng muốn ở lại qua đêm. Nhưng khi Rogan lên giường với nàng thì lại lâm vào tình huống có súng có đạn nhưng đạn lại bị hóc, không nhảy lên nòng, nên chịu, không cách chi bắn được! Kể như... trớt hướt!
Mấy tuần sau vụ này, thủ trưởng gọi chàng vào phòng nhân viên. Thủ trưởng là một tay cựu chiến binh thời Đệ nhị Thế chiến; anh ta nghĩ rằng việc mình trông coi ba mươi thư ký lập hồ sơ chứng tỏ là mình cao hơn về mặt trí tuệ so với những kẻ dưới quyền. Cố gắng tỏ ra tử tế với Rogan, anh ta nói, “ Có lẽ công việc này hơi quá nặng đối với bạn trong lúc này; có lẽ bạn nên làm loại công việc nào đó chỉ đòi hỏi thể lực thôi; chẳng hạn như... gác thang máy. Bạn hiểu mình muốn nói gì chứ?”
Chính sự kiện là chuyện này được nói ra hoàn toàn với thiện ý – anh chàng này không có ý xỏ xiên hay mỉa mai gì Rogan cả - mới càng làm cho Rogan tức lộn ruột! Trong tư cách một cựu chiến binh bị thương tật chàng có quyền kháng cáo việc sa thải mình. Nhưng tay trưởng phòng nhân viên khuyên Rogan đừng nên làm thế. ”Chúng tôi có thể chứng minh rằng bạn không đủ sáng để làm công việc này,” hắn ta nói với Rogan. ”Chúng tôi có bảng điểm các kỳ thi của bạn và chúng không nói được gì nhiều cho bạn. Vậy nêntôi nghĩ, nếu bạn khôn ngoan hơn một tí, có lẽ bạn nên lấy giấy cho nghỉ việc vì lý do sức khỏe. Rồi sau đó nếu bạn chịu khó đi học thêm ở các lớp bổ túc hay tại chức hay chuyên tu gì đó thì may ra trong tương lai bạn có thể làm việc... đỡ bết bát hơn!”
Rogan ngạc nhiên sửng sốt đến độ bùng nổ ra thành trận cười. Chàng lý luận rằng có lẽ một phần hồ sơ của chàng bị thất lạc hay là những người này nghĩ chàng ghi sai trên hồ sơ giấy tờ của chàng. Mà có lẽ vậy, chàng nghĩ, khi chàng thấy họ cười với chàng. Họ nghĩ là chàng đã giả mạo mọi thứ trong hồ sơ giáo dục của chàng. Rogan lại cười và bước ra khỏi phòng nhân viên, ra khỏi Sở, ra khỏi cái công việc buồn tẻ đã làm nhục chàng mà chàng lại không thể hoàn thành cho đúng mức. Chàng không bao giờ quay lại, và một tháng sau chàng nhận được giấy cho nghỉ việc qua đường bưu điện. Chàng buộc phải sống bằng khoản trợ cấp thương binh mà trước đây chàng không hề đụng đến.
Với nhiều thời gian quá “hưỡn” chẳng biết làm gì chàng bèn Thôi công đâu chuốc lấy sự đời, Tiêu khiển một vài chung lếu láo. Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu... Chàng thuê một căn phòng trọ gần quán nhậu bình dân Bowery và trở thành một trong vô số những tay bợm nhậu tiều tụy xác xơ suốt ngày nốc các loại rượu rẻ tiền cho đến khi say mèm hết biết càn khôn. Hai tháng sau chàng trở lại bệnh viện Cựu chiến binh như một bệnh nhân nhưng không phải vì vết thương nơi đầu. Chàng bị suy dinh dưỡng và bị suy nhược một cách nguy hiểm đến độ một cơn cảm lạnh thông thường cũng đủ tống tiễn chàng về...phương trời khác.
Chính trong thời gian nằm viện mà chàng bất ngờ gặp lại một trong những người bạn thời thơ ấu, Philip Houke, đang nằm viện để trị chứng ung sang (ulcer). Chính Houke, hiện nay là một luật sư, đã tìm giúp cho Rogan công việc đầu tiên với máy điện toán. Chính Houke đã mang Rogan liên hệ trở lại với loài người bằng cách nhắc nhở chàng về sự ưu việt xưa kia của chàng.
