Nó bắt đầu một cách rất nhỏ nhặt. Một giọt. Phải, đúng là một giọt. Nhưng không phải nước. Một giọt súp nóng bỏng trên một chiếc váy áo trắng tinh lần đầu tiên được mặc. Không thể có sự bắt đầu nào vụn vặt hơn.
Một giọt súp bắn ra. Một ánh nhìn khiển trách liếc sang, giữa hai đoạn đối thoại đang diễn ra vào thời điểm đó. Những biểu hiện lo lắng trên một gương mặt thoáng thấy qua vai. Gương mặt khuất đi. Giọt súp bay hơi. Cuộc đối thoại tiếp tục. Nhưng có cái gì đó đã bắt đầu.
Bắt đầu của cái chết. Bắt đầu của bóng tối, trong ánh lửa vàng nhạt của những ngọn nến trên bàn ăn tối. Cái chấm nhỏ ban đầu không lớn hơn một giọt súp bị bắn ra ấy. Từ từ to lên, qua từng ngày, từng tuần, từng tháng, cho đến khi nó che phủ tất cả. Cho đến khi chỉ còn lại bóng tối. Bóng tối, sự sợ hãi và đau đớn, cái chết và sự diệt vong.
Như tôi đã nói, tôi là Jean Reid, còn Harlan Reid là bố tôi. Chúa đã truyền cho chúng ta ý niệm phải yêu thương bố mình, Chúa cũng truyền ý niệm ấy vào con gái nhiều hơn con trai. Nhưng Chúa lại quên chỉ cho chúng ta cách xóa đi nỗi đau mà đôi khi tình yêu đem lại. Trên hết, Chúa cho phép chúng ta nhìn lại phía sau, nhưng lại cấm chúng ta nhìn về phía trước. Nếu chúng ta làm thế, ấy sẽ là cả một sự mạo hiểm. Không có loại thuốc giảm đau nào đi trước được nỗi đau, chỉ có một loại có thể theo sau, tên là thời gian.
Tôi mồ côi mẹ từ khi lên hai, thế nên tôi chưa bao giờ thực sự thân thuộc với bà. Lúc nào cũng chỉ có bố, hai bố con tôi. Nhiều lúc, tôi cho rằng đó là tình yêu mạnh mẽ nhất, nguyên thủy nhất, được gia thêm những yếu tố của tình yêu lãng mạn nhưng bị cấm đoán. Đó là cuộc sống của chúng tôi, có thể như thế là không tốt, nhưng chúng tôi không nên bị trừng phạt vì lẽ đó.
Lần đầu tiên tôi phát hiện ra sự khác biệt của mình, của chúng tôi, là năm tôi lên tám hay chín tuổi. Cho đến khi đó, tôi vẫn chưa hề biết, bất kì đứa trẻ nào cũng không biết những chuyện như vậy nếu chúng chỉ có một mình. Có thể đó là một điều tồi tệ đối với tôi. Bố tôi cam đoan là không phải vậy. Tựa như... khi bị ngã trầy đầu gối hoặc vấp xước chân trên vỉa hè, anh chạy về mách bố, ông sẽ đặt anh lên đùi. Và với sự thông thái bao la, ông sẽ chấm thứ gì đó lên vết thương, khiến nó không bị mưng mủ. Ông cũng làm như vậy với điều tôi phát hiện ra. Sơ cứu, khử trùng, đảm bảo nó không để lại sẹo hay ảnh hưởng nào.
Một đứa con gái đứng trước mặt tôi trong sân trường, nghiêng đầu, trợn mắt nhìn tôi rồi hỏi, “Có phải nhà mày cực kỳ giàu không?”
Tôi hơi lùi lại, lòng đầy đề phòng. “Không phải”, tôi nói, không được tự tin cho lắm. Cứ như tôi bị cáo buộc đã dầm mình trong một thứ nước sốt ngấy mỡ vậy.
“Đúng thế”, nó quả quyết. “Nhà mày giàu. Người ta bảo thế. Nhà mày giàu.”
Nhân lúc con bé không để ý, tôi liếc trộm xuống váy mình. Nó trông sạch sẽ và phẳng phiu. Tôi tỏ vẻ không sao, nhưng thực ra trong lòng rất phiền muộn.
Tối đó về nhà, tôi hỏi bố. “Giàu nghĩa là sao hả bố?”
