"Rượu mùa đông năm nay cất xong rồi, đủ uống suốt một mùa đông."
Đại quân vừa bước vào trướng, câu đầu tiên thốt ra lại là câu này. A Ma Sắc cẩn thận từng li từng tí ngẩng đầu lên, thấy trong tay Đại quân xách một vò gốm bụng tròn mặt nhám, hương rượu thoang thoảng tựa mùi lê bay tới, ngửi thôi cũng đã khiến người ta say lòng. Rượu ngon của Thanh Dương ở Đông Lục có mỹ danh là "Thanh Dương Hồn", ngửi qua tuy thơm ngát như hoa quả, nhưng lại là một trong những thứ rượu mạnh nhất. Mỗi năm phải đợi đến cuối thu mới đem rượu thô ủ men đi cất, người bộ tộc Thanh Dương phải dựa vào thứ rượu mạnh này để qua hết một mùa đông.
Đại quân đặt vò gốm lên chiếc bàn nhỏ cạnh giường, tự mình khoanh chân ngồi lên trước, quay đầu nhìn A Ma Sắc một cái: "Mắt Kính Long lại cao thêm rồi. Đừng làm kinh động tới Mộc Lê và phu nhân, đi tìm hai cái chén tới đây, ta và Hợp Tát nếm thử rượu mới cất."
A Ma Sắc cất tiếng dạ ran rồi lui đi, thỏ thẻ bất an tránh né ánh mắt của đám nữ nô, lén lấy hai chiếc chén sâu bằng bạc trạc mang về. Suốt dọc đường, cậu chỉ thấy mấy gã võ sĩ mặt lạ đang nghiêng mình nấp một nửa sau lều trướng. Nhà Mộc Lê người ra kẻ vào tấp nập, cũng chẳng ai chú ý tới bọn họ, nghĩ kỹ lại chắc hẳn là người đi theo hộ vệ Đại quân.
Lòng A Ma Sắc thấp thỏm không yên, chẳng dám nghĩ nhiều, chạy chậm trở về trong trướng. Cậu đặt hai chiếc chén lên bàn nhỏ, lão già đã rụt cổ ngồi sóng vai cùng Đại quân trên giường. Ngoài rượu mới, trên bàn còn có thêm một chiếc đùi hươu nướng thơm lừng, Đại quân cũng chẳng dùng dao, cứ thế dùng tay xé thịt ăn.
"Không kinh động đến người bên ngoài chứ?" Đại quân tỏ ra dịu dàng khác lạ, vừa nhai thịt hươu vừa rót rượu cho Hợp Tát và chính mình.
A Ma Sắc lắc đầu.
Đại quân xé một miếng thịt hươu đưa cho cậu, ra hiệu cho cậu ngồi xuống tấm đệm bên cạnh: "Mắt Kính Long giỏi giang lắm, Đại Hợp Tát hồi nhỏ tại lễ Thiêu Cao đã lén trộm một chiếc đùi cừu nướng trong cung, giấu sát vào vạt áo bào, còn chưa bước ra khỏi lều đã bị Lão Đại quân tóm được."
Mặt lão già dường như hơi ửng đỏ.
"Đại Hợp Tát uống rượu đi." Đại quân nói vẻ lơ đễnh, "Đùi cừu đêm đó là ngon nhất trần đời, đến tận giờ ta vẫn nhớ như in. Khi ấy ta muốn chia nửa đùi cừu với Đại Hợp Tát, mỗi người một nửa giấu ra ngoài thì không dễ bị phát hiện, nhưng Đại Hợp Tát lại không chịu, muốn nuốt trọn một mình."
Lão già bưng chén hớp một ngụm, trông có vẻ ngượng ngùng.
"Rượu cất năm đó cũng là cay nồng nhất, hai đứa chúng ta đều muốn tự mang rượu ra ngoài uống một bữa say mèm, nhưng tìm không ra đồ nhắm, thế là đều nảy lòng trộm cắp. Sau đó Đại Hợp Tát bị Lão Đại quân hạ lệnh cởi truồng cưỡi ngựa trên tuyết, bị cả bọn chê cười, lão tự trùm chăn kín đầu ở trong nhà, suốt một tháng trời không chịu thò mặt ra. Năm ấy Đại Hợp Tát mười bốn tuổi, ta mới lên mười một."
Đại quân uống cạn một hơi cả chén rượu mạnh.
"Sa Hãn, hai người chúng ta cũng đã nhiều năm không ngồi đối diện uống rượu với nhau rồi." Ngài nhìn Đại Hợp Tát.
