Thợ điện của sở cảnh sát đến lúc bảy giờ rưỡi – là bảy giờ rưỡi của buổi sáng sau ngày căn phòng được trưng dụng - mang theo dây dợ cần thiết cuộn thành một cuộn dày, rồi bóp vào ở giữa thành hình khúc xương để thu nhỏ diện tích, cuối cùng bọc vào một tờ báo để ngụy trang. Nó được kẹp dưới một cánh tay, tay kia xách một cái hộp to tướng, giống một bộ đồ nghề cỡ lớn, đựng thiết bị.
Anh ta gõ một tiếng kín đáo vào cánh cửa, ngắn gọn bảo đảm bí mật, và dường như được nhận diện dễ dàng, vì cửa mở ngay một giây sau, rồi đóng lại sau lưng anh ta với tốc độ tương đương.
Sokolsky ở sau cửa. Dobbs quỳ lom khom trong góc đối diện, ở một tư thế mà thoạt nhìn có thể hiểu lầm là tuyệt vọng sâu sắc. Mặt anh chàng chúi vào chỗ giao nhau giữa hai bức tường, như thể anh ta đang giấu nó đi. Thêm vào đó, đầu anh ta cúi gục, gần như biến mất dưới đôi vai vồng lên. Hai bàn tay đan vào nhau phía sau cần cổ uốn cong, như để xoa dịu nhức mỏi. Anh ta đang ngồi trên hai gót chân vểnh lên. Một luồng hơi đen hoặc ống nước dựng thẳng trước mặt, mất hút vào trần nhà. Anh ta bất động như một thuật sĩ Ấn Độ, hoặc một người sùng đạo, đang ngồi theo thế lộn ngược.
Hai vị chủ nhân căn phòng đều bỏ giày để đi lại không phát ra tiếng động. Ngoài ra không bỏ gì hết, kể cả áo khoác. Sokolsky thậm chí vẫn đội mũ. Xét cho cùng, họ đâu ở đây vói mục đích ngủ nghỉ. Một chiếc tất của Dobbs thủng một lỗ tướng màu trắng vàng nơi gót chân đang vểnh lên, song không hề ảnh hưởng đến năng suất làm việc của anh ta.
“Bọn tôi chưa làm gì được”, Sokolsky thì thào với tay thợ điện. “Lão vẫn ở dưới đó.”
“Để tôi xem qua”, người mới đến nói.
Sokolsky chỉ vào giày anh ta. “Cẩn thận, nó ở ngay bên dưới.”
Tay thợ điện đặt hòm đồ nghề xuống, tháo giày ra. Rồi di chuyển rón rén, có phần vất vả, quanh phòng, tuồng như tìm vết nứt hay khe hở. Xem ra anh ta không tìm được cái gì thích hợp. Cuối cùng anh ta gõ vào cái lưng lom khom của Dobbs, anh chàng này từ từ vươn mình và duỗi người ra thành trạng thái bình thường, dù đầy cứng nhắc và khập khiễng.
Anh chàng mò đến cạnh giường, buông người xuống, bắt đầu xoa bóp mình mẩy.
“Lão đã dậy”, Dobbs nói. “Tôi vừa nghe thấy lò xo giường cót két và tiếng mở vòi nước trong đường ống.”
Người thợ điện giờ thay thế vị trí của Dobbs. Một lát sau, anh ta đứng lên, quay về chỗ họ.
Anh ta trỏ ngón tay cái về phía cái ống. “Thế được rồi. Nó không vừa với cái lỗ trên sàn, còn rất nhiều chỗ xốp xung quanh. Tôi có thể đẽo rộng ra và luồn dây điện sau ống. Khi ông ta bật đèn, trông nó chỉ như bóng của cái ống thôi.”
Sokolsky cong ngón cái và ngón trỏ vào nhau thành biểu tượng đồng ý. “Cứ làm thế đi.”
Anh khẽ khàng mở cửa và đi chân không ra hành lang. Anh xem xét tay vịn cầu thang, những đường xiên chéo xuống dưới, tất cả những nơi nó đi qua, bằng cách vươn người nhòm xuống rồi lại đứng thẳng lên. Cuối cùng, anh tìm được một vị trí với góc quan sát thích hợp, làm một cái đệm bằng hai cánh tay khoanh lại trên lan can, ngả người lên đó và hết ngọ nguậy. Tưởng chừng anh có thể và sẵn sàng duy trì tư thế đó cả ngày, nếu cần thiết.
