Đêm Ngàn Mắt

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12
Quy Trình Của Cảnh Sát: Molloy

❊ ❊ ❊

“Thưa sếp? Molloy đây, sếp.”

(ngắt quãng)

“Báo cáo đi? Cậu có gì?”

“Tôi phụ trách lũ sư tử, sếp biết đấy. Sếp đã giao cho tôi nhiệm vụ thật khó nhằn…”

(cáu kỉnh) “Tôi biết tôi giao cái gì cho cậu. Và tôi đã giao nó cho cậu vào hai ngày trước! Cái cậu sắp giao cho tôi mới là cái tôi muốn nghe.”

“Vâng, thưa sếp. Trước tiên, tôi đã rà soát tất cả những con sư tử mà chúng ta biết. Sau đó, tôi biết được một chuyện. Có một đoàn xiếc lưu động nhỏ, dạng tạp kĩ, sắp đến đây lưu diễn. Khi tôi hay tin thì nó đang ở Hampton, lúc đó là vào khoảng ba giờ chiều ngày hôm qua. Tôi lập tức lên đường, nhưng khi đến nơi, do động cơ trục trặc cùng với chuyện đôi giày bệt liền sau đó, tôi đã đến quá muộn...”

Đế giày của cảnh sát trưởng địa phương gác thành hình chữ V trên mặt bàn, ánh mắt dò xét của ông ta đi qua khe hở này tới khuôn mặt Molloy vừa bước vào. Nó trông còn mới, như vừa được khui ra khỏi hộp.

“Tôi giúp gì được anh?” Ông ta hỏi có phần cộc lốc, ở địa vị của một người có chức sắc.

Vẻ cộc lốc biến mất khi Molloy đưa giấy ủy nhiệm ra, liền chuyển sang hòa nhã. Song, nó mang tính tương đồng với vẻ thờ ơ. “Đừng động một tí là đem người tới đây”, ông ta nói với một nhịp uể oải. “Lấy ghế ngồi đi...”

Câu hỏi của Molloy đã khoan một lỗ vào lớp vỏ chan hòa nhàn nhã mà ông ta đang cố thể hiện. Ông ta hơi có vẻ rầu rĩ trong một phút trước sự nôn nóng của mấy viên chức cảnh sát rồi mới trả lời.

“Đúng, chúng tôi đã đón một đoàn lưu diễn vào tối qua. Tôi đưa hai đứa trẻ và bà xã đi xem. Chúng tôi cho họ dựng lều ở khu đất lớn cạnh nhà thờ Methodis, tất nhiên là họ đóng phí như bình thường.” Ông ta nhai nhai thứ gì đó, có thể là một thứ không tồn tại, ở một bên miệng. “Đóng trước”, ông ta bổ sung.

“Khu đất đó...? Giờ nó đã trống trơn, tôi vừa ghé qua.”

“Ồ đúng thế. Họ nhổ trại ngay sau khi khán giả cuối cùng ra về, khoảng nửa đêm. Họ đã lên đường từ một giờ sáng nay. Tôi đã cho họ biết quy định của chúng tôi, họ sẽ phải trả tiền cho ngày thứ hai sử dụng khu đất, bắt đầu từ nửa đêm, nếu họ vẫn còn ở đó.”‘

Molloy gạt cái quy định kém hiếu khách của địa phương sang một bên. “Tôi nghe nói họ mang theo một số loài động vật hoang dã.”

“Có vài con. Không ấn tượng lắm”, cảnh sát trưởng nói, với cái cau mày của một người từng trải. “Chúng rất nặng mùi. Xử lí mùi là cái mà họ thiếu…”

Molloy lướt những đốt ngón tay qua mặt bàn. “Có con sư tử nào không? Đó là điều tôi muốn biết.”

