GIA ĐÌNH HỌ TẠ
Như ngượng với chúng tôi, Ngọc đập tay vào vai con người kỳ dị ấy, rồi dịu dàng trách:
- Kìa, chú Hai, sao lại thế!
Nhưng không hề để ý đến lời Ngọc nói và cũng chẳng thèm nhìn đến chúng tôi nữa, Hai Lịch chỉ nhe răng cười và luôn miệng nhắc đi nhắc lại hai câu lục bát có niêm mà không có vần kia.
Ngọc còn đương luống cuống chưa biết xử trí ra sao thì đã thấy trong trại đi ra hai người. Đi trước là một người đàn bà già, tuổi chừng năm mươi, dáng điệu trông còn cứng cáp lắm, nhưng gương mặt lộ ra một đời đã lo âu nhiều quá. Người đi sau là một con sen, tay cầm một chiếc đèn bão soi đường. Chưa biết đích bà già đó là ai thì Kỳ Phát đã thấy Thanh Ngọc nho nhỏ nói:
- Mẹ tôi!
Bà già sau một giây nhìn thoáng chúng tôi, quay lại phía con gái như muốn hỏi là ai. Thanh Ngọc biết ý, vội nói:
- Hai ông đây là bạn của con. Lúc nẫy có hai kẻ gian vào nhà ta, hai ông tình cờ đi qua nghe tiếng kêu, xông vào bắt hộ, không ngờ lại bắt nhầm phải chú Hai.
Nghe có người nhắc đến tên mình, Hai Lịch ngẩng lên cười, rồi lại nghêu ngao hát:
Chết thời chẳng chết cho yên,
Hết đời cũng được ba vuông bẩy tròn!
Chúng tôi chắp tay cung kính chào bà cụ. Kỳ Phát thưa:
- Bẩm cụ chúng cháu vì trong lúc đêm tối bất ngờ, bắt nhầm phải ông Hai, thực là có lỗi…
Bà cụ cũng đáp lễ rồi gạt đi:
- Hai ông chủ tâm định giúp chúng tôi, đêm tối bắt lầm là sự thường, có hề gì đâu…
Thanh Ngọc như không muốn cho mẹ nói thêm gì nhiều, vội vàng ngắt lời bảo:
- Thưa mẹ, hai tên gian bỏ chạy cả rồi… Chúng không lấy được gì hết, vậy xin mẹ cứ yên tâm vào nghỉ kẻo đứng đây sương xuống mẹ lại cảm thôi!
Bà cụ gật đầu, chào chúng tôi, rồi kéo Hai Lịch mà bảo:
- Thôi đi chứ, có vào nhà mà đi ngủ không, hay định hát nhảm suốt sáng đấy!
Miệng nói thế, hai mắt bà cụ nhìn chằm chặp vào đôi mắt Hai Lịch làm cho hắn lộ vẻ sợ hãi cúi đầu, rồi không dám nói năng gì nữa, ngoan ngoãn theo bà cụ đi vào trong nhà!
Thanh Ngọc nhìn theo hai người rồi như muốn đỡ ngượng, nàng cười mà bảo chúng tôi rằng:
- Ông ấy chính là chú ruột tôi, trước vốn là một người rất thông minh hoạt bát, chẳng hiểu duyên cớ vì đâu mà đã sáu năm nay bỗng nhiên sinh ra dở điên, dở cuồng như vậy!
Rồi Ngọc lại tiếp:
- Chắc hai ông tình cờ có việc gì đi qua đây hẳn, chứ không thì khu hoang vắng này, ai phải vạ mà đi chơi ở đây!
Kỳ Phát biết Ngọc có ý trách mình tò mò dò xét những hành động của nàng, nhưng lúc này dù có muốn chối cãi cũng không được nữa. Kỳ Phát phải thú thực rằng:
- Kể ra thì chúng tôi rất có lỗi với cô nhưng cô hẳn cũng chẳng lạ gì những người quen dò xét điều tra, thấy bất cứ việc gì hơi là lạ cũng nẩy ý tò mò ngay… Riêng đối với cô, khi nghe thấy cô bảo không ai có thể theo biết chỗ ở của cô được nên chạm lòng tự ái, đã nhất quyết tìm ra…
Ngừng lại một lát, Kỳ Phát mỉm cười mà nói tiếp:
- Nhưng chúng tôi thực cũng phải khó nhọc lắm mới đạt được ý muốn. Hai anh em lần mò mãi, cuối cùng tìm được đến đây thì trời đã khuya.
