Huyện cảnh sát và quận cảnh sát vốn không có quan hệ trên dưới rõ ràng.
Huyện cảnh sát nghe lệnh Huyện lệnh, quận cảnh sát nghe lệnh Quận trưởng, hai bên không hề lệ thuộc lẫn nhau.
Trên danh nghĩa, huyện cảnh sát chỉ phụ trách trị an, quản lý và trừng phạt tội phạm trong phạm vi một huyện, còn quận cảnh sát thì có thể quản lý toàn quận.
Nhưng vì không có quan hệ trên dưới, nên ai cũng không thể ép buộc ai, mà giới hạn công việc cũng không rõ ràng.
Triều đình không có quy định, địa phương bèn tự hình thành quy tắc riêng. Huyện cảnh sát không xử lý được thì quận cảnh sát ra tay hiệp trợ, còn bình thường thì không cần đến quận cảnh sát.
Nghe thì rõ ràng, nhưng khi vận hành lại nảy sinh vô vàn vấn đề, chức trách hai bên thường xuyên trùng lặp, dẫn đến tình trạng không ai phục ai. Thế là trong công tác, quận cảnh sát và huyện cảnh sát thường xuyên xảy ra xung đột, ma sát, mâu thuẫn chồng chất.
Thực tế, muốn tìm một cấp trên chung cho cả hai, thì chỉ có thể là trung ương Hình bộ.
Tất cả cảnh sát trên toàn Ngụy quốc đều thuộc quản lý trực tiếp của trung ương Hình bộ. Tên tuổi, quê quán, lý lịch, thông tin gia đình của từng người đều được ghi chép đầy đủ tại đây.
Trung ương Hình bộ không nắm quyền chỉ huy cảnh sát, quyền này thuộc về Huyện lệnh và Quận trưởng.
Nhưng việc luận công hành thưởng, thậm chí cả quyền bài xích lại nằm trong tay Hình bộ ty cảnh sát. Bổng lộc thì do trung ương Bộ Tài chính và các phân bộ địa phương trực tiếp phát xuống.
Hành động nghe theo hành chính trưởng quan, thăng chức, khen thưởng, xử phạt do Hình bộ ty cảnh sát chủ trì, bổng lộc do trung ương Bộ Tài chính phát xuống.
Đây cũng là phương lược mà Quách mỗ nhân đã dày công tính toán, nhằm phòng ngừa tệ nạn khi lực lượng vũ trang của cả một quận chỉ nghe theo một người, từ đó hình thành một khối thống nhất.
Dù số lượng cảnh sát ở một huyện hay một quận không quá nhiều, nhưng ít nhất cũng phải có vài trăm người mới có thể gánh vác trách nhiệm trị an. Như vậy, một quận có hai ba ngàn cảnh sát cũng là điều dễ hiểu.
Nói chung, số lượng cảnh sát của một huyện được ấn định theo một tỷ lệ nhất định, dựa trên số dân bản địa.
Huyện lớn, dân số đông thì số lượng cảnh sát nhiều hơn; huyện nhỏ, dân số ít thì số lượng cảnh sát cũng ít hơn.
Số lượng quận cảnh sát cũng được ấn định theo một tỷ lệ khác, dựa trên tổng số dân của toàn quận. Tương tự, dân số càng đông thì số lượng cảnh sát càng nhiều, để Quận trưởng dễ dàng làm việc trong môi trường phức tạp hơn.
Vì đều có một đội cảnh sát dưới trướng, sẵn sàng nghe lệnh làm việc và nắm giữ năng lực cưỡng chế, nên Quận trưởng và Huyện lệnh có tiếng nói nhất định ở địa phương.
So với châu thích sứ, những người không có bất kỳ lực lượng cưỡng chế nào trong tay, thì Quận trưởng và Huyện lệnh thường mạnh mẽ hơn nhiều. Không ít châu thích sứ cũng vì không có lực lượng vũ trang chống lưng mà phải hết sức dè chừng.