“Có, hai con. Một cặp. Cùng ở một chuồng. Một đực một cái, tôi đoán vậy. Một con có bờm một con không. Không biết chúng tốt xấu ra sao, vì chúng chẳng biểu diễn gì hết. Chúng chỉ ở trong chuồng, ngủ như chết từ đầu đến cuối chương trình. Họ có một con ngựa vằn đã được huấn luyện chút ít, nó còn có ích. Bọn trẻ con được cưỡi nó một vòng, mỗi lần hai đứa…”

Molloy đảo người, từ vai trở xuống xoay ra cửa, nhưng từ vai trở lên anh tiếp tục đối diện với người cung cấp tin rề rà của mình. “Điểm hạ trại tiếp theo của họ ở đâu?”

“Tôi không nhớ là họ có nói cho ai, chỉ lẳng lặng nhổ trại và rời đi.”

Giờ Molloy đã ra đến cửa, nhận ra cách duy nhất kết thúc cuộc trò chuyện là biến khỏi nó, cho đến khi âm thanh không thể tới tai mình nữa và vì thế nó tự động chấm dứt. “Họ đi hướng nào, họ chọn đường nào?”.

“À, chỉ có một đường thôi.” Cảnh sát trưởng buộc phải thừa nhận. “Nó đến từ hướng Fairfied và ra theo hướng Hanoveria. Tôi biết họ không đi qua nhà tôi trên đường ra, vì nhà tôi ở mạn trên. Một đứa nhà tôi từng bị đau dạ dày vì...”

“Họ sẽ không quay lại và biểu diễn ở chốn cũ”, Molloy nói với ông ta. “Họ đến từ hướng nào?”

“Fairfied”, Cảnh sát trưởng đáp.

“Đường kia đi qua những đâu? Theo ông, nơi đầu tiên họ có khả năng dừng lại là chỗ nào?”

“Là Hanoveria, như tôi đã nói với anh.”

Molloy quay lại bàn, bất kể những khó khăn trong giao tiếp. “Tôi có thể dùng điện thoại của ông không?” Anh nhấc máy lên mà không chờ câu trả lời. Cảnh sát trưởng có vẻ hơi lo lắng. Ông ta thậm chí còn nháy nháy mắt vài lần, như đang tính toán.

Molloy gác máy ngay sau đó. “Hanoveria nói họ đã đi qua đó rạng sáng nay, không dừng lại. Đi chậm. Tiếp theo là...”

Lần này, cảnh sát trưởng nom lo âu ra mặt. Thậm chí ông ta còn dịch điện thoại trên bàn ra xa hơn khỏi Molloy. “Có lẽ tốt hơn anh nên... Anh đi xe đến đây à?”

“Nó đậu bên ngoài. Phải, có lẽ tốt hơn tôi nên đuổi theo họ”, Molloy đồng tình, dợm bước ra cửa.

Cảnh sát trưởng hắng giọng với một vẻ gần như thu hút mọi sự chú ý, có sự lo lắng cực độ trong đó.

“Tôi không muốn nhắc đến nó nhưng... Anh biết đấy... Anh có thể lại lên đây lần nữa và có thể không.”

“Ồ”, Molloy hiểu ra. “Ồ. Cuộc gọi hết bao nhiêu?” Anh quá kinh ngạc để mà bực mình về chuyện đó.

“Bảy lăm xu từ đây đến Hanoveria, trong ba phút đầu…”

Molloy lục túi quần, ném một tờ bạc lên bàn nhưng không đến được tới nơi. “Cứ giữ lại tiền thừa. Ông biết cách làm ăn ra phết.” Cửa đóng lại sau lưng anh.

Cảnh sát trưởng có thể nói năng lờ đờ, nhưng hành động thì rất nhanh. Ông ta đã chui xuống gầm bàn, bò nhoài ra với lấy tờ tiền, trước cả khi tay Molloy rời khỏi nắm đấm cửa.

