MỘT THỦ PHẠM NHẤT ĐỊNH
BUỘC TỘI CHO MÌNH
Kỳ Phát vẫn lắc đầu:
- Không có lẽ nào thế!
Ông chánh ung dung đứng dậy, đến bên một chiếc tủ, rút ra một tập bìa mầu xanh, trên đề bằng bút chì đỏ mấy chữ: Vụ án chánh Hợp. Ông lục tìm một tờ giấy đưa cho Kỳ Phát xem rồi nói rằng:
- Tôi cãi với ông cũng là vô ích, xin ông hãy đọc tờ ghi lời khai của An sẽ rõ!
Chúng tôi cùng xúm đến bên Kỳ Phát ghé đọc. Đó là tờ khai của An cung xưng rằng chính chàng đã giết ông chánh Hợp, giết trong một cơn điên cuồng mà cũng là vì có mối thù từ trước! Chàng xin nhận hết tội lỗi, rất hối vì đã làm cho một người con gái bị mất chỗ tựa nương, cuối cùng xin báo cho người nhà ở Thái Bình biết để ra cho An nhắn nhủ vài lời.
Kỳ Phát xem xong, chỉ nhún vai mà không nói gì. Ông Chánh nói thêm rằng:
- Có lẽ ông cho An là điên cuồng chăng?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Cũng không là điên cuồng hẳn. Nhưng trước hết, xin ông cho biết rằng ông đã theo lời dặn mà báo cho vợ con An biết chưa?
Ông chánh trả lời:
- Đã, vả lại tôi nghĩ rằng như thế may ra hỏi thêm được mấy chứng tá nữa và vụ án này nhờ thế mới có thể rõ ràng hẳn được.
Thấy Kỳ Phát lặng im không nói gì, ông chánh hỏi:
- Có lẽ ông không đồng ý kiến về việc ấy chăng?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Như ý tôi thì có vợ con An ra chỉ thêm khó khăn cho cuộc tra xét…
Ông chánh hỏi lại:
- Ấy là tôi nói thế mà thôi, như vụ này thì còn gì mà tra xét nữa?
Kỳ Phát thản nhiên, nói:
- Không, tôi nói đây tức là cuộc tra xét của tôi!
Rồi bỗng đứng dậy, Kỳ Phát bảo ông chánh:
- Bây giờ thì tôi chỉ xin ông gia ơn cho tôi một điều là ông cho phép tôi được vào thăm An trong nửa giờ!
Ông chánh vui vẻ gật đầu:
- Được, điều đó thì không khó gì cả, để tôi viết mấy chữ…
Và ông lấy luôn một tờ giấy phép, chính tay viết mấy dòng rồi đóng dấu. Trao cho Kỳ Phát, ông chánh nói thêm:
- Đây, ông muốn vào thăm mỗi ngày mấy lượt cũng được, và lâu chừng nào tùy ý. Tôi có dặn riêng ông chánh đề lao rằng ông vào cốt để tìm thêm chứng cớ cho vụ này, nên phải đặc biệt để ông tự nhiên…
Mỉm cười, ông chánh tiếp:
- Nhưng có điều ông cũng nên mở cuộc điều tra gâm gấp, vì ít ngày nữa, lẽ tất nhiên án này phải tự tòa…
Kỳ Phát cảm ơn ông chánh, ung dung nói:
- Tôi chỉ xin ông nhiều nhất là bốn mươi tám giờ!
Kỳ Phát vừa ra đến cửa Sở, đã gặp vợ An khóc khóc mếu mếu đứng đấy. Thấy chúng tôi, vợ An như người tỉnh hẳn lại líu tíu hỏi:
- Vậy ra ông còn ở ngoài này… Tôi được tin, lên Hà Nội tìm mới biết ông đi vắng… Tôi vừa đến đây, định xin vào yết kiến ông chánh thì người loong toong nói ông chánh còn có khách, phải chờ! Ngờ đâu, khách lại là ông!