Trong phòng, Dobbs, giờ đã vào trạng thái nghỉ ngơi, tiếp tục xoa bóp bắp chân. Tay thợ điện đang dùng tay gỡ cuộn dây, gỡ đến đâu vắt qua cánh tay đến đấy. Trên tờ báo trải rộng trên giường đã có một chiếc kìm và vài dụng cụ khác, sắp xếp cân đối gọn gàng. Điều này cho thấy người thợ, người nghệ sĩ này, yêu công việc của mình và nghiêm túc với nó đến mức nào.
Sokolsky cựa mình, cúi sâu hơn chút nữa. Sự thay đổi này gần như không thể nhận thấy, chỉ có sự rung rinh của vầng sáng mờ nhạt viền quanh anh tiết lộ điều này. Tuy nhiên, vài giây sau, có tiếng cửa mở ở đâu đó bên dưới, sau đó đóng lại với âm thanh rõ rệt hơn, và tiếng bước chân lệt sệt bắt đầu đi xuống cầu thang, nghe uể oải gần như tiếng chim đập cánh.
Chúng nhỏ dần, rồi tắt hẳn, cầu thang trở về yên tình.
Người thợ điện đã cầm lên một cái cưa bỏ túi nhỏ và chờ đợi. Anh ta đã gỡ xong cuộn dây, trải ra thành một đường tới chỗ ống nước. Đầu dây tẽ ra làm đôi chừng vài phân như để cắm vào cái ống kim loại thanh mảnh. Nó nằm dọc trên sàn, rồi chạy lên vắt qua giường, rồi tiếp tục băng qua sàn tới đầu bên kia. Nó không nằm nguyên ở đó, đấy chỉ là bước tiếp cận. Mọi công đoạn đều được tính toán, được thực hiện rất nhiều lần trước đây.
Sokolsky nhỏm dậy, tì ngực vào đường lượn của lan can, bắt đầu đi xuống cầu thang. Anh có thể bị lộ diện, nhưng không thể bị nghe thấy tiếng. Hai người kia chưa ai có động tĩnh gì. Một chiếc chìa khóa được tra vào ổ, với sự khéo léo gây ra rất ít tiếng động ngay cả với đôi tai đang căng lên của họ. Im lặng trở lại. Dù cánh cửa có mở ra hay không, nó cũng không phát ra âm thanh trong không gian nhạy cảm.
Vài phút trôi qua, Sokolsky bất chợt xuất hiện lại trên cầu thang. Trong khi đó, hai người đàn ông đã thò đầu ra, chuẩn bị đi xuống. Anh ra hiệu cho họ khỏi cần bằng cách bắt tréo hai tay trước mặt rồi dang rộng ra.
Không ai mở miệng cho đến khi cả ba đã chụm đầu lại ở chỗ chiếu nghỉ.
“Lão đang quay lại”, anh thì thào. “Vào trong đi.”
Họ đóng cửa, án binh bất động. Dobbs quay về cái lỗ trong góc tường.
Ngay sau đó, anh gật đầu với đồng đội, chọc chọc một ngón tay xuống sàn mấy lần.
Họ tiếp tục đợi.
Lần này, Dobbs trỏ ngón cái qua vai về hướng hành lang bên ngoài. Sokolsky thận trọng hé cửa. Có tiếng chân đi xuống ở dưới, với nhịp điệu mệt nhọc như lúc trước.
Quy trình cũ lặp lại. Sokolsky lại xuống cầu thang trước, đi vào, rồi lại leo lên. Lần này, anh búng ngón tay hai tiếng. Một lát sau, hai người kia đã ở dưới đó cùng anh.
Họ đóng cánh cửa căn phòng mới lại sau lưng, phòng của Tompkins.
“Sao cậu biết lão sẽ quay lại?” Dobbs thì thào.
