Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
Bãi Lầy Của Hillary

❊ ❊ ❊

THÁNG 11 năm 2003, sáu tháng sau khi “các chiến dịch quân sự chính” tại Iraq kết thúc, Hillary bay đến Iraq, cũng giống như Medea Benjamin của nhóm Code Pink đã làm trước khi có cuộc xâm lược. Bà đi cùng với Thượng nghị sĩ Jack Reed, một cựu viên chức quân đội và là một thành viên Dân chủ từ Rhode Island; cả hai cũng du hành đến Afghanistan. Mặc dù, theo các nghi thức bình thường của thâm niên, người cựu chiến binh từ Rhode Island lẽ ra được quyền ngủ trên chiếc giường duy nhất trên chiếc phi cơ quân sự nhỏ của hai người, nhưng ông đã lịch sự nhường cho Hillary.

Không lâu sau chuyến đi, và trùng hợp là đúng một ngày sau khi bắt được Saddam Hussein, Hillary có một bài nói quan trọng về chính sách đối ngoại với hai quốc gia đó tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại ở New York. Bài nói đó của bà nghe rất giống Tổng thống Bush, ngay cả khi bà đưa ra một số lời chỉ trích về công cuộc tái thiết sau chiến tranh. Bà kêu gọi một “chính sách quốc phòng và đối ngoại cứng rắn, có tinh thần không khoan nhượng.” Bà cố thuyết phục “sự nhẫn nại” và lo lắng về ý chí chính trị “kiên trì đến cùng.” “Thất bại không phải là một lựa chọn” ở Iraq và Afghanistan, bà tuyên bố. Rồi bà nói, “Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục tham gia và tận tụy” ở Iraq, và bà gọi quyết định của mình vào năm 2002 chấp thuận cho tổng thống xâm lược Iraq là “một lá phiếu đúng,” một quyết định mà “tôi ủng hộ.”

Bốn tháng sau khi Bush tái đắc cử, Hillary thực hiện một chuyến đi thứ hai đến Iraq và đưa ra một đánh giá có phần lạc quan về tiến bộ đang đạt được và các cơ hội cho hòa bình, bất chấp chứng cứ ngày càng tăng rằng tình trạng nổi dậy đang ngày càng có đà. Bà nói với những phóng viên ở Iraq rằng những người nổi dậy đã thất bại trong việc gây rối các cuộc bầu cử lâm thời của Iraq vừa được tổ chức. Bà lưu ý rằng các cuộc tấn công tự sát ghê khiếp của họ là một dấu hiệu của sự tuyệt vọng và rằng phần lớn đất nước Iraq đang “vận hành khá tốt.” Những nhận xét của bà lặp lại rất nhiều những lời phát biểu của Tổng thống Bush lúc bấy giờ về sự tiến bộ đang đạt được ở Iraq. Trong lúc bà bày tỏ sự lạc quan của mình, một làn sóng tấn công ở Baghdad đã làm tiêu tan những hoạt động ăn mừng ngày lễ linh thiêng nhất của Hồi giáo dòng Shiite, giết chết hàng mấy chục người, trong đó có một lính Mỹ.

Ngày tiếp theo, Hillary thực hiện một cuộc xuất hiện hiếm hoi trong chương trình Nói chuyện Chủ nhật; không giống như nhiều thượng nghị sĩ khao khát được đứng dưới ánh đèn, Hillary không cần phải tìm kiếm điều đó và rất ít khi làm thế. Trong một cuộc phỏng vấn từ Baghdad trên chương trình Gặp gỡ Báo chí của đài NBC, bà cho rằng “sẽ là một sai lầm” nếu kêu gọi rút quân ngay lập tức hay đưa ra một thời gian biểu cho rút quân. “Các bạn biết đấy, chúng ta không muốn gửi một tín hiệu đến phe nổi dậy, đến bọn khủng bố, rằng chúng ta sẽ ra khỏi đây vào một ngày xác định nào đó,” bà nói. Bà nhắc đi nhắc lại rằng bà vẫn thoải mái với lập trường của mình về Iraq.