Không để cho chúng tôi kịp nói năng gì, vợ An đã tiếp:
- Xin các ông thương chúng tôi, kêu với ông chánh tha cho nhà tôi ra. Quả thực nhà tôi vô tội vì đâu có gan làm những việc ghê gớm ấy?
Kỳ Phát dịu dàng nói:
- Xin bà cứ yên lòng…
Vợ An lại nói:
- Ruột gan tôi bây giờ như tan nát. Tôi không còn biết nói năng xử trí ra sao… Muôn sự xin nhờ các ông hết thẩy… Ông kêu với ông chánh một lời…
Trúc Tâm lắc đầu:
- Việc này khó khăn lắm vì chính ông nhà lại đã cung khai rồi!
Vợ An giãy nảy nói:
- Chết chưa, sao lại cung khai bậy bạ thế! Chắc nhà tôi điên rồ rồi hay sao nên mới đâm ra thế! Nhưng tôi biết chắc rằng nhà tôi không khi nào có gan cầm dao giết người… Nhà tôi tù tội làm sao thì mẹ con tôi đến chết mất…
Tôi thấy tình cảnh khốn quẫn của người thiếu phụ gặp tai bay vạ gió cũng động lòng thương an ủi:
- Xin bà cứ yên lòng, chốc nữa, chúng tôi sẽ đến…
Nhưng Kỳ Phát đã vội lừ mắt, rồi ngắt lời tôi bảo:
- Chúng tôi sẽ liệu cách cứu ông nhà ra khỏi vòng tội lỗi. Tôi có thể nói ngay bây giờ để bà được yên tâm: Chính tôi cũng hết sức tin rằng ông An nhà không phải là thủ phạm. Khốn nhưng bà tin thế, tôi tin thế, không có giá trị gì trước pháp luật cả. Chúng ta phải có chứng cớ… Bây giờ là lúc tôi đương đi tìm những chứng cớ xác thực ấy đây…
Ngừng lại một lát, Kỳ Phát tiếp:
- Nhưng nếu thực bà tin cậy ở tài tôi có thể cứu được ông An thì bà phải để yên cho tôi tìm tòi, tra xét… Bà làm cuống quýt lên thì chỉ khó khăn thêm cho công việc của tôi… mà không chừng thủ phạm biết tin, trốn chạy thì thực là cái nguy không sao cứu gỡ cho ông An được nữa!
Vợ An tỏ vẻ lo lắng, sợ hãi hỏi:
- Vậy bây giờ ông dạy tôi nên làm thế nào?
Kỳ Phát nhìn thẳng vào mặt thiếu phụ mà nói:
- Bà nên nghe tôi mà cho cháu về ngay Thái Bình!
Nhưng thấy vẻ mặt quá lo âu của thiếu phụ, Kỳ Phát dịu bớt lời tiếp:
- Hoặc nếu bà nóng ruột muốn đợi tin lành thì bà phải về nhà trọ, yên lặng ở đó đợi lúc tôi đến báo tin… Vừa rồi, tôi có hẹn với ông chánh rằng sẽ tìm ra thủ phạm vụ này nội trong bốn mươi tám giờ nhưng riêng với bà tôi có thể nói rằng tôi có thể hy vọng sẽ làm cho ông nhà được tự do sau đây lâu nhất là hai mươi giờ!
Thiếu phụ theo lời, đi rồi, Kỳ Phát mới quay lại trách tôi:
- Anh này thực ngờ nghệch quá, suýt nữa nói rằng chúng ta sắp sửa vào thăm An thì vợ hắn nhất quyết đòi theo, có phải rầy rà cho chúng ta không!
Tôi nói:
- Nhưng trông người đàn bà khốn quẫn quá tôi thương hại…
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi cũng thương, nhưng có phải cứ để chồng người ta ngồi tù mãi là thương đâu! Anh nên nhớ rằng chính tôi là người nóng nẩy, bồn chồn hơn ai hết vì rằng tôi đã hứa từ trước rằng quyết sẽ không để cho An phải việc gì!
