Khoảng tầm trưa, tôi ghé qua cửa hàng hoa Whitestone để đưa cho Emma chiếc chậu sứ. Tôi không ăn sáng nên rủ Emma đi ăn trưa luôn, nhưng nàng bảo đang bận. Thứ sáu là ngày bận rộn của những người bán hoa - tiệc tùng, ăn tối, vv... Đã vậy lại còn có ba đám tang, mà thứ này thì đương nhiên là không có kế hoạch trước. Ngoài ra, nàng còn nhận đơn đặt hàng cố định của vườn nho Tobin mua hoa cho các ngày nghỉ cuối tuần phục vụ cho nhà hàng của họ và ở phòng lớn. Và tất nhiên, còn cả bữa tiệc lớn của Fredric tối hôm sau. Tôi nói, “ông ấy có thanh toán bằng hóa đơn không?”
“Không. Đó là tại sao em thanh toán ngay với ông ấy. Tiền mặt hoặc thẻ tín dụng. Không dùng séc. Và em đã cắt phí phục vụ tại nhà.”
Giọng nàng như thể nàng còn muốn cắt nhiều hơn thế. Tôi hỏi, “Anh mang bánh sandwich cho em nhé?”
“Đừng, cám ơn anh. Quả thật là em phải quay lại làm bây giờ mà.”
“Gặp em ngày mai nhé.”
Tôi rời cửa hàng và đi bộ một quãng trên đường Main Street. Mối quan hệ ngắn ngủi giữa chúng tôi đã có chút thay đổi. Nàng tỏ vẻ hơi lành lạnh. Phụ nữ có cách để tạo một lớp sương mờ trước mặt bạn, và nếu bạn cố tìm cách làm cho họ thân mật hơn, họ sẽ làm giảm nhiệt độ xuống. Đó là trò chơi phải có hai người để chơi, và nếu cỗ bài đã chuẩn bị sẵn, tôi bao giờ cũng chọn cách không chơi nữa.
Tôi mua một chiếc bánh sandwich và một lon bia ở cửa hàng bán đồ ăn rồi lên xe chạy về phía mảnh đất của Tom và Judy trên gò giáp biển. Đến nơi, tôi ngồi ăn trưa trên mỏm đá. Mỏm đá của thuyền trưởng Kidd. Thật không thể tin được. Và tôi chắc chắn rằng con số 44106818 đã được lịch sử biết đến sẽ được dùng để làm cho hợp với địa điểm bị xói mòn trên bề mặt ngọn gò này, nơi kho báu sẽ được tìm thấy - bốn mươi bốn bước hoặc bốn mươi bốn độ, mười bước hoặc mười độ, đại loại như thế. Bạn có thể chơi với những con số và ý nghĩa của chúng hoặc tìm ngược lại tới một điểm mà bạn đã lựa chọn. “Hai người thông minh lắm. Giá như hai người nói trước với tôi thì đâu đến nỗi phải chết như thế.”
Một tiếng chim đâu đó cất lên, như thể đáp lại ý nghĩ của tôi.
Tôi đứng trên mỏm đá và dùng ống nhòm quan sát về phía nam, lướt qua những trang trại và vườn nho cho tới khi nhìn thấy ngọn tháp xấu xa của Tobin nổi cao lên trên nền đất bằng phẳng xung quanh. Nó là chỗ cao nhất ở đó: dương vật của ngài Freddie. Tôi nói to, “Đồ chết tiệt.”
Tôi quyết định phải tránh xa chiếc điện thoại, ngôi nhà của tôi, Beth, Max, Emma, FBI, CIA, các sếp của tôi, thậm chí cả những người bạn thân ở thành phố. Khi tôi nhìn qua biển Sound, bên kia là Connecticut, tôi có ý nghĩ sẽ đến sòng bạc Foxwoods Resort.
Tôi xuống gò, lên chiếc xe Jeep và chạy tới bến phà Orient. Mặt nước lặng sóng, một ngày đẹp trên biển Sound. Một giờ hai mươi phút sau, tôi cùng chiếc xe Jeep đã ở New London, bang Connecticut.
Tôi chạy xe tới Foxwoods. Tổ hợp sòng bạc và khách sạn này nằm trơ trọi - thực ra là đất của tộc người Mashantucket Pequot - một nơi kiểu như Mẹ-Lũ-Da-Trắng-Chúng-Mày-Các-Ông-Sẽ-Đòi-Nợ. Tôi vào khách sạn thuê phòng, mua một ít đồ dùng cá nhân và đến phòng ở, bỏ bàn chải đánh răng ra, rồi xuống sòng bạc thử vận may.