Tuy nhiên đến cuối năm 2005, khi những người Iraq chuẩn bị bầu cho một chính quyền mới và tình hình an ninh đã trở nên xấu hơn nữa, thì ở Mỹ xuất hiện những lời kêu gọi mạnh mẽ đòi bằng cách nào đó phải rút giảm quân. Nghị sĩ Jack Murtha, cựu lính thủy đánh bộ và là một thành viên Dân chủ thân Lầu Năm Góc từ Pennsylvania, kêu gọi một cuộc rút quân ngay lập tức của tất cả lính Mỹ. Hillary bác bỏ lựa chọn đó và thay vào đó bà tham gia vào một nghị quyết Thượng viện kêu gọi tổng thống chuẩn bị một kế hoạch để bắt đầu việc rút quân vào năm 2006.

Chiến tranh Iraq, tới lúc đó, đã trở nên ngày càng không được ủng hộ tại quê nhà, khi con số thương vong của Mỹ đã vượt quá mốc hai ngàn. Những thường dân vô tội bị lính Mỹ giết hại, và những phe nổi dậy hung bạo của Iraq, do những người Ả Rập theo phái Sunni quá khích cầm đầu, đã bắt đầu một chiến lược giết dân thường theo phái Shiite nhằm “châm ngòi cho một cuộc nội chiến.” Tuy vậy, vào ngày 10 tháng 11 năm 2005, tại một buổi họp mặt riêng của các thượng nghị sĩ Dân chủ, ngôn ngữ trong Nghị quyết đã được chỉnh sửa theo chỉ thị của Hillary, người vắng mặt tại buổi họp. Cụm từ được thêm vào – “với sự hiểu biết rằng có thể xảy ra những sự kiện bất ngờ không lường trước được” – thực tế đã cho Bush chỗ xoay trở. Vai trò của Hillary trong việc làm dịu bớt ngôn ngữ trong dự luật đã không được công khai.

Quan điểm phổ biến của dân Mỹ về cuộc chiến càng tồi tệ hơn sau khi mọi chuyện đã rõ rằng tình báo trước chiến tranh của chính quyền Bush đã có những sai lầm chết người, cũng như dự báo lạc quan quá mức của nó về sự dễ dàng của cuộc chiếm đóng. Cùng với sự chuyển đổi đó, lập trường của Hillary cũng thay đổi theo. Chẳng có gì ngạc nhiên khi tín hiệu đầu tiên cho ý định hay đổi đường lối theo cánh tả của Hillary đã xuất hiện thông qua Bill, người tiếp tục vai trò của mình với tư cách là chồng của bà thượng nghị sĩ, và là người có thể nói những điều mà Hillary không thể hoặc sẽ không nói. Nói chuyện trước những sinh viên tại trường Đại học Mỹ ở Dubai vào ngày 16 tháng 11 năm 2005, vị cựu tổng thống tuyên bố rằng cuộc xâm lược Iraq là một “sai lầm to lớn.” Ông tiếp thêm rằng ông “đã không đồng ý với việc người ta đã làm.”

Ngày 29 tháng 11, hai tháng sau bài nói chuyện của Bill trước sinh viên, Hillary gửi một lá thư dài đến những người ủng hộ, trình bày một cách chi tiết lập trường mới nhất của bà về Iraq. Giọng văn sâu sắc, lá thư chê trách chính quyền Bush đã tạo một ấn tượng sai cho bà và những người khác về ý định của chính quyền trong việc theo đuổi giải pháp ngoại giao, cũng như chê trách chính quyền đã quản lý tồi tình hình ở Iraq thời gian sau cuộc xâm lược. Nhưng trong phần thảo luận về những lá phiếu liên quan đến Iraq năm 2002 của Hillary, lá thư cũng sai lạc nốt. Ở câu hỏi về số quân, bà một lần nữa thể hiện lập trường trung dung, báo trước sẽ chống lại một “cam kết bỏ ngỏ”, nhưng bác bỏ một cuộc rút quân ngay lập tức. Và tuy thừa nhận “trách nhiệm” cho lá phiếu của mình vào năm 2002, bà không hề bày tỏ chút hối tiếc nào.