An Nam Đô Hộ phủ là khu hành chính cấp quận, với mức lương hai ngàn thạch. Tư Mã Ý, với vai trò Đô hộ, cũng tương đương với Quận trưởng.
Tổng số dân của toàn bộ An Nam Đô Hộ phủ là 789.206 người, chia thành sáu huyện, trung bình mỗi huyện hơn mười vạn dân, hơn hai vạn hộ.
Theo quy định, chính phủ cấp quận được phép có một trăm cảnh sát trên mỗi mười vạn dân, số dân được làm tròn theo quy tắc bốn bỏ năm lên.
Vậy nên, Tư Mã Ý có tám trăm quận cảnh để duy trì tôn nghiêm, uy quyền và sự an toàn của bản thân.
Còn chính phủ cấp huyện thì tính theo tỷ lệ hai mươi cảnh sát trên mỗi vạn dân. Một huyện mười vạn dân sẽ có hai trăm cảnh sát phụ trách quản lý trị an.
Quận cảnh sát và huyện cảnh sát không có sự phân chia cao thấp.
Bọn hắn tuy làm việc ở các nha môn khác nhau, nhưng đều thuộc Hình bộ ty cảnh sát quản hạt. Như vậy, họ nhận bổng lộc từ Bộ Tài chính, nghe lệnh quan phủ hành chính chủ quản, và khi cần thiết, sẽ dùng cưỡng chế để chấp pháp.
Có thể coi họ như nanh vuốt của quận trưởng và huyện lệnh, là công cụ để quận trưởng và huyện lệnh truyền đạt ý chí một cách mạnh mẽ trong bộ máy hành chính.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, nhờ quản lý tốt, theo quy định ban đầu của quốc gia, mỗi người dân có hộ khẩu đều có đất canh tác, không có lưu dân hay du côn, nên tình hình tương đối hài hòa.
Nói chung, vì ít người làm điều phi pháp, nên số lần bọn hắn phải dùng vũ lực cưỡng chế cũng không nhiều.
Cảnh sát không hoàn toàn phục vụ cho trưởng quan hành chính, bản thân họ cũng có chức trách riêng.
Theo quy định, cứ hai mươi cảnh sát lập thành một cảnh đội, có một cảnh sát trưởng. Cứ năm cảnh đội lại lập thành một cảnh ti.
Chức trách của cảnh sát là tuần tra trị an, bắt những tội phạm dân sự thông thường.
Thời Ngụy đế quốc mới thành lập, người làm điều phi pháp rất ít, tỷ lệ phạm tội thấp, nên phần lớn thời gian cảnh sát không có tội phạm để bắt.
Do đó, họ cũng không mang theo cương đao, cung nỏ là những binh khí có thể gây chết người. Thông thường, họ chỉ mang một cây gậy gỗ chế thức để phô trương sự tồn tại và uy lực, hoặc thậm chí không mang gì để tạo cảm giác thân thiện.
Nhiệm vụ hàng ngày của rất nhiều cảnh sát là ra đường hòa giải những tranh chấp lặt vặt trong thôn xóm, trên thực tế là một thân phận gần gũi với dân chúng.
Bởi vậy, trước khi nhậm chức, những cảnh sát này còn được tập hợp lại để học một đoạn luật dân sự của Ngụy đế quốc, để họ ít nhiều hiểu biết về pháp luật, khi xử lý tranh chấp có căn cứ để theo.
Chỉ khi thực sự xuất hiện những vụ việc cần giải quyết bằng bạo lực, cảnh sát mới theo lệnh của trưởng quan hành chính mà tập thể xuất động, mang theo Hoàn Thủ Đao, cung nỏ và các loại binh khí giết người khác, sử dụng bạo lực.
Nhưng số lần như vậy vô cùng hiếm hoi.
Triều đình có quy định, khi huyện lệnh và quận trưởng cần dùng cảnh sát để tiến hành cưỡng chế, nhất định phải viết báo cáo gửi lên Hình bộ ty cảnh sát để lập hồ sơ.