Tôi rất may mắn với trò xì lát, đổi tiền ngay bên chiếc máy đánh xèng, mất một chút với trò xúc xắc, hao một tí ở trò quay bánh xe Rulet. Đến tám giờ tối, tôi đã mất chừng hai nghìn đô la. Thế mới vui làm sao.
Tôi cố đặt mình vào vị trí của Freddie Tobin - ôm một em trong tay, nướng khoảng mười nghìn đô cho cuối tuần, xưởng rượu đang bơm ra, nhưng không đủ nhanh. Tất cả những gì thuộc về thế giới của tôi sắp sụp đổ. Ấy thế mà tôi vẫn nhởn nhở và thậm chí còn ăn tiêu và đánh bạc bạt mạng hơn vì tôi sắp trúng độc đắc. Không phải là độc đắc ở sòng bạc Foxwoods mà là món độc đắc đã chôn dưới lòng đất ba trăm năm nay. Tôi biết nó ở đâu, và nó ở gần đến mức như thể trêu ngươi. Tôi có thể gần như nhìn thấy nó chôn ở chỗ nào khi tôi đi qua Đảo Plum trên chiếc tàu của tôi. Nhưng tôi không thể vục được kho báu mà không có sự giúp đỡ của Tom và Judy Gordon. Tôi đã cho họ biết điều bí mật và biến họ thành đối tác. Và tôi, Fredric Tobin, đã chọn đúng. Trong số tất cả các nhà khoa học, nhân viên và người làm công trên Đảo Plum mà tôi đã từng gặp, Tom và Judy là những người mà tôi muốn chọn - họ trẻ, thông minh và điềm đạm, họ có một chút tinh ranh, và quan trọng hơn cả, họ đã thể hiện khao khát về một cuộc sống giàu sang.
Tôi đoán Tobin chọn vợ chồng Gordon không lâu sau khi họ tới đây, do việc chỉ trong bốn tháng vợ chồng Gordon đã chuyển từ ngôi nhà nằm sâu trong đất liền ở gần bến phà đến ngôi nhà hiện giờ của họ ở sát bờ nước. Đó là theo gợi ý của Tobin, và cả con tàu cũng vậy.
Rõ ràng, Fredric Tobin đã tích cực tìm cách quan hệ với người của Đảo Plum, và có lẽ đã loại bỏ một số ứng cử viên. Với tất cả những gì tôi biết, hắn đã từng có một đối tác khác trên Đảo Plum, rồi có điều gì đó diễn ra không như dự kiến, và người kia giờ đã chết. Tôi sẽ phải kiểm tra xem có nhân viên nào của Đảo Plum đã chết bất ngờ cách đây hai, ba năm hay không.
Tôi nhận ra mình có thành kiến không thể chấp nhận được đối với Fredric Tobin, rằng tôi thực sự muốn hắn chính là kẻ giết người. Không phải Emma, không phải Max, không phải Zollner, thậm chí không phải Stevens. Fredric Tobin - Fry Freddie.
Khi tôi cố đưa những người khác vào vai trò kẻ giết người thì hình ảnh Tobin lại trở lại trong đầu. Beth mặc dù không nói ra nhưng nghi ngờ Paul Stevens, và tất cả những điều khác tương đương nhau, khả năng về gã nhiều hơn so với Tobin. Ý nghĩ của tôi về Tobin gắn quá nhiều với cảm xúc của tôi với Emma. Tôi không thể thoát khỏi hình ảnh trong đầu nàng và hắn đang quấn lấy nhau. Cả chục năm nay tôi chưa hề có cảm giác ấy.
Tôi không muốn đổ riết cho hắn, nhưng tôi vẫn quyết định đi theo giả thuyết rằng hắn là thủ phạm, và để xem tôi có thể túm được hắn trong vụ này hay không.
Về Paul Stevens, rất có thể hắn liên quan trong vụ này, nhưng nếu Tobin đã chơi được với Stevens thì tại sao hắn còn cần đến vợ chồng Gordon? Và nếu Stevens không tham gia vào kế hoặc thì phải chăng hắn đã biết kế hoạch? Phải chăng hắn như một con kền kền chờ lao xuống chộp lấy phần của mình sau chuyến săn dài vất vả của kẻ khác? Hay phải chăng là Stevens hành động một mình mà không có Tobin hay bất cứ ai khác? Đương nhiên tôi có thể buộc tội Stevens, người có hiểu biết về Đảo Plum, có cơ hội, súng ống, hàng ngày ở gần nạn nhân, và trên hết, hắn mang tính cách của kẻ nuôi âm mưu và giết chết đối tác. Có thể nếu may mắn, tôi sẽ đưa cả Stevens và Tobin lên ghế điện.