Sắc mặt lão già bỗng trở nên có chút kỳ quặc. Lão không còn dáng vẻ thần khí như thường nhật, im lặng nhìn dòng rượu trong vắt sóng sánh trong chén bạc, như đang ngắm nhìn hình bóng phản chiếu của chính mình bên trong. Trong trướng yên tĩnh đến mức khiến lòng người bất an, A Ma Sắc căng thẳng nhìn Đại quân, lại nhìn sang lão già. Đây là lần đầu tiên cậu nghe thấy cái tên "Sa Hãn", đó ắt hẳn là tên thật của Đại Hợp Tát. Mọi người đều biết tên Đông Lục của Đại Hợp Tát là Lệ Trường Xuyên, nhưng cái tên này không được phép gọi ra miệng, còn tên tục lúc nhỏ thời man tộc trước khi kế vị chức Đại Hợp Tát, dường như cả bộ tộc Thanh Dương chẳng còn ai hay biết nữa.
A Ma Sắc chợt cảm thấy lão già này thực ra có quá nhiều chuyện chưa từng kể cho cậu nghe, cậu chưa từng biết mối quen biết giữa Đại quân và Đại Hợp Tát có thể ngược dòng về tận thuở thiếu thời.
Lão già gãi gãi cái trán trọc lốc, cười nhạt một tiếng.
"Rượu sao lại có chút vị đắng?" Đại quân nhíu mày.
"Có phải ngũ cốc ủ rượu bị mốc rồi không?" Đại Hợp Tát nhấp một ngụm nhỏ nếm thử.
"Đều là lúa mới cả." Đại quân hất rượu đi, rót lại một chén mới rồi lại nếm thử, "Lần này ngon rồi, ban nãy là do trong chén có cặn đắng."
Bầu không khí trong trướng dường như bỗng chốc trở nên hòa hợp, Đại Hợp Tát bắt đầu xé thịt hươu, Đại quân thì lần lượt châm rượu. Trời dần dần tối sầm lại, A Ma Sắc lại lén chạy ra ngoài khiêng về một chiếc đèn đồng chín nhánh theo kiểu dáng Đông Lục rồi thắp lên, chín ngọn lửa rực rỡ soi sáng cả gian lều. Đại quân và Đại Hợp Tát đều ít nói, chỉ cắm cúi ăn uống, dần dà cả hai người đều có vài phần men say. Mặt Đại Hợp Tát đỏ bừng bừng trông như một thiếu niên, A Ma Sắc cũng lần đầu tiên nhìn thấy Đại quân say rượu, ngài có vẻ loạng choạng, bước chân xiêu vẹo, những phiến giáp sắt trên người va vào nhau kêu leng keng lách cách. Cả hai đều lẩm nhẩm mấy điệu mục ca mà A Ma Sắc nghe không hiểu, lão già cao hứng lên, cuối cùng giật lấy khúc xương đùi hươu, ngoạm từng miếng lớn gặm lấy gặm để.
"Đại quân rốt cuộc muốn nói gì với ta?" Lão già vừa gặm xương vừa lắc lư thân mình.
"Có một món đồ nhỏ, mang tới cho Hợp Tát xem." Đại quân nhấc từ bên người lên một bọc hành lý vuông vức được buộc thắt tỉ mỉ.
Ngài gạt sạch đồ đạc trên mặt bàn, mở lớp vải bông bọc ngoài, để lộ ra một chiếc tráp gỗ màu đỏ thẫm. A Ma Sắc cảm thấy chiếc tráp kia có phần quen mắt, tim bỗng đập thót một cái, nhớ ra đó chính là chiếc tráp Cửu vương mang từ phương nam về, đựng thủ cấp của Long Cách Chân Hoàng thuộc bộ tộc Chân Nhan. Đại quân khẽ mở tráp ra, trên lớp gấm đỏ quả nhiên là chiếc đầu người đã bị vôi khô hút cạn nước. Da đầu A Ma Sắc tê rần, nhưng không dám nhúc nhích.
Đại quân rút con đoản đao đeo trước ngực, đâm vào khóe miệng chiếc đầu lâu, cạy mở hàm răng đang cắn chặt. Cơ thịt của người chết sớm đã cứng đờ, âm thanh trầm đục ghê rợn phát ra khiến A Ma Sắc càng thêm bất an, thế nhưng Đại quân chăm chú nhìn vào khoang miệng đen ngòm ấy, khóe môi lại thấp thoáng một nụ cười.
"Ta biết nó ở đây," ngài lẩm bẩm, "ta biết ngay là hắn giấu ở đây mà."
Hai ngón tay Đại quân thò vào trong miệng chiếc đầu lâu gắp ra một vật. Dưới ánh lửa, ngài chậm rãi mở lòng bàn tay, một vật tựa như chiếc khuy ngọc màu thanh nhạt nằm gọn trong tay, trơn bóng lung linh đáng yêu. Lão già ghé sát lại ngắm nghía kỹ càng từ trái sang phải, rồi lắc đầu.