Nhưng trở về quả là một con đường dài và đầy gian nan. Rogan nằm viện sáu tháng mà ba tháng đầu là để cai rượu. Còn ba tháng sau chàng trải qua những trắc nghiệm về tổn thương sọ não, cùng với những trắc nghiệm đặc biệt về mệt mỏi tinh thần. Lần đầu tiên một cuộc chẩn bệnh toàn diện và chính xác được thực hiện : Óc não của Michael Rogan vẫn còn giữ được ký tính hầu như siêu nhân và một phần năng lực sáng tạo xuất sắc. Nhưng nó không chịu nỗi việc động não lâu dài, liên tục hay sự căng thẳng kéo dài mà không bị cùn nhụt đi vì mệt mỏi. Có lẽ chàng sẽ không bao giờ có thể đắm mình trong nhiều giờ liền tập trung tư tưởng cao độ mà việc nghiên cứu sáng tạo đòi hỏi. Ngay cả những công việc đơn giản nhưng đòi hỏi nhiều giờ làm việc liên tục thì giờ đây đối với chàng cũng là chuyện... ngoài tầm tay với.
Thay vì tin này làm chàng thất vọng, Michael Rogan lại hài lòng rằng cuối cùng chàng biết chính xác mình đang đứng ở đâu. Chàng cũng thoát khỏi mặc cảm tội lỗi, vì chàng không còn phải chịu trách nhiệm với một “kho báu của nhân loại” nữa. Khi Philip Houke thu xếp cho chàng làm việc với một trong những hãng máy tính mới thành lập, Rogan thấy rằng một cách vô thức trí tuệ chàng vẫn âm thầm làm việc về những vấn đề cấu trúc máy điện toán kể từ khi chàng còn là một thư ký lập và phân loại hồ sơ ở Sở Cựu chiến binh. Nhờ thế trong vòng chưa đầy một năm chàng đã giải quyết nhiều vấn đề cơ cấu kỹ thuật với kiến thức toán học của mình. Houke đòi hỏi một phần hùn trong hãng cho Rogan và trở thành nhà tư vấn tài chánh cho chàng. Chỉ trong mấy năm tiếp theo hãng điện toán của Rogan trở thành một trong mười hãng điện toán hàng đầu trong cả nước. Rồi hãng bán chứng khoán ra công chúng, và cổ phiếu của nó tăng gấp ba giá trị chỉ trong vòng một năm. Rogan nổi tiếng như một thiên tài trong lãnh vực điện toán và được yêu cầu tư vấn về những thủ tục hành chánh quản trị khi các Cục, Viện, Sở rời rạc được kiên cố hóa thành Bộ Quốc phòng. Chàng cũng trở thành triệu phú. Mười năm sau chiến tranh chàng là một doanh nhân thành đạt bất chấp sự kiện là chàng không thể làm việc quá một tiếng mỗi ngày.
Philip Houke lo liệu tất cả mọi công việc kinh doanh cho chàng về phương diện pháp lý và tài chánh và trở thành người bạn tốt nhất của chàng. Vợ của Houke cố gắng hướng Rogan quan tâm đến những cô bạn gái chưa chồng của mình nhưng rồi chẳng có đám nào trở nên nghiêm túc. Trí nhớ thần kỳ của chàng vẫn tiếp tục làm việc chống lại chàng. Trong những đêm không ngủ được chàng vẫn còn nghe Christine la hét nơi Tòa án Munich. Và chàng lại cảm nhận chất dính lầy nhầy ướt át nơi mông mình trong lúc bảy tên thẩm vấn nhìn chàng với cái cười đểu cáng khinh miệt. Chàng không bao giờ có thể bắt đầu một cuộc đời mới, chàng nghĩ thế, nhất là với một người đàn bà khác, lại càng không bao giờ.
*
* *
Trong những năm đó Rogan vẫn theo dõi từng vụ án tội nhân chiến tranh ở nước Đức hậu chiến. Chàng đăng ký thuê bao một dịch vụ cắt mẩu báo (newspaper clipping service) và chàng nhờ một công ty thám tử tư ở Đức gửi cho mình những tấm hình của mọi tội phạm chiến tranh bị lên án, dầu ở cấp bực nào. Có vẻ như là một nhiệm vụ vô vọng khi muốn tìm bảy người mà tên tuổi chúng chàng chẳng biết và chắc chắn là chúng đang tìm mọi cách để ẩn mình giữa hàng trăm triệu người Âu.