Và còn đó khả năng là một người khác...
Tôi nghĩ về tất cả những điều diễn ra trước khi Tom và Judy Gordon bị bắn vỡ sọ. Tôi có thể hình dung hai vợ chồng Gordon cùng Fredric sống quá xa hoa, tiêu pha quá nhiều, tin tưởng nhau và si cuồng về sự thành công của kế hoạch.
Họ rất tỉ mỉ trong việc tạo nền móng cho cái gọi là khám phá ra kho báu. Điều thú vị là họ quyết định không đặt nó trên phần đất ở sát biển của Tobin. Họ quyết định dựa vào một câu chuyện truyền thuyết, Những mỏm đá của thuyền trưởng Kidd. Tất nhiên, sau đó họ sẽ nói với cả thế giới rằng công việc nghiên cứu đã đưa họ tới điểm cụ thể đó, và họ sẽ thú nhận rằng đã lừa bà Margaret Wiley tội nghiệp. Bà già sẽ tự đá vào mông mình vì đã bán mảnh đất đi, sẽ tin rằng ông chồng Thad đang trừng phạt bà. Vợ chồng Gordon sẽ tặng bà Wiley một món đồ trang sức để an ủi.
Thông thường, trong điều tra một vụ giết người, tôi tìm cách giải thích đơn giản nhất, và cách giải thích đơn giản nhất thực sự đơn giản: đó là lòng tham. Freddie chưa bao giờ biết chia phần với ai và ngay cả khi hắn muốn chia phần, tôi cũng vẫn tự hỏi liệu kho báu có đủ lớn để trang trải nợ nần và cứu lấy vườn nho của hắn hay không. Phần của hắn đương nhiên sẽ không nhiều hơn năm mươi phần trăm, phần của chính quyền, cả liên bang lẫn của bang, sẽ tương đương với của hắn. Ngay cả khi kho báu trị giá đến mười triệu đô la, Freddie mà được hai triệu rưỡi cũng là may rồi. Không hẳn là đủ cho một gã ăn tiêu hoang tàn như Tobin. Và nếu có một đối tác khác - một người còn sống, chẳng hạn như Paul Stevens - thì đương nhiên vợ chồng Gordon phải ra đi.
Nhưng tôi vẫn còn những câu hỏi chưa trả lời được - giả sử vợ chồng Gordon đã lấy được kho báu trên Đảo Plum, liệu họ có mang tất cả về hôm họ giã biệt cõi đời ở mảnh sân sau nhà hay không? Liệu kho báu có để trong chiếc thùng đá hay không? Và chiếc hòm đựng kho báu ban đầu đang ở đâu khi phải được chôn lại để rồi được các nhà khảo cổ tọc mạch và nhân viên sở thuế phát hiện ra?
Trong lúc đang miên man với những ý nghĩ này, tôi không để ý đến chiếc bánh xe Rulet. Đó là trò chơi dành cho những người đang phải suy nghĩ điều gì đó trong đầu vì nó không bắt người ta phải để tâm. Giống như trò đánh xèng, nó hoàn toàn là may rủi. Nhưng với chiếc máy đánh xèng thì bạn có thể biết được khi nào thì mất bao nhiêu và sau một đêm chơi với đôi mắt đờ đẫn, khuôn mặt phờ phạc trước những tên kẻ cướp một tay và mất không nhiều hơn tiền tiêu vặt. Nhưng với trò quay bánh xe Rulet, bên chiếc bàn mười đô la, với một người chủ trò nhanh nhẹn và những người đỏ hơn nhanh nhẹn, túi bạn cũng vơi đi nhanh.
Tôi đứng dậy đi khỏi bàn, đổi thêm một ít tiền mặt từ thẻ tín dụng và tìm đến trò cá bài dễ chơi hơn. À, chính những thứ mà tôi làm cho công việc của tôi.
Tôi chơi khá ở bàn cá bài. Đến nửa đêm, tôi lấy lại được hai nghìn đã mất. Đang đói meo ruột, tôi lấy một cốc bia và chiếc bánh sandwich từ một cô phục vụ và chơi tiếp đến một giờ sáng, lại mất hai nghìn.
Tôi dừng chơi, đến một quầy bar và chuyển sang uống Uyt-xki. Tôi xem một đoạn tin phát lại trên ti vi và không thấy nhắc gì đến vụ giết vợ chồng Gordon nữa.