"Là viên Ngọc Lung Linh năm xưa ta tặng cho Bác Lỗ Cáp. Ách Lỗ nói không lục soát thấy trên người hắn, ta liền biết ngay là ngậm trong miệng hắn rồi, viên ngọc này có thể thổi ra tiếng, hắn lúc nào cũng ngậm bên mình." Đại quân ghé lại gần ngọn lửa chăm chú nhìn viên ngọc, hồi lâu không thốt nên lời.
Đại quân lấy ống tay áo lau chùi viên ngọc, bỗng nhiên đưa vào trong miệng. A Ma Sắc muốn cản thì đã không kịp nữa. Một tiếng còi kéo dài chầm chậm vang lên trong trướng, mờ mịt và trống trải vô cùng. Viên ngọc ấy khi thổi lên nghe hơi giống tiếng còi xương bò của người chăn ngựa, nhưng âm sắc lại trầm lắng hơn đôi chút, tựa như tiếng vọng từ nơi xa xăm cách trở qua một mặt nước. Giai điệu Đại quân thổi A Ma Sắc chưa từng được nghe qua, dằng dặc triền miên rất đỗi thê lương, mang theo một nỗi lạnh lẽo như gió thu. Giữa chừng có vài nốt lệch, nghe có vẻ đứt quãng ngập ngừng, nhưng khi thổi điệu nhạc này, Đại quân lại chăm chú đến thế, A Ma Sắc không dám phát ra một tiếng động nhỏ nào, chỉ lặng lẽ đứng sang một bên lắng nghe cho đến khi khúc nhạc chấm dứt.
"Là khúc nhạc của bộ tộc Chân Nhan, trước kia Bác Lỗ Cáp từng thổi cho ta nghe, không ngờ ta vẫn còn nhớ..." Đại quân nhả ngọc vào lòng bàn tay, siết chặt lấy.
Ánh nến bị ngọn gió luồn qua khe ép chao nghiêng xuống thấp, lão già ném khúc xương đùi hươu lên chiếc bàn nhỏ.
"Dù có thứ tình nghĩa này thì hối hận cũng đã muộn rồi. Bộ tộc Chân Nhan đã diệt vong, Long Cách Chân Hoàng cũng đã chết. Bạn tốt thời trẻ của Đại quân, nay chỉ còn trơ trọi khúc xương già này của ta, Đại quân định khi nào thì giết ta đây?" Lão liếc mắt nhìn xéo, hướng về phía bóng tối nơi ánh đèn không rọi tới.
Tim A Ma Sắc đập thình thịch, cả người bủn rủn, suýt nữa thì sụp xuống quỳ lạy.
Đại quân lại tĩnh lặng đến lạ thường, chỉ lắc đầu: "Sa Hãn, ý ngươi là ta không nên thảo phạt bộ tộc Chân Nhan?"
Lão già khoanh hai tay vào thắt lưng, ôm chặt lấy vạt áo bào, xê dịch mông một chút, nghiêng người quay lưng về phía Đại quân: "Biết rồi còn hỏi ta?"
"Ta toàn là đoán mò thôi, ngươi không nói, sao ta biết được?"
Lão già không hé răng nửa lời, lưng còng rạp lại trông như một con tôm khô co quắp. Đại quân lắc lư chiếc chén bạc trạc, nhìn làn rượu bên trong dập dềnh qua lại.
"A Ma Sắc, con ra ngoài đi," im lặng một lát, lão già nghiêng đầu, "ở đây không có việc của con nữa."
Đại quân xua xua tay: "Sa Hãn, ngươi định truyền lại vị trí Đại Hợp Tát cho Mắt Kính Long sao?"
Lão già ngẩn ra một thoáng, trừng mắt nhìn trân trân vào A Ma Sắc, lại nhìn Đại quân một cái, rồi trầm ngâm gật đầu.
"Vậy thì để Mắt Kính Long ở lại đi, Sa Hãn, ngươi nói đi."
Lão già cúi đầu nghĩ ngợi một hồi, lần mò móc ra chiếc túi nhỏ bằng da hoẵng, nhồi một cối thuốc, châm lửa hút rồi phả ra một làn khói xanh mờ mờ.
"Mấy năm trước gió bấc thổi mạnh, nghe nói mấy bãi cỏ lớn ở phương bắc đều thưa thớt xơ xác, chỉ có ven sông Thiết Tuyến là còn cỏ xanh tốt." Giọng lão già vừa trầm vừa khàn, như đang kể một câu chuyện cổ tích, "Sóc Bắc, Lan Mã, Sa Trì, Cửu Noãn, mấy đại bộ tộc đó có tộc nào không thả bò ngựa sang bãi cỏ của Chân Nhan bên bờ sông Thiết Tuyến? Bãi cỏ sông Thiết Tuyến rộng được bao nhiêu? Làm sao chứa nổi ngần ấy súc vật? Ăn trụi cỏ rồi thì phải ăn đến rễ cỏ, ăn sạch rễ cỏ thì sang năm chẳng còn cỏ non, không có cỏ non thì mọi người cùng nhau chết đói. Đúng vào lúc này, Chân Nhan - một bộ tộc nhỏ nhoi lại đứng lên tạo phản, còn đòi chống lại đại hội Khố Lý Cách. Lần này bộ tộc Chân Nhan bị diệt, tộc nhân đều bị bắt dời lên bắc, rốt cuộc cũng dọn trống được bãi cỏ, mọi người cùng vui mừng, quả là tốt đẹp xiết bao."