Chúng tôi vừa nói vừa đi về phía nhà lao. Đưa tờ giấy của ông chánh Sở Liêm phóng ra, viên quản đề lao cẩn thận gọi điện thoại hỏi lại một lượt sau đó thì niềm nở mời chúng tôi vào, vừa cười vừa nói rằng:
- Xin các ông cứ tự nhiên. Như thế này, các ông không phải là những người được phép đến thăm phạm nhân, mà chính là viên chức liêm phóng đã tra xét. Như vậy tức là ông muốn đến lúc nào cũng được…
Tò mò nhìn chúng tôi, viên quản lại cười mà tiếp:
- Tôi vừa được ông chánh cho biết rằng ba ông đều là người có danh vọng, nhưng tôi không rõ ông nào là ông Kỳ Phát, ông nào là ông thanh tra Trúc Tâm, ông nào là phái viên của tờ báo giá trị nhất Hà Nội…
Chúng tôi đành phải lại theo phép xã giao, giới thiệu lẫn cho nhau, từ tốn mấy lời rồi mới vào buồng giam của An.
Anh chàng lúc này trông không còn ra người nữa, kể so với mấy lần trước đến tìm chúng tôi thì còn phờ phạc, ngơ ngác gấp mấy mươi lần… Hai mắt chàng sâu hoắm hẳn xuống, đôi má lớp vào như già thêm mấy tuổi, cặp môi nhợt nhạt như một người bị bệnh thiếu máu lâu năm!
Cánh cửa vừa mở, thoáng nhìn thấy chúng tôi, mắt An sáng hẳn lên, đứng phắt dậy. Nhưng chàng lại bỗng buồn rầu ngồi xuống, thở dài, đưa tay lên dụi mắt!
Kỳ Phát tiến đến gần bên, để một tay lên vai rồi ôn tồn bảo:
- An tưởng mê ngủ hay sao đấy?
An giật bắn người lên. Chàng ngơ ngác nhìn chúng tôi một lúc lâu, rồi lộ vẻ vui mừng nói:
- Các ông ra đây từ bao giờ? Làm sao mà xin được phép vào thăm tôi… Tôi đương sốt ruột về ở nhà quá, nhưng may có các ông vào đây, tôi sẽ có thể dặn được mọi điều… Được tin này thì nhà tôi đến chết mất thôi, mà thằng cháu chẳng biết độ này có chịu ăn chơi không?
Ngừng lại một lát, An thở dài:
- Chắc nó không ngờ đâu lại có một người bố là kẻ sát nhân!
Kỳ Phát dịu dàng bảo:
- Ông cần phải bình tĩnh mới được! Mọi việc ở nhà ông không việc gì phải lo! Ai nấy đều khỏe mạnh cả và cũng chưa được tin dữ dội này… Vậy bây giờ chỉ cần làm thế nào để tỏ được nỗi oan của ông, rồi ông sẽ bình tình về nhà, làm như không có việc gì xẩy ra cả!
An ngạc nhiên, nhìn Kỳ Phát rồi hỏi:
- Luật pháp công minh lắm, che giấu thế nào được! Vả lại tôi đã cung khai tường tận mọi việc rồi!
Kỳ Phát sẽ lắc đầu:
- Tờ cung đó, tôi đã xem, nhưng tôi biết đó chỉ là vì lúc ông đương mê mẩn tâm thần nên mới khai bậy bạ như vậy. Tôi biết chắc rằng ông không phải là thủ phạm giết ông chánh Hợp!
An bỗng cười, cái cười nghe mới rùng rợn làm sao:
- Chắc chính tay tôi giết hắn thì tôi hẳn phải biết rõ hơn ông!
Kỳ Phát hỏi:
- Nhưng vì cớ gì mà ông giết chánh Hợp!
Ngần ngại một lát, An nói:
- Tôi giết vì thù…
Kỳ Phát tiếp ngay:
- Chắc ông muốn nói cái thù tiền kiếp!