Tôi hình dung lại toàn bộ vụ án trong đầu - từ lúc Max đi vào hiên nhà tôi đến giờ và ở đây. Và trong lúc suy tư, tôi lại nghĩ đến cuộc sống tình cảm của tôi, công việc của tôi và tất cả mọi thứ, điều đó khiến tôi phải đối mặt với câu hỏi tôi đang đi về đâu.
Đến hai giờ sáng, tôi mất hai nghìn đô la, tôi đi một mình nhưng không cảm thấy cô đơn, mặt đã cảm thấy nóng vì rượu, tôi được cho là thương tật ba phần tư về thể chất, và có thể là một trăm phần trăm về trí óc, và có thể tôi đã cảm thấy tiếc cho chính mình. Thế nhưng tôi vẫn quay lại chỗ trò chơi quay bánh xe Rulet. Tôi đang đen tình, nên thể nào cũng phải đỏ bạc.
Đến ba giờ sáng, mất thêm một nghìn nữa, tôi đi ngủ.
Sáng thứ bảy, tôi tỉnh dậy với câu hỏi kì lạ rằng tôi đang ở đâu. Đôi khi, người phụ nữ bên cạnh sẽ trả lời cho tôi, nhưng lúc này không có người phụ nữ nào nằm bên. Hiện tại, đầu óc tôi đã tỉnh táo và tôi nhớ ra mình đang ở đâu, tôi nhớ đã bị Mashantucket Pequots lột da đầu - có lẽ tôi nên nói là đã bị những người da đỏ anh em của mình lột gần hết tiền.
Tôi tắm rửa, mặc quần áo, gói bàn chải đánh răng và ăn sáng ở sòng bạc.
Ở bên ngoài, thêm một ngày hè muộn trời đẹp, gần như một ngày mùa thu. Có lẽ đó tiết ấm của mùa thu. Tôi lên xe và hướng về phía nam tới New London.
Ở ngoại ô phía bắc của thành phố, tôi dừng lại ở một trạm xăng và hỏi thăm đường. Mười lăm phút sau, tôi đã ở trên đường Ridgefield. Đường này giống như một con phố ngoại ô nơi có những căn nhà gỗ kiểu New England tọa lạc trên những mảnh đất rộng lớn. Đây là vùng nửa nông thôn, nửa thành thị; và tôi khó mà hình dung được người ta có cần đến nhiều tiền để sống ở đây hay không. Những ngôi nhà to trung bình, những chiếc xe hơi giá trung bình, thế nên tôi đoán đó cũng là một khu vực trung bình.
Tôi dừng lại ở nhà số 17, một căn nhà gỗ màu trắng nằm cách đường khoảng ba chục mét. Nhà láng giềng ở gần nhất cũng cách một quãng xa. Tôi xuống xe, tới lối đi phía trước nhà và nhấn chuông.
Trong lúc chờ, tôi quan sát xung quanh. Không có chiếc xe nào đỗ trên đường vào nhà. Cũng không có thứ gì của trẻ con xung quanh, hẳn là Stevens chưa lấy vợ, hoặc đã lấy vợ mà chưa có con, hoặc lấy vợ và đã có con lớn, hoặc hắn đã ăn thịt cả con mình rồi. Các bạn thấy tôi suy diễn thế nào?
Tôi cũng nhận thấy nơi này quá gọn gàng, như thể có một người với đầu óc bệnh hoạn, phát xít và có trật tự sống ở đây.
Không có ai ra mở cửa. Tôi qua chỗ chiếc gara liền với nhà và ngõ qua cửa sổ bên sườn. Không có xe bên trong. Tôi đi quanh ra sân sau, nơi có thảm cỏ trải dài chừng năm chục thước tới một khu nhiều cây cối. Hiên nhà lát đá hoa đen khá đẹp, phía trước có lò nướng và những thứ đồ cắt cỏ.
Tôi ra cửa sau và ghé mắt qua cửa sổ nhìn vào. Bên trong là một chiếc bếp gọn gàng và sạch sẽ kiểu của vùng nông thôn.
Tôi định bụng đột nhập vào nhà để xem qua mọi thứ và có thể lấy cắp cái bằng tốt nghiệp của hắn để làm trò đùa, nhưng khi xem kỹ bên ngoài nhà, tôi nhận ra tất cả các cửa sổ đều có chăng dây báo động. Ngoài ra, dưới mái hiên nhô ra bên phải tôi là một máy quay camera với góc quay một trăm tám mươi độ. Cha này không vừa đây.
