MỘT ÔNG CHÚ KỲ DỊ
Tôi đương chập chờn nửa thức nửa ngủ thì thấy động cửa, Kỳ Phát dắt xe đạp ở ngoài bước vào. Thấy tôi, chàng vui vẻ hỏi:
- Anh chưa ngủ kia à?
Tôi trả lời:
- Tôi cũng vừa mới chợp mắt, không thức đợi anh vì không biết là anh đi theo người trong mộng có trở về đây nữa hay không?
Kỳ Phát cười, ngồi xuống ghế:
- Anh giận tôi, chắc chỉ ước muốn cho tôi chết.
Tôi cười:
- Với những kẻ si tình như anh, cái chết chỉ là sự thường!
Rồi tôi lại hỏi:
- Trông điệu bộ anh vui vẻ như thế kia, hẳn anh đã tìm được nhà của người yêu anh và không chừng đã vớ vẩn vào được, uống mấy chén nước rồi mới dẫn xác về đây chứ gì?
Kỳ Phát cười lắc đầu:
- Thôi đi ông, người yêu với người quý gì? Đó chỉ là vì tò mò mà tôi muốn biết chỗ ở của nàng. Vả lại cũng vì lòng tự ái nữa. Ngọc đã tự phụ không để cho ai theo dõi được, thì tôi quyết theo cho bằng được,
Rót nước, uống hết một cốc đầy, Kỳ Phát mới tiếp:
- Chị chàng cũng tinh quái lắm, ở đây ra, đi bộ một quãng, làm cho mình cứ phải cẩn thận dắt xe đạp đi cách xa, không muốn cho nàng biết tôi theo. Thế mà sau khi qua hai phố, đến một chỗ rẽ, nàng đã nhẩy lên một chiếc xe xích lô ở đó từ bao giờ làm cho tôi đi theo ở phía sau vẫn cứ thong thả bước một mà đi cầm chừng… Nếu phải người khác đến đầu phố không thấy bóng nàng đâu, đã phải ngẩn ngơ quay về, nhưng tôi đoán rõ chuyện, tìm dấu vết xe trên đường một lúc rồi nhẩy xe đạp đuổi theo. Sau khi đã bắt gặp rồi, may một điều là nàng có lẽ đã yên trí không còn ai theo nữa nên chỉ thấy ngồi xe kéo một lần nữa là về thẳng nhà.
Tôi ngắt lời hỏi:
- Thế nhà Ngọc ở đâu?
Kỳ Phát trả lời:
- Ở mãi trên Thụy. Ngọc cũng đã khéo tìm được cái trại ấy, trông khang trang lắm, lại kín đáo nữa…
Tôi cười hỏi tiếp:
- Biết chỗ nàng ở rồi sao anh không dựa xe đạp vào gốc cây, ngồi trên bãi cỏ, nhìn ngóng lên phía cửa sổ phòng nàng, dưới bóng trăng suông trong làn sương đêm, cạnh tiếng dế rì rào và… đợi cho đến sáng, đúng như những cử chỉ của mấy anh chàng đại si tình trong truyện cổ.
Kỳ Phát cười, vỗ mạnh vào vai tôi:
- Anh khéo đặt điều chế giễu tôi lắm. Tôi đâu có phải là si ngốc! Tôi đã chẳng nói cho anh biết rằng tôi theo đuổi nàng chỉ là vì tò mò!
Tôi cười ngất:
- Phải, cũng vì tò mò mà anh mới nhận thấy được quầng mắt Ngọc thâm hơn trước!
Kỳ Phát nhìn tôi rồi hỏi:
- Anh nói thế là thế nào?
Tôi mỉm cười, trả lời:
- Tôi nói thế là có ý khen anh cũng khéo bịa ra chuyện để giữ nàng ở lại đây lâu thêm ít nữa. Nhưng “kẻ cắp bà già gặp nhau”, anh không vừa thì ả cũng không vừa, biết ngay cái ngón của anh chàng, nàng gạt phắt ngay đi và ra về!
Kỳ Phát nắm chặt lấy vai tôi, hỏi:
- Anh quả tin như thế thực à?
Tôi gật đầu:
- Tôi tin như thế mà Ngọc cũng tin như thế!
Kỳ Phát thở dài, ngồi xuống:
- Cứ xét một việc nhỏ như việc này, mới biết dư luận người đời làm khổ cho bao kẻ oan uổng. Khi người ta đã yên trí cái gì thì ngay cũng bẻ thành cong là thế!
Đến lượt tôi ngạc nhiên, hỏi lại:
- Vậy ra anh quả nhận thấy quầng mắt Ngọc có sự lạ chăng?
Kỳ Phát nghiêm giọng, bảo tôi rằng:
- Nếu anh biết rõ được hết những điều tôi lo lắng nghĩ ngợi bấy giờ thì anh hẳn chẳng còn vui vẻ chế giễu tôi nữa. Anh có còn nhớ một hồi trước đây tôi đóng cửa “tạ khách” luôn mấy tháng để khảo cứu về các thứ thuốc độc ở xứ ta không?