Biết ý Kỳ Phát, tôi tiếp:
- Chúng tôi tìm được đến nhà, vừa toan trở về thì bỗng thấy có bóng hai người lảng vảng hình như muốn vào trong trại ăn cắp ăn trộm cái gì…
Kỳ Phát cũng nói:
- Lúc ấy, chúng tôi thật khó xử, vì thấy kẻ gian đã vào rồi, trong nhà có tiếng người sực thức, nếu chúng tôi làm ngơ thì thực chẳng đành tâm, mà xông bắt thì nhỡ không bắt được có phải là không khéo lại bị chính cô nghi oan cho chúng tôi…
Thanh Ngọc cười, lắc đầu:
- Điều đó thì ông không ngại, vì lúc đó không hiểu tại sao, chú Hai Lịch tôi biết có kẻ gian vào nhà, vừa kêu thét lên thì tôi choàng thức dậy ngay. Với tay lấy chiếc đèn bấm, tôi khoác vội chiếc áo ngoài chiếu đèn xuống vườn, còn trông thấy rõ ràng có hai bóng người chạy, một vận áo tây mầu xám và một vận quần áo ta, cộc trắng…
Kỳ Phát cười:
- Nếu thế thì thực chúng tôi không còn sợ bị nghi ngờ oan nữa. Chúng tôi đều mặc quần áo tây trắng.
Thanh Ngọc như có ý nghĩ ngợi, giây lát bảo chúng tôi:
- Nhân thể các ông đã qua đây, xin mời vào trong nhà xơi chén nước đã!
Tôi vội vàng từ chối:
- Thôi, xin cô tha phép cho chúng tôi, vì bây giờ cũng khuya rồi, có dịp, ngày mai chúng tôi lại sẽ xin lên, nhân tiện để xin lỗi cụ bà…
Nhưng Ngọc đã nhìn thẳng vào Kỳ Phát mà nói:
- Các ông vẫn thường quen đi dò tìm, tra xét, hẳn không sợ gì trời khuya mất, vậy xin các ông hãy vào chơi trong nhà chốc lát, nhân thể để tôi bảo người nhà lau giầy và chải áo giúp các ông, chứ không quần áo lấm láp bụi bậm thế kia, đi về các phố đèn sáng trông sao tiện…
Kỳ Phát đã nhận thấy Thanh Ngọc nhìn mình bằng một con mắt khác thường, lộ vẻ van nài kín đáo nên đành ưng lời cùng Thanh Ngọc đi vào trong trại.
Có vào, chúng tôi mới càng thấy trại của nhà Thanh Ngọc thực là khang trang, ngăn nắp, có nhà để xe hơi, có sân gạch rộng, chỗ trồng hoa, chỗ trồng rau, lại có một khu vườn rộng trồng toàn cây có quả.
Tên người nhà đã bật đèn phòng khách, rót nước mời chúng tôi, rồi lĩnh giầy, áo xuống nhà ngang lau chải. Cánh cửa phòng đã khép lại rồi, Thanh Ngọc mới nhìn chúng tôi mà nói:
- Tôi muốn mời hai ông vào đây, nhân thể để nói với hai ông một việc mà hiện thời lòng tôi đương nghi hoặc vô cùng… Buổi tối ông Kỳ Phát có nói rằng không hiểu vì sao quầng mắt tôi hình như thâm hơn trước. Tôi xin thú thực rằng ngay lúc đó, tôi cứ yên trí ông Kỳ Phát nói vậy chẳng qua có ý muốn giữ tôi lại nói chuyện thêm giây lát mà thôi, nhưng không ngờ đến lúc về nhà tình cờ tôi soi gương, quả nhiên có thấy quầng mắt thâm hơn thực…
Ngừng một lát, Thanh Ngọc tiếp:
- Tôi rất hối lúc trước đã gạt câu chuyện đi, không nghe ông nói hết. Nhưng may sao, đêm nay lại được gặp các ông lần nữa.
Kỳ Phát ngắt lời, hỏi:
- Tôi đoán chắc cô còn thấy có điều gì lạ khác nữa?