Báo cáo phải ghi rõ nguyên nhân, mục đích, quá trình và kết quả của việc sử dụng lực lượng cảnh sát cưỡng chế, địa điểm, thời gian, số lượng và loại hình cảnh sát được sử dụng, không được có sơ hở.
Hình bộ sẽ định kỳ xét duyệt loại hồ sơ này. Nếu địa phương nào có vấn đề làm trái quy định, quan viên của Hình bộ địa phương sẽ đến mời trưởng quan hành chính đó "uống trà".
Tùy tình hình mà số lần "uống trà" sẽ khác nhau. Trong trường hợp nghiêm trọng, Hình bộ thậm chí có thể tạm đình chỉ chức quyền của huyện lệnh, quận trưởng, báo cáo lên cấp trên để tiến hành điều tra sâu hơn.
Đến nước này, quận trưởng và huyện lệnh sẽ rất nguy hiểm.
Như vậy, có thể hạn chế việc huyện lệnh, quận trưởng lợi dụng lực lượng cảnh sát để làm việc riêng, hoặc tùy ý làm bậy, làm mưa làm gió, động một tí là ức hiếp kẻ yếu, ức hiếp dân chúng hoặc quan lại cấp dưới.
Sự tham gia của Hình bộ và Bộ Tài chính cũng khiến cảnh sát không thể trở thành tay chân riêng của trưởng quan hành chính địa phương, không thể để trưởng quan hành chính địa phương một tay che trời trong khu vực quản hạt của mình, chống lại triều đình.
Cho nên, các huyện lệnh, quận trưởng vì khiếp sợ uy áp và trách nhiệm của Hình bộ, bình thường đều chọn "đa sự bất như thiểu sự", có thể khuyên nhủ thì khuyên nhủ, có thể điều giải thì điều giải, cố gắng không dùng đến việc cưỡng chế, sử dụng bạo lực.
Đương nhiên, trong tình huống đột phát, nếu đối phương bạo lực chống đối, không tuân quy củ, thì không cần trưởng quan hành chính hạ lệnh, một cảnh sát trưởng cũng có thể ra lệnh cho bộ hạ của mình tại chỗ sử dụng bạo lực trấn áp.
Tư Mã Ý làm Huyện lệnh ba năm, quận trưởng ba năm, đô hộ bốn năm, tổng cộng cũng chỉ dùng thân phận trưởng quan hành chính ra lệnh cho cảnh đội xuất động cưỡng chế chấp pháp ba lần, mà cả ba lần đều có nguyên do chính đáng, không hề vì tư lợi cá nhân.
Đương nhiên, bởi vì lần nào cũng có thương vong, nên lần nào hắn cũng phải khổ sở viết báo cáo giải trình. Sau đó còn bị quan viên Hình bộ lấy danh nghĩa thăm hỏi mà thực chất là tra hỏi tới hai lần, cốt là để đảm bảo Tư Mã Ý không lợi dụng cảnh lực để tư lợi.
Thế nên hắn cũng chẳng hề muốn điều động cảnh sát quy mô lớn để cưỡng ép làm việc. Nếu xảy ra chuyện, có người thương vong, Hình bộ chắc chắn sẽ làm phiền chết hắn, mà viết báo cáo thì viết mãi không xong.
Đừng tưởng Huyện lệnh, quận trưởng nắm trong tay lực lượng cảnh sát, mà vênh váo với Thứ sử. Mấy vị Huyện lệnh gan dạ còn dám cãi lý với Thứ sử, chứ trước mặt quan viên trung ương thì chẳng khác nào cháu con, chẳng dám ngóc đầu lên.
Quận trưởng bổng lộc hai ngàn thạch mà phải khép nép nói chuyện với mấy vị Lang trung bát phẩm của bộ trung ương là chuyện thường ngày.
Cúi đầu khom lưng, cười làm lành là bộ ba kỹ năng mà quan viên địa phương nào cũng phải thuần thục, nếu không thì khó mà ứng phó được đám lão gia ở các chi nhánh bộ trung ương đóng tại địa phương.
