BA ĐỒNG TIỀN CỔ
Tỉnh Kiến An hôm nay rộn rịp lạ. Đó chỉ là vì theo lệnh các nhà đương chức thi hành công cuộc phòng thủ, nhiều tốp phu đã bắt đầu mang xẻng cuốc đến những bãi trống để đào hầm trú ẩn. Là một tỉnh nhỏ vẻn vẹn có mấy phố ngắn, Kiến An không đến nỗi buồn tẻ quá là nhờ những chuyến xe ô tô Hải Phòng - Nam Định, hàng ngày liên tiếp nhau đến đỗ ở phố Chợ để đón khách. Nhưng quang cảnh tỉnh có rộn rịp cũng chỉ rộn rịp được trong chốc lát mà thôi, vì một khi những chuyến xe đi rồi, để lại bên vệ đường những vết gio than còn nóng, những hàng quà rong đã lẻ tẻ trở vào quán chợ, theo sau một lũ ăn mày, thì tỉnh Kiến An lại trở lại cảnh lặng lẽ âm thầm.
Nhưng sáng sớm hôm nay, ngay chân núi Ối, ông cai Ba cẩn thận đo đi, đo lại bãi đất trống rồi sau khi cắm mấy chiếc mốc làm bằng đoạn sắt chấn song nhỏ, ông chỉ cho hai người căng dây và vạch phấn. Chỉ trong chốc lát, mấy hàng vạch phấn đã in rõ ràng trên mặt cỏ xanh, vẽ thành hình đường gấp khúc song hành bề rộng ngang chừng một thước tây. Những bọn trẻ ở đâu đã tò mò đến đó, đứng nhìn. Chúng thì thạo và chỉ chỗ, đố nhau biết được ông cai đã làm gì. Mấy bà lão đi chợ ngang qua đó cũng dừng chân đứng lại rồi một bà đánh bạo hỏi:
- Ông cai ơi, ông vẽ vôi làm gì đấy hử ông?
Một người phu nhanh nhẩu bảo:
- Vẽ để đào chứ còn để làm gì nữa!
Nhưng một bà lão cãi lại:
- Chắc các ông nói đùa chứ cống gì mà lại đào từng khúc quanh co thế này?
Thế là ông cai Ba lại phải mất một ít thời giờ để cắt nghĩa cho mấy bà lão nhà quê biết thế nào là phương pháp phòng thủ thụ động, thế nào là những hầm trú ẩn và vì sao người ta lại phải đào gấp khúc như vậy. Nghe hiểu chuyện, mấy bà lão mới nhìn nhau cười mà bảo:
- Có thế chứ, nếu ông không nói rõ, tôi lại cứ tưởng là ông “đạc điền” hay là “họa đồ” gì vậy.
Mấy bà lão chất phác đi rồi, ông cai Ba mới lắc đầu mà lẩm bẩm:
- Người đâu mà có những người ngây ngô như vậy, chẳng còn hiểu biết một tí gì cả. Ai đời thuở nào lại “đạc điền” ở chỗ xó chân núi này!
Ông cai Ba xưa nay vẫn có cái giọng khinh người như vậy, mặc dầu ông chỉ là một người cai thầu khoán, chẳng tài giỏi gì hơn ai. Nhưng sự thực, những chỗ hiểu biết của ông cũng không đến nỗi nhỏ hẹp quá. Ông tính vốn tò mò, thích học hỏi, tư chất lại cũng khá thông minh, nhưng số phận ông hẩm hiu làm sao bởi mặc dầu cố sức cậy cựa đến đâu, ông cũng vẫn không làm nên được trò trống gì ngoài cái chức cai thầu khoán.
Tóm lại, ông chính thuộc vào cái hạng người “bất đắc chí” vậy.
Vì thế cho nên, ông thường không thèm giao du với những bạn đồng nghiệp của ông, không ưa đi hát hay đánh bạc với họ, mỗi lúc rảnh rang công việc, ông chỉ thích tìm tòi những sách vở nào kỳ lạ, hoặc về khoa học, hoặc về địa dư, lịch sử, xem thôi. Thấy tính nết ông chí thú như vậy, nhiều người quen biết ông đã phải khen rằng: “Cứ như ông cai Ba thì thực ai có tốt phúc lắm mới được ông chấm làm vợ!”
Nhưng về việc này, ông không hề vội vàng. Sinh sống ở đất Kiến An đã ba năm nay, ông không hề có chơi bời hoặc bắt nhân tình, nhân ngãi với ai. Mãi người ta mới thấy ông nhờ người đánh tiếng hỏi con gái ông chánh Hợp. Biết tin này, ai ai cũng phải gật gù khen ông cai là hóm, vì người ông định hỏi là con một, nhà ông chánh lại giầu và là người thế lực trong vùng. Được làm con rể ông chánh Hợp hẳn ông cai Ba không còn sợ thiếu cơ hội để thực hành cái “trí lớn kinh doanh” mà ông hoài bão đã lâu.
Tiếc thay, một lần nữa cái số phận hẩm hiu lận đận của ông lại làm cho ông không được toại ý. Ông chánh Hợp đã trả lời bà mối rằng con gái ông hãy còn nhỏ dại quá, ông chưa hề nghĩ đến việc hôn nhân. Sự thực, ông chánh không thuận gả con cho ông cai Ba chỉ là vì ông chánh chẳng muốn có một người tế tử chỉ làm cai thầu khoán. Tuy trả lời bà mối nhã nhặn như vậy, nhưng với mấy người đến hỏi han về việc này, ông chánh Hợp có vẻ khinh bỉ mà cười nhạt bảo rằng:
“Thực đũa mốc chực chòi mâm son, cái thứ thằng cai thầu khoán ấy làm con rể tôi sao đúng!”