Thanh Ngọc gật đầu:
- Vâng quả có thế! Tôi nghi hoặc, cố nhớ lại những việc đã xẩy ra thì thấy hai ngày hôm nay, tôi luôn luôn mấy lần thấy đầu choáng mắt hoa, mà ngày thường tôi không hề bị thế. Tôi nghĩ có lẽ vì mấy hôm đi xe, đi tầu, bị cảm liễn nắng gió sinh ra như thế, nhưng khi thấy ông để ý đến quầng mắt, tôi mới ngõ rằng hai việc này có liên can đến nhau.
Thấy Kỳ Phát vẫn lặng yên nghe mình nói, Thanh Ngọc lại tiếp:
- Mà ngay vừa rồi lại sinh ra việc có kẻ gian nhòm ngó, tôi sợ rằng cũng là một việc có dính líu đến hai việc trên đây!
Kỳ Phát gật đầu, nói:
- Cô đoán như vậy thực hợp lý, tôi cũng nghĩ như vậy.
Thanh Ngọc lại nói:
- Trước đây, tôi có xem mấy cuốn sách về y học, tôi có thấy nói rằng xây xẩm mặt mày, quầng mắt thâm đen, có thể là triệu chứng của sự ngộ độc, chẳng hay có phải là trường hợp của tôi không?
Kỳ Phát gật đầu, trả lời:
- Tôi cũng đã để ý đến chỗ ấy, nhưng cũng chưa lấy gì làm chắc lắm. Có một điều cô nên thử nhớ lại xem trong mấy bữa ăn uống vừa rồi, hoặc ở nhà, hoặc ở các tiệm, cô có dùng phải thứ gì độc hay không?
Thanh Ngọc cau mày suy nghĩ một lát rồi lắc đầu nói:
- Tôi vốn tính rất giản dị, trong việc ăn uống cũng vậy, nhất là khi đi ra ngoài, thường chỉ dùng một chiếc bánh mỳ, mấy xu giò chả hoặc quả trứng luộc cũng là xong bữa, nhiều khi ít thì giờ thì nhịn đói qua một vài bữa cũng không sao… Tôi còn nhớ rõ ràng, trong mấy ngày trước đây tôi không hề ăn qua một thứ gì có thể ngờ là độc được!
Nhưng Ngọc bỗng đập tay xuống bàn mà nói rằng:
- Thôi, có lẽ phải rồi!
Nhưng trước khi nói, Ngọc còn cẩn thận ra mở hé cửa, thử nhìn xem có ai nghe ngóng gì không, rồi mới hạ thấp giọng mà nói:
- Bây giờ tôi nhớ ra, buổi sáng sớm hôm nay theo lệ thường tôi trở dậy súc miệng đánh răng xong thì uống tách cà phê người nhà đã quen lệ pha sẵn. Nhưng tách cà phê sáng nay hơi đắng hơn mọi ngày. Bây giờ tôi càng cố nhớ lại càng thấy hình như có mùi vị hăng hắc thì phải!
Quay nhìn Kỳ Phát, Ngọc hỏi tiếp:
- Như vậy, có lẽ tôi đã bị người đầu độc rồi chăng?
Tôi gật đầu:
- Có lẽ thế thực, nhưng cô không hề gì, chỉ là vì hung phạm cho chất độc không đủ mạnh!
Kỳ Phát hỏi lại:
- Đó chỉ là những giả thuyết, chưa có gì là bằng cứ cả. Theo ý tôi thì trước hết, cô cần phải nghĩ xem có kẻ nào thù muốn hại tính mệnh cô không đã?
Thanh Ngọc ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Theo đuổi một nghề nguy hiểm như tôi, rất có thể gây ra nhiều kẻ thù oán. Nhưng riêng về phần tôi thì thực không biết rõ ai là kẻ tử thù!
Tôi bàn:
- Bây giờ trước hết hãy tìm một chỗ làm đầu mối. Như ý tôi thì ta hãy để ý ngay đến kẻ nào pha tách cà phê hôm qua cho cô Ngọc đã!
Ngọc nói:
- Người vẫn chuyên pha cà phê cho tôi là vú già. Vú này nuôi tôi từ lúc mẹ tôi cai sữa cho tôi thuở bé. Đã nhiều lần vú ấy tỏ ra rằng lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh cho tôi. Vả lại, vú ấy chồng đã chết, lại không có con nên trong thâm tâm, tôi tưởng chừng như vú ấy cũng thương và yêu tôi như con vú ấy đẻ ra vậy.