“Trước khi tôi bỏ phiếu vào năm 2002,” bà viết, “Chính quyền đã cam đoan một cách công khai lẫn riêng tư với tôi rằng họ có ý định sử dụng quyền hạn của mình để có được sự ủng hộ của quốc tế nhằm khiến các thanh sát viên Liên Hiệp Quốc quay trở lại Iraq, như trong bài diễn văn Cincinnati vào ngày 7 tháng 10 năm 2002 của Tổng thống đã nói rõ. Và như tôi đã nói trong bài phát biểu tại Thượng viện vào tháng 10 năm 2002, lúc đó tôi đã tin vào những lời nói của tổng thống, rằng ông sẽ cố gắng hết sức để thông qua một nghị quyết Liên Hiệp Quốc và sẽ tìm cách ngăn chặn chiến tranh, trong mọi chừng mực có thể.”

Tuy nhiên, bà đã bỏ qua không nhắc tới, rằng dự luật mà bà bỏ phiếu ủng hộ đã không hề bắt buộc Tổng thống Bush phải “có được sự ủng hộ của quốc tế.” Nghị quyết viết rằng tổng thống có thể sử dụng vũ lực nếu ông ấy xác định rằng “chỉ một mình các giải pháp ngoại giao hay hòa bình khác thêm nữa thì hoặc (A) sẽ không đủ bảo vệ an ninh quốc gia của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ chống lại mối đe dọa liên tục từ Iraq, hoặc (B) không chắc sẽ dẫn tới việc thực hiện tất cả các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc về Iraq.” Hillary nhấn mạnh rằng tổng thống đã gây ấn tượng sai lệch cho bà về ý định theo đuổi giải pháp ngoại giao của ông. Nhưng nghị định đã không bắt buộc tổng thống phải kết luận rằng các giải pháp ngoại giao trong quá khứ đã thất bại để mà tiến hành chiến tranh. Thay vào đó, nó chỉ đơn giản bắt tổng thống quyết định rằng giải pháp ngoại giao trong tương lai sẽ không có tác dụng. Sau khi ông làm điều đó, nghị quyết rõ ràng đã chấp thuận cho tổng thống “sử dụng các Lực lượng Vũ trang của Mỹ theo như ông xác định là cần thiết và thích hợp” nhằm “bắt thi hành tất cả các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc,” bao gồm các nghị quyết từ năm 1990 cho phép sử dụng vũ lực để chống lại Iraq. Mà trong lá thư gửi các cử tri của mình, Hillary cũng chẳng đề cập đến sự thật là bà đã không tham gia cùng hai mươi bốn thượng nghị sĩ, những người đã cố gắng thêm vào những cái phanh trong kế hoạch xâm lược Iraq của Bush bằng cách bắt tổng thống quay trở lại Quốc hội nếu giải pháp ngoại giao thất bại.

Thay vào đó, Hillary lặp đi lặp lại tuyên bố rằng, tin tức tình báo trước chiến tranh mà bà và những người khác đã dựa vào, liên quan tới “các vũ khí hủy diệt hàng loạt và những mối liên kết với Al Qaeda hóa ra là sai.” Ở đây cũng có phần thật: Tổng thống Bush và nhóm của ông đã thông tin sai cho nhiều người ở Quốc hội. Nhưng không phải ai cũng tin nó sái cổ. Có Hillary thì thế. Và bà không chỉ đồng hành với với Bush và Cheney, bà còn làm vậy với sự hăng hái đặc biệt. Cả chính quyền Bush lẫn Hillary đều nhiệt tình mô tả sai lệch tin tình báo có sẵn lúc ấy. Hillary đã vướng vào bãi lầy Iraq của chính bà: Nếu thừa nhận mình đã sai ngay từ đầu, tức là bà đã thừa nhận sự kém cỏi trong lá phiếu lớn nhất của sự nghiệp mình. Nhưng nếu tiếp tục trung thành với lá phiếu của mình, bà đã công khai chống lại thực tế.