Molloy quay lại chiếc xe vừa chở anh đến, vẫn còn phả hơi nóng sau chuyến đi. Anh lên đường đến Hanoveria và những khu vực xa hơn. Một cú vào số, những lốp xe xoay nửa vòng, Hampton thu nhỏ dần phía sau anh.

Con đường lốm đốm ánh nắng chiều muộn, khung cảnh khá thanh bình để làm ảnh quảng cáo trên tạp chí cho máy kéo hoặc sản phẩm bơ sữa. Những đám mây màu kem sữa rải rác trên nền trời màu lam gốm, những con bò đứng sau hàng rào ngẩng đầu nhìn khi xe anh chạy qua. Thật xấu hổ khi mang những suy nghĩ về hiểm nguy qua một khung cảnh như thế này, kể cả chúng đã bị nhốt trong đầu bạn.

Hanoveria, khi anh đến, là một vùng đất không lớn hơn nơi vừa rồi là mấy. Khoảng năm, sáu nóc nhà nằm lác đác theo các hướng khác nhau, chấm hết. Anh đi qua không dừng lại. Khỏi cần dừng xe hỏi thăm, đoàn xiếc không lưu lại đây, làm gì đủ khán giả mà lôi kéo.

Một sự việc khó hiểu xảy ra phía xa xa bên đường, lọt vào tầm mắt anh đúng lúc anh đi qua. Anh biết đó là gì, nhưng không thể lí giải nguyên nhân.

Có một ngôi nhà kiểu trang trại ở xa mặt đường. Dọc đường chỉ có một hàng rào chạy dài, cao đến đầu gối, trên hàng rào là một cô bé ngồi đung đưa. Một người phụ nữ từ trong nhà chạy ra, kéo cô bé xuống, kẹp nách lôi xềnh xệch về nhà theo cách thức kỳ dị chỉ có thế có ở một người mẹ đang vô cùng sợ hãi. Không có sự tức giận, chuẩn bị trừng phạt hay bất cứ khả năng nào khác.

Nhưng điều anh không hiểu nổi là nguồn cơn nỗi sợ của bà. Nó không liên quan đến chiều cao hàng rào, vì nếu đứa trẻ có ngã khỏi đó thì cũng không thể bị thương. Nó không liên quan đến anh và chiếc xe của anh. Bà đã chạy tới chỗ đứa trẻ trước khi anh xuất hiện. Cái hàng rào cũng không ở quá gần đường để đứa bé gặp nguy hiểm từ những chiếc xe kế tiếp, dù sao cũng chẳng có một chiếc xe nào. Người phụ nữ lại mím chặt môi mà không mắng mỏ, như thể bà không thể chia sẻ với con nỗi sợ này, nó quá nghiêm trọng để kể cho đứa trẻ nghe. Cuối cùng, người phụ nữ không nhìn về chiếc xe, đằng sau nó, phía trước nó và suốt con đường. Bà ta nhìn về hàng cây tối thẫm ở đằng xa.

Sợ hãi? Molloy tự hỏi. Điều gì? Nhưng anh không nghĩ xa hơn. Nó chỉ là một lát cắt trên đường. Anh ghi nhận nhưng không đào sâu nó.

Thêm một cụm dân cư nhỏ nữa xuất hiện. Anh cũng không dừng lại, thậm chí không cần biết tên. Những làng xóm kiểu này nhiều nhan nhản như rắc bột và hiển nhiên không có gánh xiếc rong nào hạ trại ở đây.