Ông trả lời chậm rãi, đượm chút buồn bã và sáng suốt. “Con hãy nghe thật kĩ. Và ngày mai đừng nhớ đến chuyện này. Nhưng một ngày nào đó, con hãy nhớ khi con mười tám hoặc hai mươi tuổi. Khi ấy, nó cần thiết với con hơn. Nó có nghĩa là con sẽ có một giai đoạn khó khăn. Con sẽ luôn phần nào thấy cô đơn. Sẽ không có ai nắm lấy bàn tay con đưa ra. Và nếu có, con sẽ không thể biết có phải họ làm thế vì sự cô đơn của con không. Nó nghĩa là con sẽ phải cẩn thận trước những cạm bẫy.”
“Con phải làm gì ạ?” Tôi nín thở hỏi.
“Con chỉ có thể làm một điều. Hành xử như mình không biết. Hãy hoạt động, sống và suy nghĩ như thể con không giàu. Như vậy, có lẽ thế giới mới để cho con quên đi.”
Sang ngày hôm sau, tôi lập tức quên. Hoặc chắc chắn hơn, ngày hôm sau nữa. Và nhiêu năm sau, nó trở lại, khi tôi cần đến nó hơn, như lời bố đã nói. Giống như một món đồ bạn ném xuống nước, thoạt tiên nó nằm dưới đáy trong một thời gian dài, rồi cuối cùng lại nổi lên. Bố đã trao nó cho tôi như một thứ tín ngưỡng, tôi đã sống với nó kể từ đó trở đi.
Tôi không nhớ rõ về khoảng thời gian ngay trước ngày giọt súp bé nhỏ ấy rơi xuống người tôi và bóng tối bắt đầu vây bủa. Tôi có những nhiệm vụ nho nhỏ, những công việc vụn vặt và những sở thích riêng. Cuộc sống yên ấm và an toàn. Tôi có ít bạn bè đồng trang lứa vì không cùng sở thích với họ. Tôi thuộc mẫu người kì quặc, khép kín. Tôi không thích tiệc tùng, thờ ơ với quần áo giày dép. Tôi ham mê đọc sách. Tôi thích đi dạo một mình, để đầu trần dưới mưa, tay đút sâu trong túi, ngửa mặt lên trời cảm nhận những hạt mưa rơi. Nhưng ít nhất, thế giới của tôi chưa từng xuất hiện sự sợ hãi.
Vào một tối nọ bên bàn ăn - hẳn là một hoặc hai ngày trước khi giọt súp rớt xuống - bố tôi bất chợt thông báo, “Jean này, xem ra thứ Sáu bố phải đi San Francisco một chuyến.”
“Lâu không ạ?” Tôi hỏi. Trước nay ông vẫn thường xuyên đi công tác.
“Hai hoặc ba ngày”, ông trả lời. “Bố đi rồi về ngay.” Rồi ông nói gì đó về việc xuất vải lụa từ Nhật Bản gặp vài khó khăn.
Tôi vừa giơ một ngón tay cảnh báo với ông vừa tiếp tục xúc món tráng miệng. “Tốt hơn là thứ Hai bố hãy đi. Bố biết thứ Sáu là ngày gì không? Ngày mười ba đó.”
Ông cười xòa thoải mái, đó là tất cả những gì tôi trông đợi khi nêu ra lời đề nghị ban đầu. Rồi chúng tôi chuyển sang chuyện khác, người hầu gái rót cà phê cho chúng tôi bên tủ chén.
Buổi tối hai ngày sau, tức là vào thứ Năm, tôi nhớ chúng tôi có khách. Nến thắp sáng rực, chúng tôi ăn tối trang trọng hơn bình thường. Nghĩa là không được thoải mái lắm - theo ý bố con tôi. Chúng tôi đã thừa nhận điều đó với nhau từ trước kia rồi, nhưng người ta buộc phải chịu đựng nó thường xuyên. Tôi diện chiếc váy trắng mới, tôi không thích nó chút nào. Trước hết là do nó mới. Thứ hai, nó màu trắng. Thứ ba, ờ, việc nó là một cái váy đã quá đủ. Tôi ghét cảm giác khi mặc váy, cổ thì trễ và gấu thì dài, rồi vải vóc lùng nhùng xung quanh khi bước đi. Tôi thích sự tiện lợi của áo chui đầu và quần vải tuýt. Nhưng đó cũng là điều người ta phải thường xuyên chịu đựng. Tôi hạn chế nó ở mức thấp nhất.