Hai tuần sau khi chê bai Bush trong lá thư của mình, Hillary đã có một cơ hội để đích thân bày tỏ sự chỉ trích của mình đến tổng thống. Vào giữa tháng 12, bà và một vài thượng nghị sĩ khác có buổi họp riêng với Tổng thống Bush tại Nhà Trắng để bàn về Iraq. Nhưng Hillary đã không nói gì với tổng thống tại buổi họp. Phía Nhà Trắng của Bush cho biết sự im lặng của bà tại những cuộc họp đặc biệt như vậy không phải là bất thường: “Bà ấy rất hiếm khi nói gì nhiều. Như thể bà ấy đang quan sát buổi họp, giữ kín những ý định của mình, ghi chép tất cả lại. Hiếm khi nghe thấy bà ấy nói gì, nếu có thì thường là câu “Cám ơn đã tiếp chúng tôi, Ngài Tổng thống”. Có thể Hillary đã nghĩ rằng có bày tỏ những khúc mắc trực tiếp với tổng thống cũng là vô ích. Nhưng theo cách nhìn của Nhà Trắng, việc Hillary bỏ qua cơ hội bộc lộ suy nghĩ của mình với Bush chỉ làm cho các chỉ trích của bà có vẻ như những trò màu mè để vận động tranh cử chứ đằng sau không có tí chân thực nào.

Hillary có thể đã làm dịu bớt lập trường của mình về Iraq, nhưng vẫn không đủ để xoa dịu những người phụ nữ của Code Pink. Vào cuối năm 2005, họ phát động một chiến dịch mới với việc thức đêm mỗi tuần mà họ gọi một cách thông minh là “Đeo bám Hillary.”

Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Ngay cả đám phóng viên cũng bị những phụ tá của Hillary giấu kín phần lớn thời khóa biểu của bà thượng nghị sĩ, đặc biệt là sự góp mặt của bà tại các sự kiện gây quỹ tranh cử. Lịch các buổi gây quỹ thường xuyên của Hillary chỉ được phát cho những người cần phải biết, và ngay cả có phát rồi cũng vẫn thường thay đổi vào phút cuối. Nhưng những thành viên của Code Pink, vốn có tài xoay sở, đã có cách riêng của mình để tìm ra, và chẳng bao lâu sau họ bắt đầu xuất hiện để quấy rầy Hillary tại các sự kiện ở New York và Washington, tại các buổi gây quỹ ở Chicago, Los Angeles, và San Francisco.

Tại hai buổi gây quỹ ở Manhattan có Hillary tham dự, thành viên của Code Pink đã phản đối, hét các câu hỏi, hỏi bà về cuộc chiến, nhưng không nhận được phản ứng nào. Một trong các buổi gây quỹ, tại một dinh thự ở Thượng Phía Tây, là cho Thượng nghị sĩ Robert Byrd từ West Virginia, người cao tuổi nhất trong Thượng viện. Chỉ một tuần trước đó, Hillary đã ca ngợi Thượng nghị sĩ Byrd như “một người bạn, người cố vấn, và hình mẫu vĩ đại cho tôi.” Không thể tiếp xúc với Hillary tại buổi lễ, nhóm chuyển hướng chú ý sang Byrd khi ông leo ra khỏi một chiếc limousine xế chiều hôm đó và bước đi với một cái gậy về phía buổi lễ. Courtney Lee Adams, một thành viên Code Pink, hỏi Thượng nghị sĩ Byrd liệu ông có thể giúp thuyết phục Hillary thay đổi cách nhìn của mình về Iraq không. Vị thượng nghị sĩ tám mươi tám tuổi yếu ớt trả lời, “Các quý bà, tôi không bảo bà ấy làm bất cứ điều gì cả.”