Có cái gì đó là lạ nơi đây, anh nghĩ. Anh không thể quay sang tìm hiểu xem là gì vì còn phải đi tiếp. Nhưng có một dòng chảy ngầm của... ờ, một sự căng thẳng dâng cao làm xáo động nó. Không phải do con người, mà ở bầu không khí nó tạo ra. Những người đàn ông đứng túm năm tụm ba nói chuyện. Họ ngoái lại nhìn khi anh phóng xe qua, nhưng với vẻ hờ hững, như thể mối quan tâm thực sự của họ nằm ở nơi khác, và việc anh xuất hiện chỉ là sự chen ngang đối với cái đang thu hút họ. Gần như mọi ngôi nhà đều có ít nhất một người phụ nữ nhìn ra từ cửa sổ trên gác. Họ không nhìn xuống những con đường nhỏ bên dưới mà phóng mắt về xa. Tới vùng rừng thưa ngoài rìa. Nếu ta nhìn thấy một người phụ nữ làm điều đó trong một hoặc hai ngôi nhà, Molloy tự nhủ, đó sẽ chỉ là sự tọc mạch đơn thuần. Nhưng nếu ta thấy tất cả bọn họ cùng lúc làm như thế, ắt là có chuyện.

Cứ mỗi lần bắt gặp một đứa trẻ con, anh tức thì nhìn thấy một phụ nữ chạy ra kéo nó vào nhà. Nỗi lo sợ cho lũ trẻ dường như đã lan khắp vùng quê như một đám cháy. Anh thắc mắc không hiểu đó là gì.

Anh tăng tốc so với tốc độ vốn đã khá cao của chiếc xe mà không hề nhận thấy, cho đến khi anh nhìn đồng hồ đo tốc độ.

Lúc anh đến ngôi làng tiếp theo, trời đã nhá nhem tối. Ngôi làng chìm trong một sắc tía, điểm những vệt nhiễu đen ngang dọc. Vẫn những nhóm đàn ông tụ tập, nhưng lần này một người trong số họ mang súng. Họ truyền tay nhau xem xét cẩn thận. Một nhóm khác có một con chó buộc vào sợi dây cuộn lại. Tịnh không có bóng dáng đứa trẻ con nào. Nơi có ánh đèn trong những ô cửa sổ trên gác đã bị cánh cửa chớp đóng lại, chỉ lọt ra những kẽ hở đầy khiếp đảm.

Anh đi tiếp. Lúc này, anh không còn ở trong xe một mình nữa, sự bất an ngồi trên chiếc ghế ngay cạnh anh. Anh nghĩ không khí có vẻ ẩm ướt và lạnh lẽo so với thời điểm này trong năm.

Một hồi lâu sau, anh trông thấy những ánh đèn xa xa ở bên trái, sáng leo lét trước khi đêm sâu ập xuống. Chắc hẳn là Thackery, địa điểm tiếp theo anh định tới. Anh tự hỏi chuyện gì xảy ra với con đường, vì sao chúng trở nên rộng như thế. Rồi anh thấy chúng chuyển động bất thường, vỡ lẽ ra đó không phải ánh đèn ở những ngôi nhà. Chúng là ánh sáng từ những ngọn đuốc trên tay những người đàn ông đang len lỏi giữa những thân cây, tìm kiếm thứ gì đó, săn đuổi thứ gì đó trong rừng.

Tìm cái gì? Săn thứ gì? Trong khu rừng tối đen? Những ngọn đuốc như ánh sáng bùng cháy của sự nguy hiểm. Khi anh phóng hết tốc độ đến Thackery trong màn đêm buông xuống, chúng ở cả hai bên đường. Chúng chiếu sáng rực con đường chính, từ hai đường nhánh đổ về.

Thackery đang ở tình trạng hỗn loạn khắp mọi nơi xung quanh anh. Cái lều biểu diễn nằm chính giữa, cuối cùng anh đã bắt kịp nó. Nhưng trông nó như vừa bị một cơn bão quét qua. Hàng loạt gian lều nhỏ đổ sụp. Những chỗ ngồi không còn. Những chiếc ô che nắng lớn sọc xanh bạc hà rách tả tơi, những mảnh bạt lủng lẳng bám vào nan ô. Một chiếc xe đẩy bán đồ ăn bị long một bánh, lảo đảo sụm xuống. Những túi bắp rang căng đầy vương vãi dưới đất, bị hất ra xung quanh bởi những bước chân tán loạn. Những quả bóng bay nay xẹp lép, nằm lay lắt. Một quả vẫn còn nguyên hình dạng, mắc vào đầu hồi ngôi nhà gần đó, lắc lư ở đầu dây buộc. Dưới đất còn có một chiếc mũ rơm đàn ông, bị giẫm đạp thành mớ lúa mì xơ xác.