Kỳ Phát gật đầu:
- Những vú già trung thành như vậy, tôi đã từng biết. Như thế ta có thể liệt vú vào hạng người không nghi ngờ trong nhà này.
Tôi quay hỏi Kỳ Phát:
- Tôi chắc ý anh lại muốn dùng cái phương pháp loại trừ để tìm dần ra thủ phạm đã bỏ chất độc vào tách cà phê của cô Ngọc chứ gì?
Kỳ Phát gật đầu:
- Tôi quả thật có ý ấy. Bây giờ xin cô cho chúng tôi biết tất cả những người ở trong nhà này.
Thạnh Ngọc nói:
- Riêng về gia đình tôi thì hiện chỉ có ba người. Mẹ tôi, chú tôi và tôi. Còn gia nhân thì tất cả có năm: hai người đàn bà là vú già và con sen, cùng ba người đàn ông thì hai người đi cùng tôi lúc nẫy, một làm vườn và một kéo xe ở cả luôn đây. Còn một người nữa làm bếp, nhưng cứ bẩy giờ tối thì hắn về nhà riêng của hắn.
Kỳ Phát hỏi:
- Trong số năm tên gia nhân, vú già trừ đi không kể rồi, cô có ý nghi ngờ kẻ nào có manh tâm không?
Thanh Ngọc lắc đầu:
- Bọn này tuy tôi không dám tin chắc hẳn nhưng họ cũng thẩy đều ở nhà tôi khá lâu, kẻ ít nhất cũng đã gần được hai năm. Xem chừng không có lý gì mà họ lại muốn hại tôi…
Tôi nói:
- Cô nên nhớ rằng kẻ thù cô có thể dùng tiền mà sai khiến họ dễ dàng…
Kỳ Phát gật đầu:
- Anh nói điều ấy không hẳn là vô lý nhưng ta sẽ xét đến sau… Vậy sáng mai đây, tôi muốn phiền cô Thanh Ngọc hãy để ý dò hỏi người vú già xem lúc vú ấy pha cà phê thì có bỏ đi đâu không, nếu có thì liệu trong khi ấy có kẻ nào có thể lén bỏ chất độc vào trong tách. Một điều cô nên để ý là khi hỏi phải cẩn thận, đừng cho vú già biết rằng trong nhà này đã xẩy ra một việc đầu độc!
Ngừng một lát Kỳ Phát hỏi Thanh Ngọc:
- Trước khi chúng tôi ra về, nếu cô không trách chúng tôi quá tò mò thì xin cô làm ơn cho biết thêm đôi điều về gia đình của cô…
Thanh Ngọc cười, bảo:
- Ông muốn biết điều gì, cứ hỏi, tôi xin trả lời không giấu giếm, có đời nào con bệnh giấu bệnh tình của mình mà ông lang lại có thể chữa khỏi được. Ông đã giúp tôi tra xét, sau này lẽ tất nhiên có quyền được tò mò. Nhưng gia đình tôi vẻn vẹn có ba người, sống một cách bình thường, cũng không có gì đáng kể.
Thấy Kỳ Phát như ngần ngại muốn nói lại thôi, Ngọc tiếp:
- Tốt hơn hết có lẽ là ông cứ hỏi tôi từng câu, tôi sẽ trả lời và xin hứa rằng trả lời rất thực để công việc tra xét của ông được dễ dàng!
Kỳ Phát gật đầu, rút cuốn sổ tay trong túi ra, rồi nói:
- Nếu thế thì còn gì hay hơn nữa. Trước hết, xin cô cho biết nhà ta, ngoài số tiền cô kiếm ra từ nghề buôn lậu, cô còn những món tiền nào khác nữa không?
Thanh Ngọc nói:
- Không, vì ông hẳn cũng rõ, mẹ tôi đã già yếu mà chú Hai Lịch tôi thì lại dở người, mọi sự chỉ tiêu trong nhà đều phải trông vào việc buôn bán của tôi cả. Nhà tôi cũng không có gì gọi là giầu có, trước đây, khi cha tôi vừa mới nằm xuống thì còn lại kha khá tiền dành dụm, nhưng càng về sau, số tiền ấy càng tiêu hụt đi, hiện nay thì chỉ có thể gọi là đủ chỉ dùng mà thôi!
Kỳ Phát hỏi:
- Ông thân sinh ra cô mất vào lúc cô bao nhiêu tuổi?