Tôi gật đầu:
- Có, khi ấy thấy anh mê mải vừa pha phách thí nghiệm vừa đi tìm tòi đến cả các thứ lá và rễ độc hiếm thấy tại các miền thượng du, hiểm hóc, tôi có hỏi thì anh bảo rằng: làm cái nghề trinh thám, thường vẫn gặp những vụ án mạng dùng thuốc độc. Vậy mình cần phải biết rõ các thứ này, nhận xét hình thể và tính chất của mỗi thứ để đến khi cần đến có thể gọi được tên nó ra ngay. Nhờ đó mà chúng ta dễ tìm ra được manh mối vụ án.
Ngừng lại một lát, Kỳ Phát tiếp:
- Và đề phòng cả những kẻ thù của mình đầu độc, tôi đã cẩn thận nếm dần cả mọi thứ thuốc độc, khởi đầu bằng một số phân lạng rất ít, để cho không hại cơ thể, sau dần tăng mãi lên. Theo thuyết của nhiều nhà chuyên môn về các chất độc thì cứ tập như thế trong một thời kỳ, về sau có nhỡ ăn phải thứ độc, cũng vẫn còn có thể cứu chữa được. Tôi còn nhớ trong khi dùng thử một thứ cỏ độc trong vùng Yên Bái, gọi là cỏ “mang hoa”, tôi có nhận thấy rằng quầng mắt mình tự nhiên thâm sẫm hẳn lại, nghĩa là giống hệt như quầng mắt của Ngọc…
Nghe Kỳ Phát nói mà tôi tự nhiên thấy lo sợ, hỏi lại rằng:
- Anh nói thế tức là chúng ta có thể ngờ rằng Ngọc bị người đầu độc?
Kỳ Phát gật đầu:
- Phải, nàng bị đầu độc hoặc bằng chính thứ cỏ “mang hoa” hoặc bằng một thứ nào khác, tính chất cũng giông giống như thế!
Nghĩ ngợi một lát, tôi hỏi Kỳ Phát:
- Bây giờ chúng ta làm thế nào?
Kỳ Phát thở dài:
- Còn biết làm thế nào nữa, khi người ta vẫn yên trí rằng tôi là một kẻ si tình, chỉ vờ làm ra chuyện để lưu giữ đôi mắt huyền!
Tôi quả quyết nắm lấy tay Kỳ Phát bảo:
- Không, không thể thế được, khi chúng ta đã biết thì không thể để Ngọc bị đầu độc một cách điềm nhiên như thế được! Biết đâu, ngay đêm nay, nàng chẳng bị uống thêm một liều độc dược nữa và sáng mai…
Không để tôi nói hết câu, như một người bị điện giật, Kỳ Phát đứng phắt dậy:
- Anh nói rất có lý, chúng ta không thể ngồi yên được!
Tôi bàn:
- Hay là chúng ta thử đi vòng lên chỗ nàng ở một lượt xem sao?
Kỳ Phát nghĩ ngợi giây lâu rồi nói:
- Thì cũng chỉ có một cách ấy, mặc dầu sau đó, chúng ta sẽ làm gì, tôi cũng không biết nữa. Nhưng có đi thế thì rồi may ra chúng ta mới có thể ngủ yên được đêm nay!
Một lát sau, chúng tôi đã đến khu chợ Bưởi. Bảo xe đỗ xuống, chúng tôi trả tiền rồi thong thả đi bộ lên một quãng. Liếc nhìn những dãy nhà hai bên đường thấy đều cửa đóng kín mít, Kỳ Phát bảo tôi rằng:
- Lang thang đi chơi trong một khu vắng vẻ, giữa lúc đêm khuya như thế này, tôi chắc chỉ có hai ta mà thôi!
Tôi cười:
- Và có khách đi chơi đêm nào về hẳn cũng phải đoán chúng ta tất phải là những nhà thi sĩ đi tìm vần thơ…
Kỳ Phát cũng cười, tiếp:
- Hay là những kẻ si tình đi theo đuổi một cái bóng yêu đương thì cũng thế!
Tôi vỗ vai Kỳ Phát:
- Anh hôm nay nói giọng văn chương quá, tôi nghi rằng những lời nói đó quả thực thốt tự trái tim…
Nhưng Kỳ Phát bỗng kéo tay tôi dừng lại. Rồi chàng chỉ về phía trước, bảo tôi:
- Anh có thấy bụi cây râm bụt kia không? Cách đó một gian nhà lá là đến cổng trại nhà Ngọc. Nhưng từ chỗ đầu cổng, còn phải đi một quãng, rẽ ngoặt hai lượt rồi mới tới được cửa vườn trong…
Tôi nói:
- Nếu thế thì chúng ta cũng cứ đi đến cổng đã, chứ đứng đây làm gì!
Kỳ Phát vẫn nắm chặt tay tôi, bảo:
- Đến thế nào được, thế anh không thấy chỗ tối kia có bóng hai người đương đứng như rình mò cái gì ư?
Nhìn theo chỗ Kỳ Phát nói, tôi mới thấy quả thực có hai người, một người mặc quần áo ta cộc, một người mặc quần áo tây. Họ đứng sát vào nhau, hình như đương bàn bạc chuyện trò gì, nhưng luôn luôn để ý nhìn vào phía trong trại nhà Ngọc.