Anh xuống xe và đi một vòng quanh bãi chiến trường. Nó vắng vẻ đến kỳ lạ, như thể tất cả mọi người đã trốn vào trong nhà. Mãi anh mới bắt gặp một người đang tha thẩn giống như mình, liền bước tới kéo tay áo người đó.

“Có chuyện gì xảy ra ở đây vậy?”

Người đàn ông cứ mải mê nhìn xuống đất. Gã làm như đây là câu hỏi hết sức vô lí. “Anh ở đâu ra?” là toàn bộ câu trả lời của gã, bằng một giọng mỉa mai.

“Không phải ở đây. Nếu không tôi đã chẳng hỏi.”

Người đàn ông vẫn chăm chú vào mặt đất. “Tại hai chúng nó mà mọi sự mới lanh tanh bành, ngay giữa đám đông.”

“Tại cái gì?”

Cách nói chuyện của người đàn ông hơi lạc đề. “Tôi vừa đi sửa xong chứ. Những mười bảy viên đá quý. Tưởng tượng coi, bị giựt đứt khỏi cổ tay tôi. Cả ống tay áo cũng đi theo, rời khỏi áo khoác.” Gã nhặt lên một thứ. “Ống tay áo đây rồi, nhưng không có đồng hồ.”

Molloy muốn một từ chính xác. Anh muốn nghe nó được nói to lên lần đầu tiên. Như một thứ đã treo mập mờ trên đầu anh suốt mấy tiếng đồng hồ vừa qua. Anh gằn từng chữ, “Thứ gì gây tanh bành?”

“Sư tử”, người đàn ông đáp. “Chứ anh cho rằng cái gì gây ra sự hoảng sợ nhường kia?”

Molloy buông tay áo gã, thực ra là vẩy nó khỏi người như một thứ có thể tháo lắp. “Sư tử”, anh nói với một vẻ dữ dội kìm nén. “Đó là nhiệm vụ của tôi.”

Người đàn ông tiếp tục dùng diêm soi mặt đất.

“Có ai bị thương không?”

“Sây sát và bầm tím vô số...”

“Bởi chúng ư?”

“Chỉ có người coi sóc chúng thôi. Đó là người duy nhất đi về phía chúng. Còn đâu ai cũng chạy bán sống bán chết.”

“Ai biết được sự việc xảy ra như thế nào?”

Người đàn ông nhún vai một cách điệu bộ. “Ai mà biết được”, gã tán đồng.

“Vậy thì cái người trông giữ hay gì gì đó ấy ở đâu?”

“Đang nằm trong nhà mục sư. Họ đưa anh ta đến đấy ngay sau khi xảy ra chuyện. Chúng tôi không có bệnh viện tử tế ở đây. Tối nay người ta sẽ đến đưa anh ta đi...

“Chỉ cho tôi nhà mục sư ở đâu.”

“Kiếm người khác mà hỏi”, người đàn ông đáp xẵng. “Tôi còn phải tìm đồng hồ.”

“Ờ, tìm cho kĩ vào”, Molloy nói cộc lốc. Anh bỏ lại gã ngồi chồm hổm trên mặt đất.

Ấn tượng của Molloy về người gác chuồng là anh ta được băng bó hơn mức thương tích thực sự, và cũng ủ rũ hơn nhiều. Họ đặt anh ta lên chiếc giường nhỏ trong phòng ngoài nhà mục sư, với những phụ nữ cả ba thế hệ xúm xít xung quanh, cãi nhau chí chóe về cách sơ cứu thế nào mới đúng.