Mong manh biết tin này, ông cai Ba xấu hổ vô cùng và từ khi có chuyện ấy, ông dù mưa nắng, bao giờ cũng đạp vòng xe đạp ra lối khác chứ không dám qua cửa nhà ông chánh nữa.
Một câu chuyện nhỏ nhặt như chuyện hỏi vợ không xong của ông cai Ba cũng đủ làm cho nhiều người trong tỉnh lấy đó làm đầu đề bàn đi tán lại. Chẳng phải là vì người ta có tính xấu bới móc chuyện người, nhưng vì tỉnh Kiến An nhỏ hẹp quá, người ta thường buồn chán quá, không có chuyện gì mà nói, nên một khi có xẩy ra việc gì dù tầm thường, cũng thành ra quan trọng.
Chuyện ông cai Ba vừa mới nhàn nhạt dần thì dân trong tỉnh lại vui mừng vì thấy có cuộc phòng thủ, đào hầm trú ẩn, một đầu đề có thể coi là quan trọng và không chừng sẽ đủ cho người bàn tán quanh co đến mấy chục ngày. Vì thế cho nên tuy chẳng có gì mà dân trong phố cũng rủ nhau đi xem đào hầm, đứng xúm xít mà chỉ trỏ chuyện trò, bàn tán lắm câu rất là ngô nghê quê kệch.
Ông cai Ba nghe mãi phải chán ghét, tức mình bỏ trèo lên trên một tảng đá cao, ngồi riêng biệt ra để tiện vừa trông phu, vừa khỏi phải trả lời những câu hỏi lẩn thẩn.
Ông ngồi như thế cho mãi đến chiều. Mặt trời đã bắt đầu gác chếch, mà bọn phu cũng đã đào được khá sâu. Ông cai Ba vừa nhìn ra phía xa, vừa nghĩ bụng: “Ta ngồi đây nửa giờ rồi xuống biên công cho phu về nghỉ.”
Nhưng giữa lúc ông còn vẩn vơ nghĩ chuyện đâu đâu, thì đã thấy có tiếng cãi nhau của mấy người phu đứng xúm cả lại.
- Của người ta tìm thấy chứ lại!
- Thôi đi! Nhận chằng thế nào được, chính chỗ ấy là của người ta, vừa đào lên!
Ông cai Ba nghe tiếng rầm rĩ, vội vàng trèo xuống, đến bên bọn phu, dùng giọng kẻ cả mà bảo rằng:
- Có làm đi mà về không, cái gì mà cãi nhau ồn lên thế?
Mấy người phu lúc này lại tranh nhau mà nhờ ông cai Ba phân xử, mỗi người viện một lý, líu ta líu tíu mãi, ông hỏi đi hỏi lại mới vỡ chuyện ra rằng bọn phu vừa đào đất tìm được mấy đồng tiền lạ, mà họ yên trí là tiền vàng.
Cầm lên tay hai đồng tiền vừa to gấp đôi tiền thường vừa dầy nặng, ông cai Ba cố đọc những nét chữ đã gần mờ hết rồi cầm cạnh một đồng mài thử xuống phiến đá. Một lát, ông xem kỹ lưỡng rồi mới đưa trả bọn phu, mỉm cười mà bảo rằng:
- Mới có thế mà đã tranh nhau cuống quýt, tiền cổ thực đấy, nhưng là tiền bằng đồng chứ vàng với bạc gì!
Bọn phu xúm lại xem kỹ càng một lượt mới cùng cười mà bảo:
- Ừ, bằng đồng thực nhỉ, thôi, anh nào muốn “khước” thì xin về đeo cổ cho con!
Nhưng ông cai Ba sực nhớ đến nhiều tin mà ông đã được đọc trên các báo gần đây, nói tới những vụ đào đất rồi tìm thấy cổ mộ, hoặc hang lạ ở những vùng như Ninh Bình, Bắc Giang chẳng hạn. Ông lập tức hối bọn phu đào nhanh xuống sâu hơn nữa xem có thấy gì lạ không. Bọn này cũng hy vọng rằng sẽ tìm được thấy tiền của hoặc vàng bạc chôn giấu, nên cùng hăm hở đào đất, không cần thôi thúc mà công việc tiến nhanh một cách lạ lùng.
Nhưng họ đã phí công vô ích. Sau đó nửa giờ, trừ một đồng tiền cổ, giống như hai đồng trước, nhưng bị mẻ mất một chỗ, họ không tìm thấy gì hơn cả. Mặt trời lúc này đã khuất hẳn sau rặng núi Thiên Văn. Ông cai Ba mở cái túi xem giờ bảo bọn phu rằng:
- Đến giờ nghỉ rồi, các bác ạ. Dầu có gì nữa thì cũng hãy để đến ngày mai!
Bọn phu theo lời, lần lượt xoa bàn tay phùi đất bám đầy, rồi nhẩy lên trên miệng hố. Nhưng một người lúc nhẩy lên đã hất mạnh túi áo, đánh tuột một bao diêm, lăn xuống góc hố phía trong cùng, thành ra đã nhẩy lên rồi lại phải trèo xuống. Cúi mình tìm nhặt bao diêm, đột nhiên người này bỗng kêu bảo anh em:
- Có cốt, các chú mình ạ! Đây này, xuống mà xem, tớ thò tay thế nào sờ ngay phải mẩu xương sọ nhẵn thín!