Vào tháng 9 năm2005, Sáng kiến Toàn cầu Clinton tổ chức hội nghị đầu tiên tại Sheraton Hotel and Towers ở trung Manhattan. Về sau nó sẽ trở thành cuộc họp thường niên, thu hút một nhóm chói lọi gồm các nhà lãnh đạo thế giới, nhà điều hành các tập đoàn, phóng viên, và các nhân vật nổi tiếng giàu có.

Sáng kiến là một phần của Quỹ tài trợ William J. Clinton của vị cựu tổng thống. Trong năm đầu tiên, quỹ đã tập trung vào các đề tài về nạn đói nghèo, y tế, việc hòa giải, và lãnh đạo. Đến mùa xuân năm 2005, Bill đã mở rộng chương trình của ông, bao gồm hẳn một phiên về “sự ấm lên của trái đất và các sự kiện thời tiết khắc nghiệt” cùng nhiều hội thảo liên quan khác. Bão Katrina mùa hè năm đó tàn phá New Orleans. Cơn bão đã nhanh chóng trở thành “Phụ mục A” cho một số nhà hoạt động quan tâm đến sự ấm dần lên của trái đất.

Chương trình này khớp với mục tiêu của Hillary nhằm đánh bóng bản lý lịch của bà về một đề tài quan trọng đang nổi lên mà bà lại chậm trễ chưa kịp nói tới. Không lâu sau, người tổ chức các buổi hội thảo bàn về sự ấm dần lên của trái đất, David Sandalow, được tin Hillary mong muốn tham dự. “Người ta bảo tôi rằng bà ấy quan tâm đến việc xuất hiện trên diễn đàn của chúng tôi về việc ấm dần lên của trái đất,” Sandalow kể lại. Dĩ nhiên, ông lập tức thêm bà vào danh sách.

Trên sân khấu, tại buổi hội nghị, Hillary nói với khán giả rằng hiện đang “thiếu một sự lãnh đạo” của Chính phủ Bush trong vấn đề thay đổi khí hậu. Rồi bà đưa ra giải pháp của chính mình: “Tôi sẽ ủng hộ một nỗ lực có tính phối hợp hơn rất nhiều về phần chính quyền của chúng ta để tài trợ cho một dự án nghiên cứu có phạm vi rộng lớn về các dạng năng lượng thay thế”.

Ngày tiếp theo diễn ra một phiên họp toàn thể đặc biệt về sự ấm dần lên của trái đất. Hình tượng thu hút mọi người là Al Gore; bộ phim tài liệu của ông về đề tài này cũng sắp hoàn thành. (Bill sử dụng thời giờ của mình tại hội nghị để làm cái việc mà ông giỏi nhất – bóp chặt những cái vai, vỗ nhẹ những tấm lưng, diễn thuyết hùng hồn về một tương lai tươi sáng, và truyền cảm hứng cho những khách mời đang kính sợ mở sổ ghi séc của mình ra cho những việc thiện.) Chủ tọa của phiên toàn thể, cựu Thượng nghị sĩ Dân chủ Tim Wirth, khen ngợi Hillary là “rất ấn tượng” và “rất rõ ràng về sự cấp bách” mà sự ấm dần lên của trái đất đặt ra. Wirth hỏi Gore có lời khuyên nào dành cho Hillary không, khi gọi bà là một trong những “ứng cử viên có triển vọng cho kỳ bổ nhiệm tranh cử tổng thống của Đảng Dân chủ năm 2008.”

Câu hỏi của Wirth, trong khung cảnh của năm 2008, đã chạm vào một đề tài nhạy cảm: Hillary là một người đến sau trong một đề tài mà Gore đã tiên phong. Dù cho có vô tình như thế nào đi nữa, việc đó cũng ghi nhận một sự thật rằng Hillary có ưu thế hơn về mặt chính trị, trong khi nhiều người cảm thấy rằng cơ hội của Gore đã đến và đã đi.