“Vấn đề trong cách băng bó của mẹ là mẹ không bao giờ biết khi nào thì dừng, vết cắt ở trên vai mà mẹ lại kéo xơ vải xuống tận đầu ngón tay người ta. Mẹ phải kết thúc chúng ở đâu đó, mẹ không thể cứ chờ đến khi hết cả cuộn được.”

Molloy giở hết khả năng xoay xở để đưa đám người đang cãi vã cùng cuộc tranh luận của họ ra ngoài hành lang, nếu không được lâu dài thì là tạm thời, và còn lại một mình với nhân chứng trong tương lai của anh. Khung cảnh ắt sẽ tàn phá tinh thần một nhà trang trí nội thất, nếu không phải là nhà huấn luyện thú, trước cả khi câu hỏi đầu tiên đặt ra hay được trả lời. Một chiếc đèn dầu hình đồng hồ cát tỏa ánh sáng trắng sữa khắp phòng. Hoa violet hoặc có lẽ là hoa lưu ly, được sơn kín bóng đèn trắng đục, in lốm đốm lên mặt hai người, người hỏi cũng như người được hỏi, như thể họ đang mắc bệnh đậu mùa giai đoạn cuối. Người ta cũng làm cho các bức tường bò lúc nhúc những con sâu bướm màu tía trong những mẫu vẽ chạy dài.

Người coi thú lo lắng thấy rõ, trở mình hết bên này sang bên kia trong tầm hoạt động của hai cánh tay bị bó như khúc giò cho phép, nhưng chắc chắn không phải do kinh hãi căn phòng mà anh ta thấy mình bị nhốt vào.

“Họ đã bắn Emma”, anh ta rên rỉ, cằm nhăn lại như sắp khóc đến nơi. “Họ đã bắn nó. Họ đâu cần làm thế. Họ có thể đưa nó về bằng cách khác.”

“Anh muốn họ làm thế nào, đưa ra một bát sữa à? Chúng là những kẻ giết người đấy.”

“Họ không cần phải bắn nó”, người đàn ông khăng khăng. “Nó sẽ không làm hại ai…”

“Không ư?” Molloy khô khan hỏi. “Vậy anh bị cào do đâu? Ngã vào một cái cào à?”

“Nó hoảng sợ. Mọi người la hét rồi chạy tán loạn. Nó còn sợ hơn họ nữa. Chỉ có vậy.”

“Bất cứ con thú nào tấn công một người đều do sợ hãi”, Molloy nói. “Điều đó không làm chúng bớt nguy hiểm đi chút nào. Nhưng tôi không đến để nói với anh điều đó. Chuyện đã xảy ra thế nào?”

“Tối không biết, thưa anh, tôi không biết”, người coi thú đáp, gạt mấy bông hoa lưu ly khỏi mắt bằng bàn tay băng kín.

“Anh phải biết. Anh phụ trách chúng kia mà. Chúng ngủ suốt tiết mục cuối của anh, thậm chí không nhấc đầu khỏi mặt đất. Tôi đã nói chuyện với một người chứng kiến. Tại sao chúng đột ngột nổi điên lên ở đây? Chuyện gì đã xảy ra ở đây mà không xảy ra ở đó? Vào lúc nào?”

“Tôi không biết. Buổi diễn chiều sắp kết thúc. Tôi không phải lúc nào cũng túc trực cạnh chuồng, tôi đi ra nói chuyện với một người khác một vài phút, cách chuồng chưa đầy hai mươi thước. Tôi nghe thấy tiếng nổ, như tiếng pháo, nhưng không để tâm. Bọn trẻ con vẫn nghịch pháo suốt. Chúng tôi còn có một lều bắn súng, vài phút lại có tiếng nổ. Rồi tôi nghe thấy một người phụ nữ hét lên, lúc tôi nhìn sang thì cả hai con đã sổng ra. Chúng ra qua cửa bên, cánh cửa tôi sử dụng, và nối đuôi nhau leo xuống thang. Nó chỉ cao ba, bốn bậc. Mỗi con chạy một hướng. Tôi cố đuổi theo Emma, nó tát tôi hai lần và xô tôi ngã rồi phóng đi nhanh như chớp?”