"Ừm." Đại quân trầm giọng đáp khẽ một tiếng.
"Lừa đứa mù!" Lão già dằn mạnh tẩu thuốc xuống giường, đôi lông mày hoa râm nhướng bổng lên thật cao, "Long Cách Chân Hoàng là hạng người nào? Con sư tử của thảo nguyên là kẻ ngốc chắc? Ai mà không biết kết cục của việc chống lại đại hội Khố Lý Cách? Bộ tộc Chân Nhan của hắn có được mấy vạn võ sĩ? Sóc Bắc, Lan Mã, Sa Trì, bộ tộc nào mà không thể diệt được hắn? Thế nhưng hắn vẫn cứ phải phản, hắn phản vì cái gì? Hắn không phản thì phải chết đói đấy! Những lời A Tô Lặc nói Đại quân đã nghe chưa? Cháo thịt còn chẳng được húp, cũng là phản tặc sao? Cũng là phản tặc sao? Cũng là phản tặc sao?"
A Ma Sắc hiếm khi thấy lão già nổi giận lôi đình đến thế, chòm râu của lão rung bần bật, toàn thân run rẩy, nắm đấm già nua siết chặt đến mức làn da khô khốc tựa hồ muốn nứt toác ra.
"Ừm." Đại quân vẫn trầm giọng đáp khẽ một tiếng.
Lão già hít sâu một hơi, dần dần bình tĩnh trở lại, gõ gõ tẩu thuốc, lắc đầu: "Long Cách Chân Hoàng không phản có được không? Hắn không còn đường lui nữa rồi, bãi cỏ của hắn bị người ta chiếm đoạt, sau lưng hắn là biển lớn, chẳng lẽ bảo hắn lui xuống biển mà chăn thả? Nếu là ta, ta cũng phản!"
A Ma Sắc trước mắt tối sầm, chỉ cảm thấy hai tai lùng bùng ong ong.
"Ta nghĩ ngươi cũng sẽ phản thôi." Đại quân lại gật đầu, "Sa Hãn, ngươi nói không sai, ta biết vì sao Bác Lỗ Cáp lại làm phản. Năm kia bộ tộc Chân Nhan cống nạp lần cuối cùng, trong thư của Bác Lỗ Cáp đã nói rõ, trong tộc Chân Nhan đã có người chết đói, mùa đông có những nơi người ta phải gặm cỏ khô giống như trâu ngựa, cùng đường quá mục dân đành giết ngựa ăn thịt. Mấy đại bộ tộc đều nói Chân Nhan cướp đoạt trâu bò cừu của họ, giết hại không ít người, nhưng số người họ chết còn không nhiều bằng số người chết đói bên Chân Nhan. Bản thân bọn họ không diệt nổi Chân Nhan sao? Lại phải phái sứ giả tới Bắc Đô xin Thanh Dương ta xuất binh. Bọn họ là muốn ép Chân Nhan phải làm phản, rồi mượn binh lực của Thanh Dương diệt sạch Chân Nhan, bãi cỏ sông Thiết Tuyến vẫn chia đều cho các bộ tộc. Quỷ kế bực này, Đại Hợp Tát nhìn ra được, chẳng lẽ ta lại không nhìn ra?"
Lão già ngơ ngác nhìn Đại quân.
Đại quân lắc đầu: "Thế nhưng Bác Lỗ Cáp quá ngu xuẩn. Chân Nhan cướp trâu ngựa, giết vài người của bộ tộc khác, đều không phải chuyện gì to tát, nhưng hắn lại ngỡ rằng chế độ của đại hội Khố Lý Cách là sai trái, sự liên minh của bảy bộ tộc là sai trái, thế thì sai rồi, sai lầm quá lớn. Đại hội Khố Lý Cách là chế độ mấy trăm năm nay, Tốn Vương lập ra chế độ này, bảy bộ tộc Bắc Lục chúng ta mới được coi là một quốc gia, phản đối đại hội Khố Lý Cách chính là tội phản quốc. Có đại hội Khố Lý Cách, tuy các bộ tộc nhỏ vẫn bị bóc lột hà khắc, nhưng vẫn tốt hơn thời Tốn Vương mấy trăm năm trước nhiều. Thuở ấy ngươi giết ta, ta giết ngươi, thảo nguyên năm nào cũng đầy thây chất ngất, người ta cướp vợ của nhau để sinh con đẻ cái, con cái nuôi lớn lại bị lùa ra chiến trường. Mấy trăm năm qua, Tốn Vương được mọi người tôn kính như thần thánh, chính là vì lẽ đó, ngay cả ta cũng không dám thốt ra một lời phản đối chế độ do Tốn Vương dựng nên, Bác Lỗ Cáp thì có thể làm được gì?"