Cú bẻ khóa mã thành công đầu tiên của chàng đến khi công ty thám tử tư nọ gửi cho chàng tấm hình của một viên chức thành phố người Áo trông dáng khả kính với đầu đề “Albert Moltke trắng án. Giữ lại vị trí bầu cử mặc dầu có những quan hệ Quốc xã xưa kia. ”Khuôn mặt chính là khuôn mặt của một trong bảy người mà chàng đang truy tìm.
Rogan không bao giờ tha thứ cho mình về lỗi bất cẩn trong việc truyền đi các thông điệp phát thanh vào ngày D, sự bất cẩn đã dẫn đến việc phát hiện và hủy diệt nhóm Kháng chiến bí mật của chàng. Nhưng chàng đã học được những điều bổ ích từ đó. Giờ đây chàng tiến hành công việc với sự thận trong và chính xác cao nhất. Chàng tăng khoản tiền thuê trả trước cho hãng thám tử tư ở Đức và dặn họ theo dõi sát Albert Moltke trong khoảng một nămĐến cuối thời gian đó chàng có thêm ba tấm hình, với tên và địa chỉ, thêm ba bộ hồ sơ về những kẻ đã sát hại vợ chàng và tra tấn chàng nơi Tòa án Munich. Một người là Karl Pfann, làm trong ngành kinh doanh xuất nhập khẩu ở Hamburg. Hai người kia là anh em , Eric và Hans Freisling hiện làm chủ một cửa hàng cơ khí và một trạm xăng dầu ở Tây Berlin. Rogan quyết định rằng thời gian đã đến.
Chàng có những bước chuẩn bị thật chu đáo. Chàng dàn xếp với công ty bổ nhiệm mình làm đại diện mại vụ ở châu Âu với những thư giới thiệu cho các hãng điện toán ở Đức và Áo. Chàng không sợ bị nhận diện. Vết thương khủng khiếp và những năm tháng đau khổ tột cùng đã thay đổi ngoại hình của chàng rất nhiều ; và ngoài ra đối với chúng chàng đã chết. Theo mức độ hiểu biết của những tay thẩm vấn chàng, thì chúng đã giết chết Đại úy Michael Rogan rồi.
Rogan lên máy bay đến Vienna và dựng lên tổng hành dinh kinh doanh của chàng tại đó. Chàng lấy phòng ở Khách sạn Sacher, kêu một bữa ăn thịnh soạn, với món bánh Sachertorte nổi tiếng làm món tráng miệng và nhâm nhi rượu Brandy trong Red Bar cũng rất nổi tiếng của khách sạn. Sau đó chàng tản bộ nhàn du qua những con đường lờ mờ trong ánh hoàng hôn, nghe tiếng nhạc êm dịu của đàn cithare vẳng ra từ các quán cà-phê. Chàng tản bộ một thời gian khá lâu, cho đến khi chàng thư giãn đủ để quay về phòng khách sạn và ngủ.
Trong hai tuần tiếp theo, thông qua những người Áo thân thiện mà chàng gặp ở hai hãng điện toán, Rogan trở thành khách mời của những buổi tiệc tùng quan trọng ở Vienna. Cuối cùng, trong một cuộc dạ vũ của tòa thị chính, mà các viên chức của thành phố phải đến dự, chàng gặp Albert Moltke. Chàng ngạc nhiên rằng con người này thay đổi nhiều đến thế. Khuôn mặt hắn phì phị ra vì cuộc sống thoải mái với thực phẩm ngon lành thừa mứa. Tóc hắn ngã màu xám bạc. Tất cả bộ điệu của cơ thể hắn gợi ra cái vẻ lịch sự bề mặt của loại chính trị gia chiếu nhì, chiếu ba. Và bên cánh tay y là cô vợ dáng người thon thả, trông vẻ vui tươi, rõ ràng là trẻ hơn y nhiều và rõ ràng là đang yêu chiều y lắm lắm. Khi nhận thấy Rogan đang nhìn mình chăm chú, Moltke lịch sự cúi người xuống, như thể muốn nói,” Ồ vâng, cám ơn bạn đã bỏ phiếu cho mình. Tất nhiên là mình nhớ bạn rõ lắm, yên chí đi. Xin đến gặp mình bất cứ lúc nào nơi văn phòng mình. ”Đó là cái cúi người của một chính trị gia dày dạnKhông có gì ngạc nhiên là y đã được tha bổng lúc bị xét xử như một tội phạm chiến tranh, Rogan nghĩ. Và chàng cảm thấy đôi chút thích thú khi biết rằng chính lệnh tha bổng đi kèm tấm hình trong báo đã lên án tử Albert Moltke.