“Lần cuối anh ở trong chuồng là khi nào?”

“Tôi mang nước cho chúng khi vừa hạ trại. Tôi chưa bao giờ cho chúng ăn trước buổi biểu diễn. Làm thế sẽ khiến chúng buồn ngủ và khán giả thấy mình bị lừa. Tôi cho chúng ăn sau.”

“Rồi anh khóa lại cánh cửa này chứ?”

“Tôi ra vào cái chuồng này bảy năm rồi, thưa anh. Chưa bao giờ tôi để nó mở. Chìa khóa của tôi đằng kia, treo ở thắt lưng, anh thấy chưa, trên sofa đó.”

“Cơ chế hoạt động của nó ra sao?”

“Xích và khóa móc quấn xung quanh. Chưa từng sử dụng thứ gì khác trong suốt những năm tôi đi với chúng. Chưa bao giờ cần đến.”

“Cho đến bây giờ”, Molloy chỉnh lại. “Anh có thấy ai đến gần chuồng hay lảng vảng xung quanh trước khi sự việc xảy ra không?”

“Đầy. Phải thế thì chúng tôi mới có việc để làm, mới kiếm được tiền chứ.”

“Ý tôi không phải là đám khán giả chỉ giương mắt nhìn. Tôi muốn nói đến một cá nhân nào đó nán lại quá lâu.”

“Có một người cứ quấy nhiễu chúng”, người coi thú thừa nhận. “Nhưng không phải là chuyện lớn. Chúng tôi gặp chuyện này thường xuyên mỗi lần hạ trại, một vài kẻ xuẩn ngốc cứ thích khiêu khích chúng, chọc gậy qua...”

“Hắn ta làm thế à?”

“Không, mới đầu tôi thấy hắn đứng đó nhìn chằm chằm. Lúc đó tôi không để ý lắm, chỉ nghĩ hắn chỉ xem vì thích thú thôi. Sau đó, tôi nhận ra chúng trở nên bồn chồn vì điều gì đó. Tôi lại gần và phát hiện hắn đang trêu chọc chúng bằng một mảnh váy, một miếng giẻ lem luốc xé ra từ váy phụ nữ. Hắn đặt nó lên mép sàn của chuồng, giữa những chấn song. Rồi khi chúng cào hay hạ mõm xuống miếng giẻ, hắn liền giật lại. Làm thế khác gì vẫy tấm vải đỏ trước một con bò tót đâu cơ chứ, đối với bất kì con thú nào đi nữa.”

“Anh đã làm gì?”

“Không có gì nhiều. Như tôi nói đấy, chúng tôi thường xuyên gặp phải những kẻ như vậy. Tôi đẩy hắn ra khiến hắn lảo đảo và bảo, ‘Đi chỗ khác chơi, ông bạn.’ Hắn liền bỏ đi.”

“Trông người đó thế nào?”

“Chỉ là một người làng mặt tròn. Tôi không thể cho anh biết nhiều hơn, tôi gần như không nhìn mặt hắn.”

“Sau chuyện đó anh có xem lại khóa không?”

“Không, sao tôi phải làm thế? Hắn đâu có đi vòng quanh chuồng, hắn chỉ đứng đằng trước.”

Molloy nhếch mép. “Anh là một người canh gác khá cẩn thận đấy nhỉ?”

“Nhưng ai lại muốn lượn lờ quanh cái khóa chuồng sư tử”, người đàn ông hỏi lại với vẻ than vãn. “Để cố tình thả chúng ra chứ?”