Tối nay, tôi ngồi cứng ngắc trong bộ lễ phục và nói chuyện với những người mình không hề quan tâm, về những chủ đề mình không hứng thú. Lúc ấy, câu chuyện xung quanh một ca sĩ opera sắp có buổi trình diễn riêng thì phải.
“Thế thì hai bố con nhất định phải đến”, bà quả phụ giắt đầy kim cương ngồi đối diện tôi thốt lên. “Tối mai chúng ta chờ cháu đây.”
“Ồ, chờ chút, bác nói tối mai ạ?” Tôi sực nhớ ra một chuyện trong cảm giác nhẹ nhõm khôn tả. “Ngày mai nhà cháu không đi được rồi. Bố cháu bảo thứ Sáu ông phải bay đến Frisco*.”
Tên gọi tắt của San Francisco.
Tôi quay sang nhìn bố qua bàn, chờ ông xác nhận. Sự đồng thuận còn quan trọng hơn cả lời nói.
Đúng lúc ấy, một đĩa súp được đặt xuống trước mặt tôi. Bàn tay bê nó giật nhẹ một cái, một giọt súp bắn ra và rơi xuống váy tôi. Tôi cảm nhận được độ nóng rát của nó trong tích tắc qua lớp vải mỏng.
Rồi ánh mắt khiển trách của tôi, rồi vẻ lo lắng tương ứng trên gương mặt người hầu gái đang cúi xuống gần tôi để phục vụ món, có lẽ còn lo lắng thái quá. Thôi bỏ qua cái sự cố nhỏ này đi, tôi đang định làm thế.
Cuộc nói chuyện đã tiếp tục mà không có tôi. Tôi vội vã bắt cho kịp. “Không, đó không phải ngày lành để xuất hành bằng máy bay”, tôi đồng tình. “Nhưng vẫn còn dịp khác để xem hòa nhạc đúng không ạ?”
“Xin lỗi cô”, một giọng nói thì thầm sát bên tai tôi.
Lần này tôi không quay sang. “Không sao đâu”, tôi nói ngắn gọn, rồi tiếp tục. “Bố cháu cứ giả vờ chán ghét những chuyến đi, nhưng cháu biết trong bụng ông rất thích.”
“Ồ phải”, ông nói với vẻ rầu rĩ châm biếm. “Tôi chẳng thích gì hơn việc cố gắng cạo râu khi máy bay băng qua một ‘ổ gà giữa không trung’*. Thú vị lắm, đang để dao cạo bên trên thì đột nhiên mặt mình tuột xuống bên dưới.”
Ở đây ám chỉ khoảng không khí có khí lưu khác biệt với vùng xung quanh.
Và sự việc cứ thế chìm xuống. Vết ố mà giọt súp tạo ra đã khô. Tôi đồ rằng một giờ sau, tôi sẽ quên hẳn nó. Nhưng nó đã được đem trở lại trước mặt tôi, có thể nói là in sâu vào ý thức tôi.
Ngay khi những vị khách ra về, tôi lập tức đứng dậy, tháo bỏ bộ áo giáp. Tôi nằm dài trong chiếc áo choàng len, chúi mũi vào một cuốn sách. Đúng lúc này, tiếng gõ cửa vang lên, cô hầu ló đầu vào.
Phải mất một lúc, tôi mới nhớ ra lần cuối cùng mình trông thấy cô ta là ở đâu. Lúc này, cô mặc áo khoác đen và đội chiếc mũ đi đường sụp vành.
“Có chuyện gì vậy?”
“Tôi có thể nói chuyện với cô một lát không?”
“Được thôi. Nhưng sao chị vẫn còn ở đây? Tôi tưởng chị đã về nhà từ lâu rồi cơ. Gần mười hai giờ rồi.”
“Tôi biết, thưa cô. Tôi đã cố ý chờ để nói với cô rằng tôi rất xin lỗi.” Cô ta đi đến chỗ chiếc ghế đang vắt chiếc váy. “Mong cô thứ lỗi. Tôi không thể tha thứ cho bản thân mình.”