* *
Albert Moltke đã cúi chào người lạ mặc dầu đôi chân đang làm hắn đau muốn chết và hắn ao ước với tất cả tấm lòng phải chi có thể quay về nhà ngồi bên lò sưởi nhâm nhi ly cà-phê đen nóng bốc hơi thơm ngát và thưởng thức món bánh Sachertorte ngon vô địch thiên hạ. Chứ ba cái vụ tiệc tùng lễ lạc nhằm tranh thủ tình cảm cử tri kiểu này chỉ là chuyện chẳng đặng đừng, có chi mà hứng thú, nếu không muốn nói thẳng ra là... chán bỏ mẹ! Nhưng dầu sao thì Đảng cũng phải vận động quỹ bầu cử, bằng cách nào đó. Và y mang nợ những người cộng sự sau khi họ đã hậu thuẫn y hết mình trong những thời kỳ rối rắm vừa qua. Moltke cảm thấy vợ mình, Ursula, ấn người vào cánh tay hắn, và hắn lại cúi chào người lạ, mơ hồ nhận ra hẳn là một ai đó quan trọng, một người mà mình nên nhớ lại rõ ràng hơn.
Đúng thế, Đảng và Ursula yêu dấu đã đứng quanh nâng đỡ tinh thần hắn khi hắn bị lên án như một tội phạm chiến tranh Và sau khi được tha bổng thì vụ án hóa ra lại là một cơ may nhất đời của hắn. Hắn đã thắng cử tại một trong những đơn vị bầu cử địa phương, và tương lai chính trị của hắn, dầu hạn chế thôi, cũng được bảo đảmHạnh vận đó sẽ mang lại cho hắn một đời sống thoải mái. Thế nhưng cái ý nghĩ gây phiền não lại đến khuynh đảo tâm trí hắn như vẫn thường xảy đến: Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như Đảng và Ursula phát hiện ra rằng những lời kết án kia là đúng? Vợ hắn sẽ còn yêu hắn không? Nàng có sẽ bỏ hắn nếu nàng biết sự thật? Không đâu, nàng không bao giờ có thể tin hắn đủ “năng lực” để phạm những tội ác ghê tởm như vậy, bất kể bằng chứng có rành rành đến thế nào. Huống chi giờ đây làm sao còn có bằng chứng hiển nhiên không thể chối cãi? Chính hắn nhiều khi cũng thấy khó tin là mình đã từng làm những chuyện như thế. Thuở ấy hắn là một con người khác – cứng rắn hơn, lạnh lùng hơn, mạnh mẽ hơn. Trong thời buổi ấy người ta phải như thế mới sống còn. Và tuy nhiên...và tuy thế...làm thế nào mà chuyện ấy lại xảy ra. Khi hắn muốn nựng nịu hai đứa con nhỏ trong giường đôi tay hắn nhiều phen ngập ngừng khi chạm vào chúng. Đôi tay ấy không được phép chạm vào làm hoen ố sự ngây thơ vô tội như thế. Thế nhưng hội thẩm đoàn đã tha bổng hắn. Họ đã tha bổng hắn sau khi đã cân nhắc mọi bằng chứng, và hắn không thể bị xét xử lại. Hắn, Albert Moltke mãi mãi là vô tội, chiếu theo luật pháp. Và tuy thế... và tuy nhiên...