An giật mình, hỏi lại:
- Tại sao ông lại biết thế!
Kỳ Phát ung dung, rút thuốc lá ra hút:
- Lẽ tất nhiên tôi phải biết, nhưng ông cũng cứ kể tôi nghe rồi tôi sẽ cắt nghĩa để ông hiểu cái thù tiền kiếp ấy duyên do thế nào?
An ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi đã trót thề với người ta vì thế nên mới không khai trong tờ cung. Nhưng ông đã biết rõ việc này… Vả lại, tôi cũng muốn để ông thuật lại cho nhà tôi nghe, cho con tôi về sau này nghe, để nó biết rằng tôi chỉ vì định mệnh mà đã giết người…
Ngừng lại một lát, An lại tiếp:
- Thực có số mệnh, ông ạ! Tôi cũng không ngờ rằng cái cẩm nang của lão lang khách lại đúng đến thế! Mà lạ một điều là ngay năm, sáu trăm năm trước cũng đã có một bản cẩm nang đúng hệt như thế rồi!
Kỳ Phát điềm tĩnh hỏi:
- Bản cẩm nang kia thế nào, ông đọc được ở đâu?
An nói:
- Ấy, chính là ở trong chiếc hộp tròn bằng đồng đen ở cổ người bị giết sáu trăm năm trước… Buổi sáng hôm ấy, tôi và bác cai Ba đi chơi quanh, đến chỗ hầm trú ẩn đào ở núi Ổi, tình cờ tôi chợt trông thấy sợi dây chuyền và cái hộp tròn… Chúng tôi lấy lên xem, thấy từ sợi dây đến chiếc hộp đều chạm trổ tỉ mỉ biết ngay là vật cổ…
Kỳ Phát ngắt lời:
- Có, tôi đã được xem kỹ lưỡng!
An gật đầu:
- Nhưng ông chắc không ngờ rằng trong hộp đó lại có một tờ giấy nhỏ, viết câu cẩm nang, giống hệt như bản cẩm nang của tôi… Bản cẩm nang tuy để đã năm, sáu trăm năm nhưng chữ không đến nỗi phai lắm, còn đọc được, có lẽ là vì để trong hộp kín!
Kỳ Phát gật đầu:
- Ông nói cũng có lẽ, nhưng để lâu ngày, nắp hộp han gỉ ông mở ra được tất phải khó khăn lắm!
An lắc đầu:
- Không, tôi xoay một vòng thì mở được hộp ra ngay. Ông cai Ba không biết chữ nho, nên bảo tôi đọc cho ông nghe…
Kỳ Phát hỏi:
- Thế bây giờ bản cẩm nang ấy ông để đâu?
An trả lời:
- Tôi đốt đi mất rồi, đốt cùng với cả bản cẩm nang của tôi! Nhưng tôi còn nhớ lắm, để tôi đọc đại ý nghĩa mấy câu ấy ông nghe: “Đời người phù hư mộng ảo, kiếp này qua kiếp khác: của châu ngọc, thanh gươm sắc, thẩy đều là những vật giết người. Năm kiếp trước mi bị người hại, thì kiếp này mi lại hại người. Ôi, nghiệp báo oan gia, nợ máu lại phải trả bằng máu! Như thế mới là hợp lẽ chính vậy!” Câu cuối cùng này bản cẩm nang của tôi không có!
Kỳ Phát rút cuốn sổ tay ghi chép mấy dòng, An nói tiếp:
- Thấy hai bản giống nhau quá, tôi sợ hãi toát mồ hôi, thấy thế, ông cai Ba có bàn với tôi hãy giấu bức cẩm nang đi mang về nhà rồi sẽ đưa trình các nhà chuyên trách…
Kỳ Phát hỏi:
- Sau bàn tán thế nào mà ông lại giết chánh Hợp!