Đại quân uống cạn chén rượu, đăm đăm nhìn vào ánh nến, ánh mắt ấy như đang vời vợi nhìn về nơi xa xăm.
"Cứ như vậy, mà thực sự phải tiêu diệt toàn bộ Chân Nhan sao?" Đại Hợp Tát do dự, "Trong mấy đại bộ tộc, trước kia có Đạt Đức Lý Đại Hãn Vương của bộ tộc Lan Mã giao hảo với Đại quân thì đã bị tru sát, Lão Chủ quân của bộ tộc Cửu Noãn thì bị con trai giết hại, trong nội bộ Thanh Dương mấy lão gia chủ của Sào thị kẻ chết người bị giáng chức. Nay Long Cách Chân Hoàng cũng đã chết, trên thảo nguyên này còn có ai ủng hộ Đại quân nữa?"
"Bác Lỗ Cáp không thể không chết." Đại quân trầm giọng nói, "Bây giờ kẻ muốn phá bỏ đại hội Khố Lý Cách đâu chỉ có một mình Bác Lỗ Cáp. Biết bao kẻ muốn làm Tốn Vương thứ hai, tự mình thống nhất dải thảo nguyên này, làm vị Đại quân lưu truyền cho con cháu muôn đời vạn kiếp bất biến. Bọn họ nào có giống Bác Lỗ Cáp, chỉ thỏa mãn khi có một mảnh thảo nguyên riêng cho mình, để tộc nhân an tâm chăn thả. Bọn họ là muốn giết người, giết tới khi thảo nguyên chỉ còn lại bọn họ và đám tù binh chiến tranh, rồi sau đó thảo nguyên sẽ giống như Đông Lục, biến thành một đại quốc gia thực sự, Đại quân sẽ trở thành Đại Hoàng đế của Đông Lục."
Giọng Đại quân trở nên thâm trầm, lạnh buốt: "Thế nên không một ai được phép nhắc tới chuyện giải tán đại hội Khố Lý Cách trên thảo nguyên này, kẻ nào nói, ta liền giết kẻ đó. Người man tộc chúng ta không bao giờ được tàn sát lẫn nhau nữa, mấy trăm năm trước mọi người đều là anh em một nhà, nếu lại có chiến tranh nổ ra, kẻ ngã xuống cũng vẫn là anh em máu mủ của chính mình!"
Lão già bỗng ngồi thẳng dậy, ngoảnh đầu lại, Đại quân đang nhìn lão không chớp mắt. Hai người nhìn nhau trân trân, môi lão già run run: "Thế nhưng..."
Đại quân khẽ thở dài một tiếng: "Sa Hãn, ngươi đã hơn mười năm không thèm đếm xỉa tới ta rồi. Năm đó chính ngươi bói thiên tượng, cố chấp đẩy ta lên ngôi Đại quân, nhưng ta làm Đại quân rồi lại làm bao điều trái ý ngươi. Ngươi tưởng rằng làm Đại quân là thật sự muốn làm gì thì làm sao? Tại sao ta phải giết Đạt Đức Lý Đại Hãn Vương, tại sao lại phải giết Bác Lỗ Cáp? Khi chúng ta quyết chiến với bộ tộc Chân Nhan, đàn sói trắng của bộ tộc Sóc Bắc chỉ cách Bắc Đô có hai trăm dặm thôi đấy."
"Bạch Lang Đoàn?" Đại Hợp Tát biến sắc, "Lâu Viêm muốn làm phản sao?"
Bạch Lang Đoàn là một cái tên vô cùng đáng sợ.
Bộ tộc Sóc Bắc là bộ tộc lớn thứ hai trên thảo nguyên, gia chủ Lâu thị là Lâu Viêm - Chủ quân của Sóc Bắc, luôn mang theo bên mình một vạn võ sĩ cưỡi cự lang, xưng tụng là Bạch Lang Đoàn. Cả thảo nguyên duy chỉ có bộ tộc Sóc Bắc mới có bản lĩnh thuần hóa loài sói, bọn họ bắt những con tuyết lang lông trắng từ vùng bình nguyên băng tuyết phía tây sông Hổ Đạp về, nuôi lớn từ thuở nhỏ biến thành thú cưỡi. Đội kỵ binh mà Thanh Dương Hổ Báo Kỵ kiêng dè nhất cũng chính là Bạch Lang Đoàn, những con chiến mã bình thường không con nào là không khiếp sợ trước loài sói dữ tợn, không chỉ chiến đao của kỵ binh Bạch Lang là vũ khí giết người, mà vuốt nanh của loài sói trắng cũng có thể xé toạc bụng chiến mã lôi ruột ra ngoài. Khi mùi hôi nồng nặc của loài sói từ một góc thảo nguyên xa xăm thoang thoảng bay tới, cả đàn chiến mã của kỵ binh đều sẽ hoảng loạn hí vang, sợ hãi như thể ngày tận thế đã giáng lâm.