“Vấn đề anh không trả lời được không có nghĩa là không thể xảy ra?” Molloy đã ra đến cửa. “Chắc đó là tất cả những gì anh biết.”

Người đàn ông quay về với bài ca ai oán ban đầu, khuôn mặt não nề như một người vừa bị mất người thân ngoảnh đi.

“Họ đã bắn Emma”, giọng nói vọng theo Molloy ra đến tận hành lang. “Họ đâu cần làm thế. Họ có thể đưa nó về bằng cách khác...”

“... đã vào chuồng xem xét, và đây là những gì tôi phát hiện được, thưa sếp. Đầu sợi xích chỗ móc vào khóa đã bị giũa đủ mỏng để cắt đứt. Sau đó hai đầu ngạnh của mắt xích mở bị bẻ ra theo hai hướng ngược nhau, hiển nhiên chỉ có kìm mới làm được, rộng một khoảng đủ để nó rơi khỏi móc khóa. Đằng nào những mắt xích cũng không quá dày hoặc chắc chắn. Sợi xích đã cũ đến xỉn màu, nhưng chỗ mắt xích bị giũa thì sáng bóng. Tôi đã thu thập được một gói giấy đựng mạt giũa.”

“Nói tiếp đi.”

“Bên trong cánh cửa ngách của chuồng, có những vết cào còn mới; nó là một cánh cửa gỗ, hoặc cửa sập tùy cách gọi. Như thể một trong hai con thú đã chồm lên tấn công thứ làm nó sợ, y như một con mèo khi nó muốn ra ngoài. Sếp đã nhìn thấy chúng rồi đấy.”

“Tiếp tục đi.”

“Có thứ gì đó làm nó sợ? Khi xem xét sàn chuồng, tôi tìm thấy một ít mảnh vụn cháy sém của một loại giấy màu đỏ. Tôi cũng đã thu thập lại cho sếp.”

“Theo cậu, chúng là cái gì?”

“Ý tôi cũng như đa số người khác, nó là vết tích còn lại của một quả pháo được châm lửa rồi ném vào chuồng khi không ai để ý.”

(Tiếng huýt sáo từ McManus bên kia đâu dây.)

“Chúng được bán buổi chiều, ở một quầy hàng ăn theo buổi biểu diễn. Nhưng không phải dạng pháo lớn, chủ yếu là loại dành cho trẻ em. Tôi đã kiểm tra, có hai quả pháo được bán. Một quả cho một đứa trẻ khoảng bảy, tám tuổi. Quả thứ hai bán cho một người lớn, người này nói mình mua cho con, nhưng không có đứa bé nào đi cùng hắn.”

“Cậu đã tìm hiểu người này chưa?”

“Chỉ có rất ít thông tin, từ hai nguồn là người bán hàng và người coi thú. Mặc dù cả hai bản miêu tả đều sơ sài, nhưng không có sự mâu thuẫn. Thế nên họ cùng nói về một người.”

“Vậy thì sổng chuồng thoát không phải là tai nạn.”

(nhấn mạnh) “Vụ sổng chuồng không phải tai nạn, nằm ngoài mọi sơ suất có thể có.”

“Và một con đã bị bắn.”

“Một con bị bắn.”

“Một con vẫn tự do bên ngoài.”

“Con lớn hơn, vẫn tự do bên ngoài.”

(dừng lại đăm chiêu) “Tôi không thích cách tiến triển này của sự việc. Giờ chúng ta có một con sư tử thực sự cũng như có một con sư tử ẩn dụ, cả hai con đều đang ganh đua cùng lúc. Cậu hãy ở nguyên chỗ đó, Molloy, ở lại với nó và thông tin cho tôi. Tôi sẽ lập tức liên lạc với Shawn, cho cậu ta biết có thể cậu ta sẽ gặp phải một con sư tử thật bất cứ lúc nào, không chỉ là một con sư tử hình tượng nữa.”

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.