Tôi quay ra phía trước nhà, vào trong xe Jeep và quay số máy của Stevens. Giọng nói cài đặt sẵn cho tôi nhiều lựa chọn với máy fax nhà riêng, e-mail nhà riêng, số máy nhắn tin, địa chỉ hộp thư bưu điện, số máy văn phòng, fax văn phòng, e-mail văn phòng của hắn, và cuối cùng là có thể để lại lời nhắn sau hai tiếng bíp. Tôi chưa bao giờ có nhiều lựa chọn như vậy từ lúc tôi đứng trước một chiếc máy bán bao cao su tự động. Tôi bấm số ba trên bàn phím, lấy số máy nhắn tin của Stevens, quay số, nhắn số máy di động của tôi và chờ. Một phút sau, điện thoại của tôi đổ chuông. Tôi nghe máy, “Sở cấp thoát nước New London.”
“Vâng, tôi là Paul Stevens. Ngài đã nháy máy cho tôi.”
“Vâng, thưa ngài. Ống nước bị vỡ trước nhà của ngài ở đường Ridgefield. Chúng tôi muốn đưa máy bơm xuống tầng hầm của ngài để khỏi bị ngập.”
“Được... Tôi đang ngồi trên xe... Hai mươi phút nữa tôi sẽ về tới nơi.”
“Tốt rồi.” Tôi gác máy và chờ.
Khoảng năm phút sau - chứ không phải hai mươi phút - một chiếc Ford Escort chạy vào đường xe trong nhà, Paul Stevens bước ra, mặc quần đen và áo gió màu sẫm.
Tôi xuống xe Jeep và hai người gặp nhau trên bãi cỏ trước nhà hắn. Hắn chào tôi thân thiện bằng câu, “Mày làm cái mẹ gì ở đây?”
“Chạy xe ra ngoài một chút và ghé qua chơi thôi.”
“Biến khỏi nhà tao ngay.”
Lạy Chúa. Tôi nào nghĩ hắn sẽ chào đón thô bỉ nhường ấy. Tôi bảo, “Tôi thực sự không muốn ông nói với tôi như vậy.”
“Đồ bẩn thỉu - mày làm tao lộn ruột cả nửa buổi sáng chết tiệt.”
“Này, anh bạn-”
“Mẹ mày, thằng Corey. Cút cha mày đi.”
Quả thực đó là một Stevens khác với con người mà chúng tôi đã gặp trên Đảo Plum, hôm trước hắn ít ra cũng còn lịch sự, nếu không nói là thân thiện. Tất nhiên, lúc ấy hắn phải lịch sự. Lúc này, con hổ đang ở trong phần đất riêng của nó, còn người coi thú thì không có mặt. Tôi nói, “Nào, thôi đi, Paul”
“Mày điếc hả? Tao đã bảo là cút cha mày đi. Thằng ngu kia, có nước giếng ở đây đấy. Đi ngay.”
“Được. Nhưng tôi phải gọi người đồng sự của tôi.” Tôi đi về phía ngôi nhà. “Beth Penrose. Cô ấy đang ở đằng sau.”
“Mày lên cái xe bẩn thỉu của mày đi. Để tao kiếm nó.” Hắn quay người và bước đi, rồi ngoái lại bảo, “Tao phải báo cảnh sát bắt hai đứa chúng mày vì tội xông vào nhà người khác. May mà tao không bắn từ trên xe.”
Tôi quay người và bước về phía chiếc xe Jeep. Tôi liếc qua vai đúng lúc thấy hắn rẽ ở góc của chiếc gara.
Tôi chạy lao qua bãi cỏ, ngang qua đường xe và bắt kịp hắn khi hắn đi đến góc xa của ngôi nhà và rẽ qua sân sau. Nghe thấy tiếng động, hắn quay lại và thò tay vào bao súng, nhưng đã quá muộn. Tôi tống một quả vào cằm, hắn bật ra tiếng “ục” và loạng choạng lùi về sau, chân tay xiên xẹo, trông quả là khôi hài.
Tôi quỳ bên cạnh gã Paul tội nghiệp và ấn hắn xuống. Tôi tìm được thứ đặc biệt cho chiều thứ bảy của hắn - khẩu Berretta 6,5 li - nhét ở túi trong của chiếc áo gió. Tôi lấy băng đạn ra, tháo hết đạn cho vào túi của tôi, lắp lại băng vào súng và nhét trở lại áo của hắn.