Không lâu sau khi Đại quân kế vị, bộ tộc Sóc Bắc từng dấy loạn tạo phản, đánh thẳng tới tận chân thành Bắc Đô, cuối cùng đôi bên đều không cách nào giành phần thắng, bộ tộc Sóc Bắc đành phải giao nộp chiến kỳ, tỏ ý xưng thần quy phục Đại quân, dâng lên hai người con gái làm Yên Chi của Đại quân, Đại quân tôn xưng Lâu Viêm là nhạc phụ. Bộ tộc Sóc Bắc quay trở lại đại hội Khố Lý Cách, hơn hai mươi năm trôi qua, trận huyết chiến kinh hoàng ấy người bộ tộc Thanh Dương vẫn còn nhớ như in, nhắc tới là nhớ ngay đến sau trận ác chiến công thành, trên cánh cổng thành máu tươi đặc quánh đỏ thẫm dính bê bết khắp nơi, chầm chậm nhỏ giọt xuống, dữ tợn khôn cùng.
"Không chỉ có Sóc Bắc, các đại bộ tộc như Cửu Noãn, Sa Trì đều bố trí kỵ binh áp sát thành Bắc Đô, nếu ta không thảo phạt Bác Lỗ Cáp, liệu bọn họ có liên thủ lại thảo phạt bộ tộc Thanh Dương ta không, ta không biết, còn Sa Hãn, ngươi có biết không?"
Đại Hợp Tát lặng lẽ lắc đầu.
"Chẳng ai biết được cả, nhưng ta không thể mạo hiểm." Giọng Đại quân trầm thấp mà đầy uy lực, "Ta là Đại quân của Bắc Lục, cũng là Chủ quân của Thanh Dương, ta không có sự lựa chọn."
Đại quân đứng dậy, siết chặt viên ngọc trong tay, chầm chậm dạo bước tới cửa trướng, vén tấm rèm da cừu lên rồi dốc hết sức vung mạnh cánh tay. A Ma Sắc nghển cổ nhìn ra, dưới ánh trăng thê lương lạnh lẽo, ánh ngọc lóe lên rồi mất hút, một hạt ngọc bé nhỏ chìm sâu vào bụi cỏ, tựa như một hạt cát rơi vào biển khơi. Chút tình cảm năm xưa giữa Bắc Lục Đại quân và thủ lĩnh Chân Nhan, cứ thế tan biến giữa thảo nguyên mênh mông bạt ngàn, tựa như một giấc mộng, chẳng còn tìm thấy dấu vết nào nữa.
"Thế nên cứ như vậy, Bác Lỗ Cáp phải chết. Nếu vẫn là ta của năm xưa, dù liều mạng ta cũng phải bảo vệ Bác Lỗ Cáp, giết sạch từng kẻ trong bọn chúng thì đã tính là gì? Cưỡi ngựa rong ruổi trên thảo nguyên, có bao nhiêu kẻ kéo tới đánh ta, ta đã từng sợ hãi điều gì chưa? Nhưng giờ ta không thể nữa rồi, ta là Đại quân của thảo nguyên."
"Đây là mệnh rồi," Đại quân lắc đầu, "mệnh trời đã định sinh ra phải thế."
Đại Hợp Tát lặng lẽ ngắm nhìn bóng lưng ngài, hồi lâu không thốt nên lời, cuối cùng cầm lấy vò rượu gõ cồm cộp vào miệng chén, trầm giọng nói: "Hết rồi."
Đại quân quay người lại ngồi xuống: "Ta tới tìm ngươi là có chút việc, nói nhiều như vậy là vì lo ngươi không chịu giúp ta. Sa Hãn, ngươi là người ta tin tưởng nhất, ta có chuyện, chỉ có ngươi mới giúp được ta."
Lão già ngẩn ra một thoáng, lại khôi phục dáng vẻ biếng nhác thường ngày. Lão ôm vạt áo bào chặt hơn một chút, nghiêng đầu nói: "Ngươi đừng hòng lừa ta, lại có chuyện gì mà nhất thiết phải là ta làm chứ? Nói về cưỡi ngựa xông pha trận mạc ta không bằng Mộc Lê, nói về chỉ huy đại quân ta không bằng Cửu vương, mấy vị vương tử đều giỏi giang hơn ta nhiều, một lão già như ta chỉ đợi chết đi để Bàn Đát Thiên Thần đón lên trời hưởng phúc thôi, ta không nghe ngươi lừa phỉnh đâu."