Hillary và Gore đã ganh đua quyết liệt, giành nhau quyền lực và sự chú ý của Bill trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông, và sự ganh đua đó chỉ càng thêm mãnh liệt sau khi nhà Clinton rời khỏi Nhà Trắng. Bill bí mật nói với những người thân tín rằng ông tin là nếu Hillary nổi lên như một ứng cử viên tổng thống nhiều khả năng của Đảng Dân chủ vào năm 2008, thì Gore sẽ tham gia vào cuộc đua như một sự thay thế cho Hillary ở cánh tả. Và những ký ức dài lâu của vụ bê bối Lewinsky cho thấy, người ta không được quên ngay rằng, khi Gore là ứng cử viên tổng thống vào năm 2000, ông đã lựa chọn đích danh người làm đối tác liên danh của mình là Joe Lieberman, một thành viên Dân chủ vốn cực kỳ cay nghiệt về sự không chung thủy và không trung thực của Bill.

Về phần mình, Gore đã công khai tuyên bố rằng ông không hề có kế hoạch ra tranh cử vào năm 2008 và miêu tả mối quan hệ của mình với nhà Clinton là “tốt.” Một trong những bạn tâm tình của Gore là Roy Neel, đã miêu tả ông là không quan tâm về việc liệu Hillary có đang cố gắng chơi trội ông trong vấn đề môi trường không vì “ông đã rất nổi trội.” (Tuy vậy, lúc riêng tư, Gore đã phàn nàn với một vài phụ tá của mình về Hillary và những nỗ lực chậm trễ của Bill nhằm lợi dụng đề tài ruột của ông.)

Gore né tránh câu hỏi của Wirth. Thay vào đó, ông chỉ trích cung cách của truyền hình và sự khao khát những câu nói chua cay gãy gọn đã giết chết các cuộc tranh luận về chính sách công cộng. Ông không đề cập đến Hillary hay gợi ý bà nên nói gì, nhưng ông phàn nàn về sự thất bại của những bài thuyết trình của chính ông về sự thay đổi khí hậu; chúng đã không trở thành “một phần của các cuộc thảo luận hạng A”. Ông dĩ nhiên không chào đón nỗ lực của Hillary nhằm tái tạo hình ảnh của bà như một người mở đường trong một đề tài bỗng nhiên đang “sốt” về sự thay đổi khí hậu. Sự trầm lặng của Gore là có thể hiểu được. Ông đã viết, nghĩ, và nói về đề tài đó trong gần suốt ba mươi năm.

Một tháng sau, Hillary mở màn một kế hoạch về năng lượng sạch toàn diện, tương thích với những gì bà đã đề cập tại hội nghị của Bill. Bà đã phải chung số phận như Gore: Không một ai chú ý. “Sự im lặng thật inh tai,” chồng bà sau đó phàn nàn, có phần giận dữ. Đối với Bill, bài diễn văn của Hillary sau hội nghị của ông là “bài diễn văn của vợ tại Thượng viện khiến tôi tự hào nhất kể từ khi bà ấy trở thành thượng nghị sĩ.”

Sau sự tiếp nhận lặng thinh từ báo chí và công chúng, Hillary giữ một vị thế ít gây chú ý về đề tài này trong bảy tháng. Nhưng cuộc tranh đua giữa Thượng nghị sĩ Clinton và Al Gore sẽ tiếp tục lan ra. Khi quan tâm đến môi trường, Hillary có thể không có nhiều “quá trình” cho lắm, nhưng so với vấn đề Iraq, nơi mà quá khứ của bà giờ đây đang ám ảnh bà, thì một lý lịch có phần trống không xét ra lại khá hấp dẫn.

Hillary đã tìm ra một sự nghiệp mới.

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.