Tôi lục ví của hắn - một ít tiền mặt, thẻ tín dụng, giấy phép lái xe, thẻ y tế, một giấy chứng nhận nhân viên của Đảo Plum, một giấy phép của bang Connecticut cho phép sử dụng ba khẩu súng gồm khẩu Beretta, một khẩu Colt 45 và một khẩu Magnum 357. Không ảnh, không số điện thoại, không danh thiếp, không chìa khóa, không bao cao su, không vé số và không có thứ gì phải đặc biệt chú ý, trừ việc hắn sở hữu hai khẩu súng nòng cỡ lớn mà ta chưa thấy nếu tôi không khóa tay hắn và lục lọi trong ví.
Tôi nhét trả chiếc ví vào áo cho hắn, đứng dậy và kiên nhẫn chờ hắn bật đứng lên xin lỗi về thái độ của hắn. Nhưng hắn cứ nằm đó, chiếc đầu ngu ngốc lăn qua lăn lại, mồm phát ra những âm thanh đần độn. Mặt hắn không có vết máu, nhưng chỗ tôi đấm giờ đang đỏ dần lên. Rồi nó sẽ chuyển thành màu xanh, sau đó là màu tím đầy thú vị.
Tôi tìm một chiếc vòi bơm nước cuộn trong vườn, mở khóa và chĩa thẳng vào Stevens. Cái này dường như có tác dụng và hắn cố đứng dậy, miệng phun phì phì, thân hình loạng choạng chực đổ.
Tôi hỏi, “Mày có tìm thấy đồng sự của tao không?”
Hắn dường như không hiểu, làm tôi nhớ lại cảm giác của tôi sáng nay khi thức dậy thấy đầu ong ong. Tôi thông cảm cho hắn. Thật đấy.
Tôi bảo, “Nước giếng đấy. Tao chưa bao giờ nghĩ đến. Này, Paul, ai giết Tom và Judy?”
“Đ. mẹ mày.”
Tôi phụt cho hắn một lần nữa và hắn lấy tay che mặt.
Tôi bỏ chiếc vòi xuống và tiến gần đến hắn. “Ai đã giết bạn tao?”
Hắn lấy vạt áo lau mặt, rồi dường như nhớ ra điều gì đó, hắn luồn tay phải vào dưới áo và rút khẩu súng ra. Hắn nói, “Đồ con hoang! Giơ tay lên.”
“Được thôi.” Tôi giơ tay lên đầu, dường như điều đó làm hắn dễ chịu hơn đôi chút.
Hắn xoa xoa quai hàm, chắc là đau rồi. Dường như hắn đang dần nhớ ra là đã bị lừa, bị khóa tay và phun nước vào người. Hắn có vẻ như đang nổi giận, máu sắp sôi lên. Hắn quát tôi, “Cởi áo khoác ra.”
Tôi cởi áo khoác, để lộ khẩu 38 trong bao súng đeo trên vai.
“Bỏ áo xuống, từ từ cởi bao súng và để rơi xuống đất.”
Tôi làm theo hắn bảo.
Hắn hỏi, “Mày còn mang súng chỗ khác không?”
“Không, thưa ngài.”
“Kéo ống quần lên.”
Tôi kéo ống quần lên cho hắn thấy tôi không mang súng dưới cổ chân.”
Hắn bảo, “Quay người lại và kéo áo lên.”
Tôi quay người, kéo áo lên cho hắn thấy tôi không mang súng bên hông.
“Quay lại đây.”
Tôi quay lại đứng đối diện với hắn.
“Giơ tay lên khỏi đầu.”
Tôi giơ tay lên đầu.
Bước tránh khẩu súng ra.
Tôi bước lên trước mấy bước.
“Quỳ xuống.”
Tôi quỳ.
Hẳn bảo, “Đồ bẩn thỉu, thằng con hoang. Mày nghĩ mày là thằng chó nào mà dám đến đây như thế rồi xâm phạm nơi ở riêng của tao, rồi cả quyền dân sự của tao?” Quả là hắn đang tức điên lên và dùng toàn những lời lẽ thô tục.
Gần như đã trở thành điều hiển nhiên trong nghề này là người có tội thì luôn mồm nói vô tội, còn những người vô tội thì nổi đóa lên và lấy pháp luật ra dọa đủ điều, ôi trời, Stevens có vẻ thuộc loại vô tội rồi. Tôi để hắn hả hê một chút.
Cuối cùng, tôi cắt ngang lời hắn và hỏi, “Được, anh ít nhất có ý nghĩ trong đầu là ai có thể đã làm việc đó không?”
“Nếu tao biết, tao cũng không nói cho mày, đồ chó.”
“Có ý nghĩ nào về nguyên nhân họ bị giết không?”
“Này, đừng có hỏi tao, đồ bẩn thỉu. Im cái mồm chó của mày đi.”