“Tẩu thuốc của lão còn trên bàn, nõ tẩu vẫn ấm. Có nghĩa lão vô tình đặt xuống, không có ý định bỏ nó lại.”
Người thợ điện nhanh chóng vào việc. Anh ta kẹp một thiết bị nhỏ vào ống nước nóng trong góc phòng, quay vào tường. Nó vẫn có thể bị nhìn thấy bằng ánh mắt chiếu thẳng và quét dọc đường ống mảnh khảnh. Chưa hài lòng, anh ta kéo nó xuống mặt sàn, ở chỗ tối này nó thoát khỏi tầm soi mói. Anh ta bật đèn để kiểm tra. Nó vẫn bị che khuất trước ánh sáng mạnh, vì bóng của đường ống đã trùm lên nó.
Anh ta đi ra ngoài. Có tiếng lạo xạo nhỏ ở cái lỗ luồn đường ống trên trần, nó rất nhỏ, khó phát hiện ra. Một hoặc hai lần, đầu lưỡi cưa thò ra, rồi bẽn lẽn lui về. Mạt cưa và vữa rơi xuống như những tia kẹo đường. Xuất hiện một sợi dây điện, bò dọc theo đường ống, chỉ hiện ra khi nó tiếp tục di chuyển, lúc dừng lại thì lẩn mất.
Người thợ điện lại bước vào. Anh ta kéo dây xuống sâu hơn, gắn nó vào thiết bị đã đặt dưới sàn.
“Thử âm thanh xem”, anh ta nói, chạy ra ngoài lần thứ hai.
Sokolsky nhìn Dobbs, như thể anh đang nói với Dobbs chứ không phải tay thợ điện ở tầng trên. Anh giữ giọng đủ cho người gần nhất nghe. “Okay? Cậu nghe thấy tôi không, Graham?” Anh nói nhỏ.
Cái ống kêu lục cục, như có người gõ móng tay vào để xác nhận.
Họ di chuyển sang bên kia phòng.
“Thế còn ở đây?”
Cái ống lại lách cách.
“Giờ ở bên này. Chúng tôi không muốn có điểm chết nào. Chúng tôi đang ở trong góc, bên trái cửa, Graham. Nghe được chứ?”
Cái ống lách cách.
“Không có điểm mù”, Dobbs kết luận.
Tay thợ điện tái xuất hiện, rút trong túi ra một tờ giấy thấm, mở vòi nhỏ vài giọt nước lên để làm ẩm, sau đó ấn nó xuống sàn quanh miệng ống, chỗ mùn cưa và vữa rơi lúc nãy. Xong anh ta gấp nó lại và cẩn thận nhét vào túi.
Ra đến cửa, anh ta dừng lại, chụm ngón cái và ngón giữa lại thành vòng tròn ra dấu đã hoàn tất, dứ dứ về phía họ. “Phần còn lại của các anh”, anh ta nói rồi bỏ đi.
Họ cũng rời căn phòng, nhưng là một tiếng rưỡi sau. Dobbs cẩn thận nhét thứ gì đó vào túi. “Mấy tờ séc này của ông Reid phải đem đi chụp lại, rồi đặt về chỗ cũ, thật nhanh.”
“Cậu có nghĩ lão biết đến chúng không? Có ý định để dành không? Mười hai ngàn đô đáng giá...”
“Lão không cất giấu chúng. Tớ nghĩ chúng đã bị vứt lăn lóc cho đến khi lão quên hẳn chúng. Vị trí chúng xuất hiện cho thấy thế. Tớ tìm thấy một tờ kẹt giữa cái tủ và tường, có vẻ nó bị rơi xuống đằng sau tủ. Một tờ khác bị vò nhàu và có mùi thuốc lá ở mặt sau, hình như lão dùng nó để lau tẩu.”
“Lão thuộc kiểu người gì thế nhỉ?”
“Hoặc đần độn hoặc cực kỳ thông minh. Điều đó do McManus quyết định, không phải bọn mình. Tớ mang chúng đi, còn cậu đeo tai nghe vào.”
Lúc sáu giờ, những tấm séc được trả lại, Dobbs thay ca cho Sokolsky trực ống nghe.
Kết quả thu được là im lặng, sự im lặng của một căn phòng trống.