Tôi có thể bỏ qua việc bị đổ nước súp vào người, kể cả với số lượng lớn. Nhưng tôi rất ghét việc người ta phủi hoặc chải sạch cho tôi sau đó. Dường như đó là điều cô ta đang cố làm, dù chỉ bằng lời nói.
“Chuyện có gì to tát đâu, Eileen”, tôi nói. “Đừng mất ăn mất ngủ vì nó. Đằng nào trông tôi cũng như một bộ Charlotte Russe bung ra khỏi hộp đựng trong chiếc váy đó. Để nó bị ướt một tí biết đâu lại hay.”
Cô ta liền đứng xa nó ra, nhưng vẫn chưa chịu đi. Tay tôi sắp mỏi rã rời vì ôm cuốn sách của Hemingway.
“Không phải thế đâu, cô Jean. Vấn đề nằm ở nguyên nhân của lần sơ sẩy này. Tay tôi bình thường rất vững.”
“Vậy thì nó đã run bất thần, đó là nguyên nhân. Chúng ta kết thúc chuyện này nhé.”
Cô ta không chịu kết thúc. Cứ phải kéo dài vẻ nhu mì ngoan ngoãn, quả thực không gì kinh khủng hơn. Hay nói đúng hơn là sự vờ nhu mì của tôi.
“Là do chuyến bay.”
“Chuyến bay nào?”
“Chuyến bay của ngài Reid, thưa cô. Tôi nghe ngài ấy nói sẽ đi công tác vào ngày mai. Tôi đứng ngay sau ghế của cô mà.”
Tôi nhất thời không hiểu những gì cô ta nói. Tôi gập cuốn sách lại, bối rối nhìn cô ta. “Ồ, là vì ngày mười ba sao? Trời đất, chị phải trưởng thành lên đi, Eileen.”
Cô ta lắc đầu. “Không, cái ngày đó chẳng thể làm hại ai. Nó chỉ là một con số.”
“Tôi mừng vì chị đã nói thế”, tôi hơi mỉa mai.
“Mà là lịch bay kia, cái đó...” Cô ta thấy tôi đang nhìn. “Tôi biết không phải việc của tôi...”
“Không, chị nói tiếp đi”, tôi điềm tĩnh động viên. “Tôi muốn nghe.”
Cô ta lén lút vặn vẹo hai bàn tay vào nhau, cứ như chắt ra từng chữ một từ chúng. “Ngài ấy đi chuyến bay đó sẽ không tốt. Nếu... ngài ấy đi muộn hơn, ngài ấy sẽ về muộn hơn.”
“Ồ, tôi hiểu”, tôi thong thả nói. “Chị biết trước tương lai.”
“Không tốt đâu”, cô ta lặp lại một cách bảo thủ.
“Đừng để ngài ấy đi, cô Jean. Không lành. Nếu ngài ấy đi ngày mai...”
“Thì sao?”
“Thì ngài ấy sẽ lên chuyến bay đêm trở về vào tối thứ Hai.”
“Lịch trình là như thế. Có vấn đề gì?”
Cô ta bật ra một tiếng tuyệt vọng, như thể sợ nói ra, nhưng đồng thời còn sợ hơn nếu không nói. “Chính chuyến bay đó. Chuyến bay về phía đông. Sẽ có chuyện xảy ra với nó.”
“Ồ, chuyện gì?” Tôi gặng hỏi. “Những điều này đã được tiên đoán trước sao?”
“Không phải, thưa cô”, cô ta đáp với vẻ bất bình. “Cô biết là không phải mà.”
“Nghe này, Eileen. Tôi không để tâm nếu chị có uống một, hai ly dưới nhà. Nhưng tôi phản đối việc chị mượn rượu lên đây nói năng linh tinh.”
“Tôi không uống rượu, thưa cô”, cô ta lẩm bẩm, giọng nhỏ đến gần như không thể nghe thấy.
Chỉ cần nhìn là tôi biết là cô ta không uống. Cô ta có gương mặt xanh xao, hốc hác, và thân hình gầy gò khẳng khiu. Cô ta mà uống rượu ắt sẽ gục ngay tại chỗ.
“Chị nghe nói đến Cassandra* bao giờ chưa, Eileen?” Tôi dịu giọng. Tôi không thể tưởng tượng nổi cảnh cô ta được mọi người yêu quý. “Chị không muốn bị như thế chứ? Cứ đi giội gáo nước lạnh vào người khác, họ sẽ bắt đầu tránh né chị đấy.”