Đại quân cũng chẳng buồn để ý tới lời lão, tự mình nói: "Sa Hãn, ngươi thấy vì sao chúng ta không thể đánh bại người Đông Lục?"
"Chuyện này còn phải nói sao? Ngoài chiến mã ra, áo giáp, đao kiếm, cung nỏ, xe cộ, chúng ta có thứ gì bằng được người Đông Lục? Người cũng chẳng đông bằng họ, làm sao đánh bại được người Đông Lục?"
Đại quân lắc đầu: "Ta lại không nghĩ như thế. Chúng ta quả thực không có trang bị tốt như người Đông Lục, nhưng chúng ta có đội kỵ binh thiện chiến nhất trên cõi đời này, chiến sĩ của chúng ta dũng cảm nhất, một người đánh mười người Đông Lục, người Đông Lục vẫn phải khiếp sợ. Thế nhưng người trên thảo nguyên chúng ta dở ở chỗ phân tán chia rẽ, Bắc Lục liệu có được mấy triệu người? Đông Lục chỉ một nước chư hầu lớn thôi số dân đã vượt xa chừng này rồi. Khổ nỗi lại chia thành bảy bộ tộc, bảy bộ tộc ngươi không phục ta, ta chẳng phục ngươi, đánh qua đánh lại. Biết bao đấng nam nhi tài giỏi đều chôn thây trong những cuộc tương tàn ấy, nếu như hợp thành một đội quân, Đông Lục sớm đã bị san phẳng rồi! Lòng người không đồng lòng, đó mới là tệ đoan lớn nhất."
Lão già nghiêng đầu nhìn ngài, không nói một lời.
Đại quân hắng giọng: "Từ khi tức vị tới nay, ta vẫn luôn suy ngẫm, vì sao Bắc Lục chúng ta lại lắm đao binh chinh chiến đến vậy? Truyền thuyết kể rằng Tốn Vương năm xưa tập hợp bảy bộ, nhất thống bộ tộc ta, là đại công nghiệp, thế nhưng tính tới tính lui, Tốn Vương chinh chiến suốt hai mươi năm, tộc nhân còn sót lại chưa đầy một phần mười, chết mất chín phần mười người mới lập nên đại nghiệp, công nghiệp này cũng đẫm máu tanh. Ta lật giở sách vở tính toán, cứ cách bốn năm mươi năm lại có một trận đại chiến, đánh từ bờ biển phía nam tới tận chân núi phía bắc, thây chất thành núi, mới đổi lại được một thời gian yên ắng. Vì thế ngày trước ngôi vị Đại quân luôn luân phiên giữa các bộ tộc, cứ qua bốn năm mươi năm chắc chắn sẽ có bộ tộc khác tới chiếm thành Bắc Đô. Thanh Dương ta có thể chiếm giữ Bắc Đô hơn bảy mươi năm nay, có lẽ còn phải nhờ phúc của Phong Viêm hoàng đế Đông Lục, thiết lữ Phong Viêm của ông ta hai lần bắc chinh, bốn mươi năm trước tàn sát mấy chục vạn người của bảy bộ tộc chúng ta, Thanh Dương ta mới duy trì được tới ngày nay."
"Nói thế là sao?" Lão già trừng to mắt, "Chẳng lẽ người Đông Lục giết người của chúng ta, ngược lại là làm điều tốt cho chúng ta ư?"
Phong Viêm hoàng đế Đông Lục tên húy Bạch Thanh, thụy hiệu Vũ Đế, chấn hưng quân võ, uy chấn biên cương, cuối cùng gầm thét khắp bảy cõi biển, thậm chí từng thống lĩnh liên quân mười sáu nước bắc phạt man tộc, là bậc hùng chủ tung hoành hiếm thấy trong các triều đại Đông Lục. Thiết lữ Phong Viêm hai lần bắc phạt, nhờ vào binh khí tuyệt hảo và trận pháp nghiêm cẩn, đã chém giết các võ sĩ man tộc máu chảy thành sông, trong lòng những đứa trẻ man tộc, ông ta chẳng khác nào ma thần của Đông Lục.
A Ma Sắc trong lòng cũng nghĩ hệt như lão già, nhưng không dám hé răng.