Sáu giờ hai bảy phút, cửa mở - qua đường dây truyền về. Cửa đóng. Tiếng chân đi lại, rồi dừng. Tiếng lạch phạch của áo khoác cởi ra ném lên lưng ghế.
Không có chuyển động nào trong căn phòng bên trên. Trừ bàn tay phải của Dobbs ghi tốc ký những ký hiệu bằng bút chì lên một tập giấy, và cũng chỉ là thỉnh thoảng, chủ yếu nó nằm yên.
Bên ngoài, trời đã tối. Một vệt sáng mỏng hình trăng lưỡi liềm tỏa ra quanh cái ống gắn dưới sàn, bằng một miếng móng tay không hơn. Còn đâu căn phòng bên trên tối om. Hai người trong phòng còn khó nhìn thấy nhau. Bàn tay Dobbs vạch những vòng xoắn nhỏ và nét móc trong bóng tối. Anh ta chĩa ngón tay út ra, để biết khi nào mình chệch ra ngoài tập giấy.
Bảy giờ, tiếng thìa cạo ken két trong một chiếc ấm, vét sạch nó. Từ đó cho đến nửa tiếng sau, thỉnh thoảng vang lên tiếng loảng xoảng của bát đĩa sành. Rồi lách cách, như số bát đĩa đang được gom lại đem đi chỗ khác. Tiếng nước chảy cùng với tiếng chà rửa, tiếng lanh canh hòa lẫn và chìm trong tiếng nước bắn và xối ào ào. Rồi những tiếng thịch thịch cuối cùng của số bát đĩa, được xếp từng cái một.
Tiếp sau đó lại là một khoảng im lặng. Bàn tay Dobbs nằm yên, ngoài những lúc anh ta xem những con số phát quang trên cổ tay.
9:12, người đàn ông ho khù khụ.
9:14, một tờ báo loạt soạt.
9:16, tiếng gõ tẩu cọc cọc.
9:17, một chiếc ghế xê dịch cọt kẹt.
9:19, tiếng nước xối ào ào, lần này vang vọng hơn và ở xa hơn. Bàn tay Dobbs giơ lên trong bóng tối kéo một sợi dây tưởng tượng. Sokolsky gật đầu hiểu ý.
9:20, một chiếc giày rơi thịch xuống sàn.
9:20:15, đến chiếc giày thứ hai thịch.
9:21, tia sáng ở đầu ống tắt.
9:22, lò xo giường kẽo kẹt.
9:24, nó kẽo kẹt lần nữa, nhưng nhẹ hơn, điều chỉnh lần cuối.
Sau đó không có gì cả. Đêm trôi chậm chạp. Đến nửa đêm, Sokolsky tiếp quản tai nghe và giấy bút.
Tất cả những gì anh thu thập được là im lặng. Sự im lặng của căn phòng có người đang ngủ.
“Đã tròn hai tư tiếng rồi, sếp. Chưa có ai tiếp xúc với lão ta. Lão chỉ về nhà, ngủ, rời nhà, về nhà, rồi lại ngủ. Tất cả những gì chúng tôi có là nhạc nền, thậm chí chúng tôi chưa một lần nghe thấy giọng lão. Chẳng người nào xuất hiện, chẳng có ma nào.”
“Sẽ có người đến. Phải có người đến.”
“Chưa có căn phòng nào được chúng tôi theo dõi sát sao như căn phòng này. Tôi chưa ra ngoài lần nào. Dobbs đem đồ ăn cho tôi khi cậu ta nghỉ. Tôi ăn ngay tại vị trí.”
“Đừng để những cái tai nghe lạnh đi. Tôi không muốn chúng rời khỏi đầu cậu. Cứ nghe đi. Nếu không có gì để nghe, thì nghe cái không có gì ấy. Tôi muốn có từng tiếng cót két của ván sàn, từng tiếng gặm nhấm của con chuột lúc nửa đêm.”
“Giá mà có một con chuột như thế còn đỡ tẻ nhạt. Chúng tôi chẳng có tiếng chuột gặm để mà nghe.”
“Cậu sẽ có con chuột của cậu, Sokolsky. Nhưng nó sẽ không có cái đuôi dài đâu.”