Ngọc trả lời:
- Cha tôi mất lúc tôi mười hai tuổi, nghĩa là cách đây đúng sáu năm. Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày rằm tháng năm, tôi đương cùng mấy người bạn chơi trăng trên bãi bể Sầm Sơn, vì thường lệ mùa hè, cha tôi vẫn gửi tôi ở nhà một người bạn quen ngoài đó, thì nhận được dây thép của nhà bảo về ngay.
Kỳ Phát ngắt lời hỏi:
- Tôi đoán chắc trước đó, cô không hề thấy nói cha cô ốm yếu gì?
Thanh Ngọc gật đầu:
- Vâng, khi tôi từ Hà Nội ra Sầm Sơn, cha tôi vẫn khỏe mạnh như thường.
Ngừng một lát, nàng tiếp:
- Kể nói như thế cũng không đúng hẳn vì đã lâu, cha tôi bị mắc chứng dở người, cũng gần giống chú Hai Lịch tôi hiện giờ!
Kỳ Phát như chú ý đến đoạn này lắm, chàng ghi chép nhiều dòng vào trong cuốn sổ tay, rồi lại hỏi:
- Cái bệnh… dở người ấy, lúc nào cũng đều đều như bệnh ông Hai bây giờ hay có khi thăng, khi giảm?
Thanh Ngọc nói:
- Đã năm, sáu năm, bệnh cha tôi không thay đổi, nghĩa là vẫn khỏe, ăn ngủ điều hòa nhưng người ngẩn ngơ mất trí sáng suốt, nói năng không ra đâu vào đâu, có khi lại ngồi hàng ba, bốn ngày không hề mở miệng! Nhưng hình như độ tôi sắp đi Sầm Sơn thì bệnh cha tôi có tăng lên chút ít, có mấy đêm gầm thét như sợ hãi cái gì và chừng vài ba lần xé quần áo và đập phá đồ đạc!
Ngừng lại một lát, Thanh Ngọc nói:
- Tôi khi ấy còn bé, không biết, sau này nghe vú già kể lại mới biết rằng trước đó, cha tôi và chú Hai đều đi buôn nghề này, kiếm được khá nhiều tiền, nhưng từ khi cha tôi mang bệnh thì chỉ còn chú tôi buôn thôi, số tiền kiếm được vì thế mà không được như trước. Cha tôi mất đi được ba, bốn tháng thì chú tôi cũng bắt đầu thấy dở chứng bệnh gần giống như cha tôi trước, khởi đầu chỉ buồn bã, ít nói, sau sinh ra mê sảng ban đêm và chừng một năm thì hoàn toàn là người mất trí! Số tiền chỉ dùng trong nhà từ đó đành phải trông cậy vào mẹ tôi, cũng bắt đầu đi làm cái nghề nguy hiểm kia.
Kỳ Phát ngắt lời, hỏi:
- Cô vào nghề đã bao lâu rồi?
Thanh Ngọc trả lời:
- Mới được hai năm nay thôi, vì mẹ tôi mỗi tuổi một già, nghề buôn lậu thì lại rất là vất vả và nguy hiểm. Nghĩ thương mẹ, vả tôi cũng đã lớn, nên tôi nhất định đi tập buôn mấy chuyến, mặc dầu mẹ tôi hết sức ngăn cản. Nhờ trời có được mấy kẻ gia nhân trung thành thạo việc, tôi đi và can đảm lên, mẹ tôi mới yên dạ mà cho tôi đi những chuyến hàng lớn.
Kỳ Phát liếc nhìn đồng hồ rồi nói:
- Thôi, khuya lắm rồi, xin cô cho phép chúng tôi về. Rồi mai hay ngày kia, tôi có dịp hãy lên thăm. Xin cô chuyển giúp lời chào cụ và ông Hai.
Thanh Ngọc cùng một tên người nhà cầm đèn theo tiễn chúng tôi ra tận ngoài đường cái. Trước khi chia tay, Kỳ Phát còn bảo riêng Thanh Ngọc rằng:
- Tôi sẽ xin hết sức chú ý đến việc này, riêng về phần cô từ nay cũng nên đề phòng cẩn thận mọi sự xẩy ra mới được. Điều quan hệ nhất là việc người mưu hại đầu độc, cô chớ có kể ra cho một ai biết cả, dù người thân nhất như bà cụ cũng không. Có thế thì công cuộc tra xét của tôi mới có thể dễ dàng được!