“Thế nghĩa là tôi không thể nhờ đến sự hợp tác của anh phải không?”
“Câm mồm!” Hắn thoáng suy nghĩ rồi nói, “Tao nên bắn mày vì tội xâm phạm nhà ở, thằng con hoang ngu đần kia. Mày sẽ phải đền vì đánh tao. Tao phải bắt mày cởi truồng rồi quẳng mày vào trong rừng.” Hắn lại đang lên cơn và tỏ ra sáng tạo trong nghĩ cách trả thù.
Tôi cảm thấy không thoải mái lắm với tư thế quỳ nên đứng dậy.
Stevens quát to, “Quỳ xuống! Quỳ!”
Tôi bước lại gần và hắn chĩa khẩu súng vào bụng dưới của tôi và bóp cò. Tôi vẫn nhăn mặt giả đau dù khẩu súng không còn đạn.
Hắn nhận ra đã làm điều gì đó tệ lắm, cố bắn rụng cái kia của tôi bằng khẩu súng không đạn. Hắn nhìn trân trân vào khẩu Beretta.
Lần này tôi tặng một quả móc vào bên trái vì không muốn làm bị thương lại chiếc quai hàm bên phải của hắn. Tôi hy vọng hắn sẽ phải cám ơn khi tỉnh dậy.
Hắn đổ vật ra phía sau trên bãi cỏ.
Tôi biết hắn sẽ cảm thấy rất tệ khi tỉnh dậy, rất ngu xuẩn và xấu hổ. Tôi hơi cảm thấy thương cho hắn. Ồ, mà có lẽ không. Dù sao, hắn cũng sẽ không tự nguyện cung cấp bất cứ thông tin nào sau cú nốc ao thứ hai vừa rồi, và tôi không nghĩ mình có thể lừa cho hắn nói ra. Tra tấn hắn thì không được, dù hắn làm tôi muốn làm thế với hắn.
Tôi lượm khẩu súng của tôi lên cùng chiếc bao súng và áo khoác. Rồi, vì là người khôi hài, tôi buộc dây giày hai bên của hắn với nhau.
Tôi quay ra xe và dông thẳng, hy vọng đi đủ xa trước khi Stevens tỉnh dậy và gọi cảnh sát.
Trong lúc lái xe, tôi nghĩ về Paul Stevens. Sự thật là hắn đã sắp thành kẻ điên. Nhưng phải chăng hắn là một kẻ sát nhân? Có vẻ là không phải, nhưng vẫn có điều gì đó về hắn... hắn biết chuyện gì đó. Tôi tin là thế. Và bất kể hắn biết điều gì, hắn sẽ giữ kín. Điều đó nghĩa là hắn đang bảo vệ ai đó, hoặc đang tống tiền người ta, hoặc đang tìm cách để kiếm chút đỉnh vì chuyện nàỵ. Trong bất kỳ trường hợp nào, hắn cũng là nhân chứng bất hợp tác, ít nhất là như vậy.
Thay vì đi chuyến phà New London ở lại Long Island - điều có thể khiến tôi trở thành một phần trong bản tin tổng họp và gặp rắc rối với cảnh sát Connecticut - tôi chạy xe về hướng tây qua những con đường với phong cảnh tự nhiên, nghêo ngao hát theo điệu nhạc phát từ đài địa phương - Ooowk-lahoma! nơi ngọn gió tràn qua những cánh đồng.
Lúc này, bàn tay phải tôi bắt đầu đau, còn tay trái thì đang cương lên. Quả thật, các khớp ngón tay bên phải đã hơi sưng lên. Chết tiệt. “Đang già rồi.” Tôi rũ cả hai tay cho mềm bớt. Ái chà!
Điện thoại cầm tay đổ chuông nhưng tôi không nghe máy. Tôi đi vào địa phận bang New York, nơi tôi dễ ứng phó hơn với cảnh sát nếu họ đang truy tìm tôi.
Tôi đi qua cửa ra của cầu Throgs Neck nơi hầu hết mọi người đều phải đi qua để tới Long Island. Tôi đi tiếp và qua cầu Whitestone, cái tên có thể thích hợp đấy. “Cầu Emma Whitestone.” Tôi hát, “Tôi đang yêu, tôi đang yêu, tôi đang yêu một người con gái tuyệt vời!” Tôi thích những giai điệu ướt át.