Tôi hỏi nhỏ Kỳ Phát:
- Anh có biết họ là ai không?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi làm gì mà biết được, nhưng xem chừng họ đối với nhà Ngọc hẳn cũng không có ý tốt chỉ đâu!
Tôi lại hỏi:
- Vậy bây giờ chúng ta nên làm gì?
Kỳ Phát vẫn không bỏ qua một cử động nào của hai người kia, lắc đầu bảo:
- Chúng ta không làm gì hết, hãy cứ đứng đây đợi xem cách họ hành động thế nào đã. Nhưng cứ xem chừng thì hình như họ đương chờ cho mọi người trong nhà thực ngủ say để vào hành động.
Kỳ Phát nói tới đây thì ở đằng xa, hai bóng người đã tạt qua đường, lẩn vào trong ngõ trại nhà Ngọc. Không chậm một phút, tôi và Kỳ Phát cũng tiến lên và một lát sau đã tới chỗ hai bóng người bí mật vừa đứng. Chúng tôi đều cẩn thận đi sát hẳn vào cạnh những bụi cây bên đường để cho dù hai người kia có để ý quay lại phía sau dò xét cũng không thể trông thấy chúng tôi được!
Lúc này, bốn phía đều yên lặng. Trên đường cái, không một người nào qua lại. Trong những ngõ hẻm hoặc những đường gạch vào làng, một vài con chó nhà nào gầm gừ chứ không hề cắn lên tiếng. Tôi hỏi Kỳ Phát:
- Chúng ta cũng vào trong trại chứ?
Thấy Kỳ Phát vẫn yên lặng, tôi lại bàn:
- Hay là chúng ta cứ đứng đây, lên tiếng gọi, hai tên kia tất sợ trong nhà thức dậy, chạy bổ ra là chúng ta bắt!
Kỳ Phát lắc đầu, không trả lời, chỉ ra hiệu cho tôi đừng nói gì nữa. Và mắt chàng cứ chăm chú nhìn vào phía trong trại. Hai phút sau, Kỳ Phát khẽ nắm lấy tay tôi bảo nhỏ:
- Trong trại có người thức dậy rồi!
Quả nhiên, tiếp lời Kỳ Phát có một tiếng cửa sổ mở mạnh. Rồi có tiếng kêu gọi tíu tít và tiếng người chạy rồn rập. Kỳ Phát bảo tôi:
- Chúng ta phải bắt cho kỳ được hai người kia đấy!
Tôi gật đầu và khi thấy thoáng có bóng một người chạy vọt ra ngoài thì tôi xông đến đón đường ngay. Trong khi ấy, Kỳ Phát cũng nhẩy ra chẹn bắt một người thứ hai vừa chạy ra. Người tôi đuổi bắt nhanh nhẹn lắm. Thấy có người chẹn, hắn chạy quay trở lại, ngược lên phía trên, nhưng tôi nhất quyết không bỏ, rảo cẳng theo gấp. Khi thấy hắn như có ý lẩn vào một bụi rậm, tôi lại càng cố dấn bước, không ngờ rằng đợi cho tôi tới gần bụi, hắn mới lùi ngược ngay lại làm cho tôi vô tình, quá đà, đâm chúi vào trong bụi. Tôi vướng cành lá bị ngã một cái rất mạnh, đến khi lớp ngóp trở dậy được thì kẻ tôi đuổi bắt đã lẩn trốn đi đâu mất rồi.
Dầu vậy tôi cũng cố gượng đau, sung sướng chạy lại phía Kỳ Phát. Lúc này anh chàng đã ôm được kẻ gian, đương vật lộn với hắn. Nhờ có tài nhanh nhẹn, tuy tôi chưa lại giúp sức kịp, Kỳ Phát cũng đã vật ngã được kẻ gian, trong trại có nhiều tiếng người kêu gọi nhau và ánh đèn soi khắp chỗ này chỗ khác.
Một lát sau chúng tôi đã thấy Thanh Ngọc đi đầu, tay cầm đèn điện bấm, theo sau có hai tên người nhà cũng mang đèn, lại thêm mỗi người một chiếc gậy.
Tôi vui mừng gọi:
- Cô soi đèn lại đằng này, anh Phát đã bắt được một tên rồi!
Nhận ra chúng tôi, Ngọc đến ngay, nhưng nàng vừa mới soi đèn rõ mặt kẻ gian đã vội kêu to:
- Kìa, chú Hai Lịch!
Và Ngọc mỉm cười, quay lại phía Kỳ Phát, bảo:
- Thôi ông bắt lầm rồi, đây là ông chú tôi!
Tôi và Kỳ Phát đương vừa ngượng ngùng, vừa buồn cười, không biết nói năng làm sao, thì cái “ông chú” kỳ dị ấy đã lồm cồm đứng dậy, ngơ ngác nhìn quanh rồi toét mồm cười, nghêu ngao hát:
“Chết thời chẳng chết cho yên,
Hết đời cũng được ba vuông bẩy tròn!”