An ngẫm nghĩ một lát, rồi nói:
- Tôi cũng chẳng hiểu làm sao nữa… Hình như tôi để ý một điều là tại sao mà lão lang khách lại không biết nốt câu cuối cùng trong cẩm nang của tôi? Theo lời cai Ba thì đó là vì lão lang khách sợ lộ thiên cơ, mắc tội. Tôi nghĩ mãi về câu cuối cùng, thấy theo nghĩa thì không có gì là quan hệ cả… Nhưng sau cùng, chợt thấy chữ Hợp có khuyên son, tôi đoán: Hay đó là một tên người. Cai Ba cố lục lọi trong trí, sau bảo tôi rằng: “Trong số những người hắn quen biết ở Kiến An cũng nhiều nhưng không có ai tên là Hợp cả ngoài ông chánh Hợp!” Nghe tên chánh Hợp, tôi giật mình… Phải rồi, “hợp lẽ chính”, hay “lẽ chánh” thì cũng vậy, nếu thế thì tất phải là chánh Hợp rồi… Lúc đó trong óc tôi bối rối quá, vì tôi nghĩ lan man đến nhiều chuyện ghê rợn mà tôi không dám mang ra nói với cai Ba… Thấy tôi có vẻ ưu phiền, cai Ba quả thực là một người tốt, hắn luôn luôn khuyên tôi không nên nghĩ ngợi. Khi người ta đã tin số phận thì cứ mặc số phận muốn xoay xở ra thế nào thì xoay!
Kỳ Phát sực nhớ bỗng hỏi:
- Rượu thường ông uống có được nhiều không nhỉ?
An lắc đầu:
- Không, tôi vốn không uống được rượu. Nhưng từ ngày ra Kiến An cùng trọ với cai Ba thấy hắn bữa nào cũng uống, mời tôi nên tôi tập uống dần dần.
Kỳ Phát có vẻ suy nghĩ bảo An:
- Xin ông hãy thuật lại cho tôi nghe thực rõ ràng lúc ông giết chánh Hợp như thế nào?
An lắc đầu:
- Có lẽ lúc ấy tôi như điên cuồng, nên bây giờ không thể nào nhớ được rõ nữa. Hình như buổi tối hôm ấy, tôi uống rượu say hơn ngày thường, rồi tôi đi nằm… Rồi không biết làm sao tôi vùng dậy, hay là có ma quỷ ám ảnh gì tôi mà tôi đi đến rặng núi Ổi, rồi giết chánh Hợp…
Cố hết sức nhớ lại những việc xẩy ra mà không thể được, sau cùng, An đành lắc đầu mà tiếp:
- Tôi không thể nào nhớ lại được rõ ràng mọi việc… Tôi chỉ biết rằng sau đó, tôi trở về nhà, ngủ quên đi cho đến lúc gần sáng thì cai Ba bỗng gọi tôi mà hỏi tại sao quần áo tôi lại có vết máu… Tôi như người mê chợt tỉnh, sợ hãi lắm, nhưng chẳng biết trả lời được mấy câu đã lại quay ra ngủ… Vào khoảng năm giờ thì tôi chợt tỉnh hẳn. Tôi nghe thoáng qua thấy bên ngoài bọn người nhà nói có xẩy ra vụ án mạng ở núi Ổi, chợt nhớ lại quần áo mình đầy máu, tôi sợ hãi quá, chân tay bủn rủn hẳn ra, muốn bỏ trốn mà không sao đứng dậy được. May thay có cai Ba. Hắn thấy quần áo tôi đẫm máu, lại thấy người bị giết quả là chánh Hợp, đúng như lời trong cẩm nang thi không nghi ngờ gì nữa, buồn rầu bảo tôi rằng: “Đây quả thực là cái nghiệp chướng truyền kiếp. Nhưng ông đừng ngại, tôi sẽ không hở ra cho ai biết. Bây giờ cần nhất là ông hãy thay quần áo rồi vờ kêu ốm mệt, để cho khỏi ai ra vào phiền nhiễu làm gì. Những quần áo kia đợi lúc vắng người, tôi sẽ mang giặt cho hết tang tích.”