Qua bên kia cầu, tôi chạy trên đại lộ về phía đông, hướng về vùng North Folk thuộc Long Island. Đi thế này phải vòng xa vì tôi phải tránh đi phà, nhưng tôi không thể đoán được Paul Stevens sẽ làm gì với việc bị đánh ngã hai lần trên chính sân nhà mình. Đó là chưa kể ngã sấp mặt khi cố bước đi với hai chiếc giầy buộc vào nhau.
Nhưng tôi đoán hắn chưa gọi cho cảnh sát. Và nếu hắn không muốn trình báo việc bị người khác xông vào nhà và tấn công thì việc này lại ẩn chứa điều gì đó. Paul chấp nhận thua keo này và biết rằng vẫn còn keo khác. Điều khó với tôi là lần sau, hắn sẽ là người chọn thời gian và địa điểm, rồi hắn sẽ làm tôi bất ngờ. Ồ, vâng. Nếu bạn chơi bóng chày cứng, bạn phải chấp nhận có lúc chịu những quả đánh vào đầu.
Bảy giờ tối, tôi về đến North Folk sau khi lái xe chừng ba trăm dặm. Tôi không muốn về nhà nên dừng lại ở nhà hàng Olde Towne Taveme uống một hai cốc bia. Tôi nói với người phục vụ ở quay bar, anh chàng có tên là Aidan mà tôi có quen biết, “Cậu đã bao giờ gặp Fredric Tobin chưa?”
Anh chàng đáp, “Em có lần phục vụ cho một bữa tiệc ở nhà ông ấy. Nhưng em hầu như không nói chuyện với ông ấy.”
“Cậu nghe thấy người ta nói gì về ông ấy không?”
Aidan nhún vai. “Em không biết... em nghe thấy đủ thứ.”
“Ví dụ?”
“Có người bảo ông ấy là đồng tính, có người bảo là loại nịnh đầm phụ nữ. Có người thì bảo ông ta túng lắm và nợ như chúa chổm. Có người bảo ông ta thuộc loại rẻ tiền, có người lại bảo ông ta chỉ đáng giá một đô. Anh biết chứ hả? Anh có một người như thể tới đây, bắt đầu tất cả mọi thứ từ con số không, anh sẽ có những nhận xét đủ loại, ông ấy giẫm lên chân một số người, nhưng lại tốt với một số khác, em đoán thế. Ông ta chơi thân với cảnh sát lắm. Anh biết chứ?”
“Tôi biết.” Tôi hỏi Aidan, “Ông ấy sống ở đâu?”
“Ồ, ông ta có nhà ở Southold gần Founders Landing. Anh biết nó ở đâu chứ?”
“Không.”
Aidan chỉ đường cho tôi và nói, “Không thể nào lẫn được đâu. To, to.”
“Đúng rồi. Này, có người bảo tôi là quanh đây có kho báu chôn dưới đất.” Aidan bật cười. “Vâng. Ông già em bảo hồi ông ấy còn bé quanh đây chỗ nào cũng thấy đào hố. Nếu có ai đó tìm được thứ gì thì người ta không nói ra đâu.”
“Đúng. Sao lại phải chia với Chú Sam?”
“Không đùa đâu.”
“Cậu có nghe tin gì mới về vụ giết hai mạng người ở Nassau Point không?”
“Không. Theo quan điểm cá nhân, em nghĩ hai người đó đã đánh cắp thứ gì đó nguy hiểm, còn chính quyền và cảnh sát đang bịa ra chuyện một thứ vác xin gì đó để che đậy. Ý em là, họ sẽ nói gì đây? Cả thế giới đi đến chỗ diệt vong? Không. Họ bảo, ‘Đừng lo - nó không làm tổn thương các bạn đâu.’ Vớ vẩn.”
“Đúng.” Tôi nghĩ CIA, FBI và chính quyền nói chung nên thử trước những điều vớ vẩn mà họ nói với những người phục vụ quầy bar, thợ cắt tóc, lái xe taxi trước khi tung ra cho cả nước nghe. Ý tôi là, tôi thường đưa đẩy chuyện với những người phục vụ quầy bar và thợ cắt tóc khi cần kiểm tra một thực tế nào đó, và cách này rất hiệu quả.
Aidan nói, “Này anh, thế bệnh bò điên với PMS[1] khác nhau chỗ nào?”
“Cái gì cơ?”
“Chẳng có gì khác nhau hết.” Anh chàng đập đập chiếc khăn lên mặt bàn và cười to. “Hiểu chứ?”
“Hiểu.” Tôi rời nhà hàng OTT, lên xe và hướng về một nơi có tên gọi là Founders Landing.
❀ ❀ ❀
[1] Hội chứng căng thẳng ở phụ nữ trong thời gian sắp có kinh nguyệt - ND.