"Không sai." Đại quân gật đầu, "Chính vì lần đó chết mất mấy chục vạn người, địa vị của Thanh Dương ta mới được bảo toàn. Ta đã suy nghĩ rất lâu, bốn năm mươi năm lại có một trận đại chiến, tựa như một kiếp nạn hạo kiếp, âm hồn bất tán. Thực ra truy đến ngọn nguồn, chẳng qua là do Bắc Lục chúng ta quá đỗi cằn cỗi nghèo nàn. Hiện tại bảy bộ tộc đại khái có tổng cộng năm trăm vạn người, nhưng mảnh đất Hãn Châu này thực sự nuôi nổi năm trăm vạn người sao? Đám quý tộc ăn thịt cừu non uống rượu ngon, nhưng mục dân và nô lệ thì ngay cả chuột cũng phải bắt ăn, còn liên tục có người chết đói. Mỗi khi đến thời điểm này, chỉ có một con đường là khai chiến. Mỗi trận đại chiến xong, số người còn sống sót chẳng qua chỉ còn một nửa, hơn hai trăm vạn người này mới là con số mảnh đất này nuôi nổi, vả lại toàn là đàn bà con nít. Thế nhưng qua thêm bốn năm mươi năm nữa, hai thế hệ mới sinh ra, mảnh đất này lại không nuôi nổi nữa, thế là vì tranh giành nguồn nước, bãi cỏ, trâu bò cừu mà lại đánh nhau, lại có người chết. Chỉ khi để số người dư thừa kia chết đi, những người còn lại mới có thể sống sót. Cuộc phản loạn của Bác Lỗ Cáp chính là một ví dụ."
Đại Hợp Tát không kìm được phải ngồi thẳng dậy.
"Nếu Sa Hãn ngươi là Đại quân, ngươi sẽ làm thế nào?"
"Ta ư?" Đại Hợp Tát lắc đầu nguầy nguậy, "Ta chịu, ta chẳng làm nổi Đại quân đâu."
"Đông Lục!" Đại quân bỗng chộp lấy cổ tay lão, siết mạnh khiến lão đau nhói nhưng không giãy ra được, "Sa Hãn, là Đông Lục đấy! Đông Lục là vựa lương thực, là vựa lương thực mà mỗi một người đều có gạo lúa để ăn, một vùng đất bao la bạt ngàn có thể tha hồ chăn thả bò cừu. Kỵ binh man tộc chúng ta chỉ cần đặt chân lên Đông Lục là sẽ không bao giờ phải sợ hãi nữa! Ngươi nghĩ xem, kỵ binh của chúng ta từ bờ nam eo biển Thiên Thác đánh tràn xuống, ngựa của chúng ta chạy nhanh, khinh kỵ chỉ cần một tháng là có thể phi nước đại tới tận chân hoàng thành Đông Lục, không có thứ gì ngăn cản nổi kỵ binh Bắc Lục chúng ta, chúng ta có thể vòng qua các cửa ải của bọn chúng, đánh thẳng vào những nơi trù phú nhất, cớ sao chúng ta lại phải bám giữ lấy thảo nguyên cằn cỗi này chứ? Man tộc chúng ta cũng có thể làm chủ thiên hạ kia mà!"
Lão già ngơ ngác nhìn ngài, sắc mặt có chút tái nhợt, như thể không còn nhận ra vị Đại quân trước mặt nữa. A Ma Sắc cũng là lần đầu tiên nhìn thấy Đại quân như thế này, tựa như đột nhiên có một đốm lửa bùng cháy, thổi bùng lên ngọn lửa hừng hực trong lòng ngài. Đôi mắt ngài sáng quắc bức người, trên gương mặt tái nhợt thoáng hiện huyết sắc, ngài đè thấp giọng nhưng không sao nén nổi sự phấn khích cuồng nhiệt ấy, giống như những người trẻ tuổi khao khát ra trận lập công, trong huyết quản đang cuộn trào một dòng thác lũ.
"Chúng ta và Đông Lục cách nhau cả một biển lớn cơ mà!" Lão già hồi lâu sau mới thét lên, "Đại quân, ngài nghĩ cho kỹ đi, nếu không phải vì biển cả cách trở, phụ thân ngài là Khâm Đạt Hàn Vương sớm đã đánh sang Đông Lục rồi. Đó là biển đấy, một eo biển rộng hàng trăm dặm, chiến mã không có cánh, không bay lên trời được, chúng ta không có thuyền bè, tuyệt đối không có!"
"Không! Chúng ta có! Chúng ta có thuyền! Chúng ta..."
Đại quân chợt khựng lại, một bóng người đột ngột lao bổ vào trong trướng, ngài vội vàng đè chặt chuôi kiếm bên hông, thanh kiếm sắt lạnh lẽo tuốt ra khỏi vỏ một nửa, ngài chực lao vút ra ngoài.
"Đại... quân!" Người vừa lao vào ngẩn ra một thoáng, liền quỳ sụp xuống đất.
A Ma Sắc cũng hoàn hồn lại, nhìn rõ người đang quỳ trên mặt đất chính là Anh thị phu nhân, hai mắt bà đỏ hoe sưng húp, toàn thân run rẩy vì kinh hoàng bất an.
"Đứng dậy đi." Đại quân tra kiếm vào bao.
Thế nhưng Anh thị phu nhân không hề đứng dậy: "Đại quân, Thế tử... Thế tử chàng... không xong rồi!"
"Cạch" một tiếng giòn tan, tẩu thuốc trong tay lão già rơi thẳng xuống đất.