Người khách lạ đang tiến về phía hắn. Một con người cao to, mạnh mẽ, với một cái đầu có hình dáng hơi kỳ kỳ, tuy rằng không hẳn là thiếu phần đẹp trai, xét theo tiêu chí là phải...hơi quái một tí! Nhưng rồi sau đó Albert Moltke lưu ý đến bộ côm-lê cắt may rất khéo, rất điệu đàng. Không, hẳn nhiên cái anh chàng diện “kẻng” này phải là dân “ Ờ-mé-ri-keng” rồi chứ không thể nào là dân Đức. Moltke từng gặp nhiều tay loại này, kể từ sau chiến tranh, trong giao dịch kinh doanh. Hắn bèn “vun vén” một nụ cười cầu tài khá tươm tất và quay sang định giới thiệu bà vợ nhưng chị ta đã đi cách đó mấy bước và đang tán chuyện với một người khác. Và rồi tay “Mẽo” chủ động tự giới thiệu. Tên của anh ta nghe chừng như là Rogan và điều này nghe mơ hồ cũng quen quen với Moltke. ”Chúc mừng bạn thăng quan tiến chức. Và cũng chúc mừng bạn đã được trắng án trước đây.”
Moltke đáp lễ bằng một nụ cười lịch sự đủ định mứcHắn đọc thuộc lòng bài diễn văn tiêu chuẩn của mình. ”Một hội thẩm đoàn yêu nước làm đúng phận sự của họ và đã phán quyết, thật may mắn cho tôi, đúng đắn cho một đồng bào Đức vô tội.”
Họ tán gẫu với nhau một hồi. Anh chàng Mỹ gợi ý rằng anh ta có thể vận dụng một số hỗ trợ pháp lý trong việc lập hệ thống kinh doanh máy tính ở đây. Moltke tỏ ra quan tâm. Hắn ta biết rằng tay người Mỹ thực sự muốn nói rằng anh ta muốn tránh né một số loại thuế của thành phố. Moltke biết từ kinh nghiệm quá khứ rằng chuyện này có thể là cơ hội cho mình vớ món bở, bèn khoác tay anh bạn Mỹ và nói ân cần,” Tại sao chúng ta không ra ngoài tản bộ một tí, kiếm chút không khí mát mẻ, bạn nhỉ?” Anh chàng Mỹ tươi cười gật đầu. Thế là cá đã cắn câu. Vợ Moltke không để ý chuyện hai người ra đi.
Khi họ tản bộ qua các đường phố, anh chàng Mỹ hỏi, một cách bình thường,” Bạn không nhớ mặt mình sao?”
Moltke cười nhăn nhó và nói,” Thưa ông yêu quí, trông ông rất quen, nhưng ông thứ lỗi cho, tôi gặp nhiều người lắm. ”Hắn hơi mất kiên nhẫn; hắn muốn anh chàng Mỹ đừng có vòng vo tam quốc làm gì mà nên đi ngay vào chuyện làm ăn. Thời giờ là tiền bạc mà!
Với một chút cảm thức nhẹ về sự bất an, Moltke nhận ra rằng họ đang đi vào một con đường vắng. Thế rồi tay người Mỹ nghiêng người sát vào tai Moltke và thì thầm điều gì đó gần như làm cho tim hắn ngừng đập: ” Bạn có nhớ Ngày thứ hai hoa hồng, năm 1945? Ở Munich? Nơi Tòa án?”
Liền sau đó Moltke nhớ lại khuôn mặt; và hắn không ngạc nhiên khi tay người Mỹ nói,” Tên ta là Rogan. ”Với nỗi sợ ùa qua người y còn có cả nỗi xấu hổ ngập tràn, như thể lần đầu tiên hắn thực sự tin vào tội lỗi của mình.
Rogan nhìn thấy sự nhận ra trong đôi mắt Moltke. Chàng lái hắn ta đi sâu vào con đường hẻm vắng, cảm thấy toàn thân Moltke đang run lên , run rẩy dưới cánh tay chàng. “Ta không làm hại ngươi đâu,” chàng nói. ”Ta chỉ muốn vài thông tin về những người khác, đồng chí của ngươi đấy. Ta biết Karl Pfann và anh em nhà Freisling. Còn tên ba người kia là gì, và ta có thể tìm họ ở đâu?”