Bọn họ phẩm hàm tuy thấp, nhưng quyền hành lại lớn. Trưởng quan địa phương mà xảy ra xích mích với họ thì thường chẳng được lợi lộc gì.
Tư Mã Ý được xem là bậc thầy về khả năng chịu áp lực. Một vị đô hộ hai ngàn thạch, đi đâu cũng có tám trăm quận cảnh tiền hô hậu ủng, uy phong lẫm liệt, nhưng hễ gặp phải một vị Lang trung bát phẩm của bộ trung ương thì cũng chẳng còn chút uy phong nào.
Vậy nên, khi đối mặt với tình huống đám thương hộ tập thể gây rối, tập thể chống đối đóng cửa tiệm thế này, Tư Mã Ý vô cùng xoắn xuýt.
Hắn chẳng còn biện pháp nào khác, cũng chẳng có ý định giảng đạo lý với ai. Vậy nên, trong tình huống này, nếu không cưỡng chế động vũ lực thì chẳng có cách nào hoàn thành nhiệm vụ.
Nhưng cưỡng chế động vũ lực thì khó tránh khỏi thương vong, thậm chí chết người. Đến lúc đó, Hình bộ có mà làm phiền chết hắn, thậm chí còn đổ thêm dầu vào lửa.
Còn nếu không làm vậy, cứ ôn tồn khuyên giải, thì chắc chắn một đám người không chịu đóng cửa tiệm. Đến lúc đó, khủng hoảng kinh tế ập đến, họ phá sản hết cả lũ, Bộ Tài chính chắc chắn sẽ không tha cho hắn.
Trái lo phải nghĩ, Tư Mã Ý bỗng thấy mình có chút ấm ức.
Đô hộ nhiệm kỳ sắp hết, đang là thời điểm mấu chốt để điều đi nơi khác, lại xảy ra chuyện này.
Bị kẹp giữa hai thế lực lớn là Hình bộ và Bộ Tài chính, hắn chẳng khác nào chuột chạy trong ống bễ, hai đầu đều bị ghét bỏ, trong ngoài đều chẳng ra gì. Hễ có chút gió thổi cỏ lay, trách nhiệm đều đổ lên đầu hắn, còn công lao thì thuộc về trung ương hết.
Cái chức quan hai ngàn thạch này còn chẳng dễ chịu bằng tân lang quan lúc chưa cưới vợ.
Không được, không thể để bọn chúng đổ vỏ lên đầu mình được. Ngoan ngoãn làm kẻ chịu trận thì chẳng có kết cục tốt đẹp nào, chủ động tấn công mới có đường sống!
Không thể cứ thụ động thế này, nhất định phải chủ động làm gì đó, giành lại quyền chủ động, nếu không sẽ bị hai lão gia bộ môn này hố chết mất.
Bây giờ không làm, khó đảm bảo sau này sẽ không bị bọn chúng đẩy ra làm kẻ chịu tội thay.
Mấy bộ trung ương không chỉ hống hách, mà còn giỏi đổ vỏ. Chuyện này Tư Mã Ý đã nếm trái đắng một lần nên biết rõ.
Tuyệt đối không được tin vào tiết tháo của đám người kia. Tin vào tiết tháo của chúng, còn không bằng tin người Hung Nô sống lại, tiến vào Trung Nguyên lập chính quyền.
Tư Mã Ý tuyệt đối sẽ không bao giờ tin vào cái gọi là tiết tháo của đám người trong bộ trung ương nữa.
Thế là Tư Mã Ý phát huy tuyệt kỹ gia truyền – chung cực kháng áp thuật.
Hắn trấn tĩnh lại, bình tĩnh suy xét cục diện mình đang đối mặt, suy xét ưu thế và nguy cơ của bản thân, rồi đưa ra quyết định.
Hắn quyết định thu thập lại bản thân, trực tiếp xông đến phân bộ của Bộ Tài chính đặt tại An Nam Đô Hộ phủ, đi tìm người phụ trách phân bộ, Lang trung Bộ Tài chính Nhậm Vĩnh.