Thở dài, An ngừng một lát rồi lại tiếp:
- Tôi lúc ấy như người mất hồn nên ông cai Ba bảo gì tôi đều nhất nhất vâng lời. Nhưng càng nằm, càng nghe thấy bên ngoài bàn tán đến cuộc tra xét gắt gao của các nhà chức trách, tôi thấy rằng sớm muộn rồi tôi là hung phạm cũng bị khám phá ra. Tôi thấy lạnh người khi nghĩ đến lúc vào nằm đề lao, lúc vợ và con tôi nghe thấy tin dữ. Ông cai Ba quả thực là người tử tế, ông luôn luôn ra vào săn sóc tôi, báo cho tôi biết cuộc điều tra đã tiến hành đến đâu, hỏi đến những chứng tá nào! Tôi hết sức lo sợ, thấy mình mẩy đều nóng rực, chẳng khác người phát sốt chút nào. Nhưng tôi lại còn hãi hùng hơn nữa khi được giấy của ông chánh Sở Liêm phóng gọi tới hầu. Tôi tự hỏi: “Hay là các nhà chức trách đã tìm ra chính tôi là thủ phạm rồi chăng?” Chính cai Ba cũng đồng ý với tôi điều này. Hắn có vẻ nghĩ ngợi lắm, sau cùng bảo tôi rằng: “Bây giờ ông chỉ còn một cách là cáo ốm, nói sẽ xin đến hầu sau rồi mình sẽ liệu cách xử trí cho ổn thỏa!” Cách xử trí ấy, cai Ba khuyên tôi nên liệu phương trốn tránh. Hắn nói có quen biết một người bạn thân ở nhà quê về vùng Hải Dương, có thể gửi tôi đến ẩn náu ở đấy được. Nhưng tôi đã đắn đo mãi, nhận thấy rằng lưới pháp luật khó mà tránh thoát, lẩn trốn chỉ thêm mang tội mà thôi, chỉ bằng cứ ra thú cho xong. Tôi sẽ nhận đã hành động trong phút điên cuồng không còn ý chí, như vậy may ra tòa có xử nhẹ cho chăng!
Nghĩ đi nghĩ lại, khi đã nhất quyết rồi, tôi mới đánh thức cai Ba dậy. Lúc ấy mới chừng 3 giờ sáng. Nghe tôi kể lể mọi nỗi, cai Ba tỏ vẻ thương hại mà bảo tôi rằng: “Ông nghĩ thế cũng phải, và như thế có lẽ lại hơn. Chắc quan tòa cũng sẽ lượng xét cho ông. Số mệnh đã thế mình muốn tránh cũng không được. Có một điều là nếu ông thuật rõ mọi sự thì tôi sẽ có lỗi vì đã giấu câu chuyện bức cẩm nang để trong cái hộp dây chuyền. Không khéo mà rồi tôi cũng mang tội!” Chẳng muốn để người phải vạ lây vì mình, tôi có hứa chắc chắn với ông cai Ba rằng sẽ giấu kín chuyện ấy. Tội vạ chính tôi gây nên thì một mình tôi cam chịu. Nhưng hôm nay, gặp ông, tôi muốn thuật để ông rõ là để rồi đây, dù tôi có phải tù tội thế nào, ông sẽ kể lại kỹ càng cho vợ, cho con tôi nghe để những người thân mến ấy biết tôi thực là vì cái tai ách truyền kiếp nên mới nhúng tay vào máu người!
An kể đến đây thì ngừng lại, nhìn chúng tôi như van xin, cầu khẩn. Kỳ Phát không nói gì, chỉ vén tay áo xem đồng hồ rồi bảo chúng tôi:
- Thôi, chúng ta đi ra!
An ngơ ngác nhìn theo chúng tôi rồi như người mất hồn, chớp mắt luôn mấy cái, nằm vật xuống chiếc phản lim đóng liền hẳn vào tường.