Moltke hoảng kinhHắn bắt đầu chạy loạng choạng xuống con đường hẻm. Rogan chạy sát bên hắn, thoải mái, như thể hai người đang chạy bộ để tập thể thao. Vượt lên phía bên trái của Moltke, Rogan rút khẩu Walther từ bao đeo ở vai ra. Vẫn tiếp tục chạy, chàng ta lắp ống hãm thanh vào nòng súng. Chàng không cảm thấy thương hại. Tại sao lại đi thương hại một kẻ độc ác như hắn. Tội lỗi của Moltke đã ghim mảnh vào óc não chàng, ghi khắc hàng ngàn lần vào trí nhớ chàng. Chính tên Moltke này đã mĩm cười khi Christine la rú trong phòng kế bên, và hắn đã thì thầm vào tai chàng,” Thôi nào, đừng có làm anh hùng mà làm hại cô vợ tội nghiệp của bạn như thế. Bạn không muốn con của bạn được chào đời sao?” Giọng điệu nghe ra rất có tình có lý, rất thuyết phục, trong khi hắn thừa biết là Christine đã chết rồi. Moltke là kẻ đê tiện trong bọn chúng và những hoài niệm về hắn cần phải chết đi. Rogan bắn hai phát vào bên hông Moltke. Hắn ngã nhào ra trước ăn đất đầy mồm và Rogan tiếp tục chạy, ra khỏi con hẻm và đi vào đường chính. Ngày hôm sau chàng lấy máy bay đi Munich.
Ở Hamburg việc lần dấu Karl Pfann khá dễ dàng. Pfann là đứa tàn bạo nhất trong số những tên thẩm vấn nhưng theo một cách giống thú vật nên Rogan ít khinh bỉ hắn hơn là những tên khác. Pfann đã hành động theo đúng bản chất thực của hắn. Hắn là con người đơn giản, đần độn và độc ác. Rogan đã giết hắn với ít lòng thù ghét hơn là khi chàng giết Moltke. Chuyện diễn ra đúng theo kế hoạch. Nhưng lại có chuyện không diễn ra đúng theo kế hoạch đó là cuộc gặp gỡ của Rogan với cô gái Đức Rosalie, với mùi hương hoa hồng của cô và sự vô cảm lạ kỳ cùng sự ngây thơ phi luân của cô(her amoral innocence).
*
* *
Giờ đây nằm bên nàng nơi phòng khách sạn ở Hamburg, Rogan nhẹ nhàng táy máy đôi tay trên khắp người nàng. Chàng đã kể cho nàng nghe mọi chuyện, yên tâm rằng nàng sẽ không phản bội mình – hay có lẽ trong hy vọng rằng nàng sẽ, và như thế chấm dứt cuộc truy lùng sát nhân của chàng. ”Vẫn còn thích anh chứ?” chàng hỏi.
Rosalie gật đầu. Nàng cầm tay chàng rà lên vú mình. ”Hãy để em giúp anh,” nàng nói. ”Em chẳng quan tâm đến ai cả. Em chẳng bận tâm chuyện họ chết sống. Nhưng em quan tâm đến anh – chút chút thôi. Hãy mang em theo anh đến Berlin và em sẽ làm bất kỳ điều gì anh muốn em làm.”
Rogan biết là nàng chủ ý với từng lời. Chàng nhìn vào đôi mắt nàng và cảm thấy bối rối với vẻ ngây thơ vô tội mà chàng thấy nơi đó cùng với vẻ vô cảm như thể chuyện giết người và chuyện làm tình, đối với nàng, đều được phép như nhau.
Chàng quyết định “khuân vác” nàng theo. Chàng thích có nàng bên cạnh và nàng có lẽ là một hỗ trợ thực sự. Ngoài ra, dường như chẳng có chuyện gì hay chẳng có người nào mà nàng quan tâm. Và chàng sẽ không để nàng dính líu vào những cuộc hành quyết.
Ngày hôm sau chàng kéo nàng đi mua sắm ở khu phố Esplanade và khu vòm cung Baseler Hospitz. Chàng mua cho nàng hai bộ quần áo chúng làm tôn lên làn da hồng nhạt và màu xanh biếc trong đôi mắt nàng. Họ trở về khách sạn và sửa soạn va-li và sau bữa ăn tối họ bắt chuyến bay đêm đi Berlin.
..............................&................................