Cassandra: Một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp. Tuy nàng có khả năng tiên đoán trước tai họa nhưng mọi người đều không tin lời nàng nói.
Cô ta có vẻ ăn năn thực sự. “Xin lỗi cô, tôi không định làm phiền...” Trên đường ra cửa, cô ta thêm vào. “Không phải là tôi, thưa cô. Mà là một người bạn của tôi.”
“Chắc bạn chị hành nghề thầy bói. Hãy cảm ơn cô ấy giúp tôi. Nhắn với cô ấy rằng tôi không cần bất kỳ sự trợ giúp nào trong những chuyện tương tự.”
Mắt cô ta trợn tròn như thể tôi vừa nói một điều báng bổ. “Không phải thế đâu, thưa cô. Đáng ra tôi còn không được tiết lộ cho cô…”
“Nhưng chị đã tiết lộ rồi đấy.” Lúc này, tôi bắt đầu thấy mệt. “Chúc ngủ ngon, Eileen.”
Cô ta nghẹn họng trước lời xua đuổi của tôi, cái cổ họng khẳng khiu gồ lên một cục. “Chúc cô ngủ ngon.” Rồi đóng cửa lại.
Tôi quay về với Hemingway, vừa đọc vừa mỉm cười ở những đoạn chẳng hề buồn cười.
* * *
Hôm sau, tôi lái xe đưa bố ra sân bay. Trên đường, tôi chụp một bức ảnh của ông, bằng tâm trí. Trong lúc chúng tôi nói chuyện dọc đường đi, tôi liên tục quay sang và liếc nhìn ông, ồ, chẳng vì lí do gì, không chủ ý đánh dấu lại hay ghi nhớ hình ảnh ông trong giây phút đó. Chỉ đơn giản là ta phải quay sang nhìn một người ngồi cạnh mình trên xe trong lúc đang trò chuyện. Và như thế, bức ảnh ra đời.
Tôi vẫn giữ nó trong đầu, bức ảnh chụp nhanh ấy, nguyên vẹn và rõ ràng như mới. Nó được lưu giữ, in ra như một bức ảnh thực sự. Về một điều gì đó giờ đây đã không còn.
Ông ngồi bên cạnh tôi, nhìn ông thật rắn rỏi và điển trai. Có lẽ chính mái tóc bạc gần như lấp lánh có tác động đối lập với tất cả những nét còn lại rất trẻ trung ở ông, khiến chúng càng thêm nổi bật, tôi cũng không biết nữa. Nhưng tôi biết ông tạo ra một ấn tượng vô cùng bảnh bao, tráng kiện, sáng sủa, nam tính, tùy cách người ta gọi, hơn hẳn phần lớn những người đàn ông tóc đen ngoài hai lăm tuổi xung quanh. Da dẻ ông luôn hồng hào và săn chắc, tương phản với nó là mái tóc bạc trắng được chải gọn gàng, lúc nào cũng được cắt tỉa hoàn hảo ở phía sau và hai bên thái dương, như mốt của lứa thanh niên. Nhìn ông, thấy tác dụng của mái tóc lên ông, tôi có thể hiểu rõ vì sao lớp trẻ ở thế kỷ XVIII - cả đàn ông và phụ nữ - đều thích rắc phấn lên tóc.
Ông có đường quai hàm tuyệt đẹp, có thể thấy được sự sắc nét của những đốt xương, không chỗ nào chảy xệ hay nọng mỡ. Lúc ông nói chuyện, có thể nhìn thấy sự chuyển động của nó bên dưới lớp da má hồng hào, khiến người ta nghĩ ngay đến sự khỏe khoắn. Người ta nghĩ đến sự khỏe khoắn, có lẽ cả một chút cố chấp nữa, nhưng cái đó không vượt trội, và sự hiểu biết. Nhưng trên hết, trên tất cả, là sự trung thực. Tôi không biết tại sao, tôi không biết trung thực có liên quan gì với đường quai hàm, đáng ra phải là đôi mắt, nhưng bạn sẽ nghĩ đến nó khi nhìn đường quai hàm sắc nét ấy, lúc ở yên hay chuyển động,
Đôi mắt sáng và trong toát lên sức sống hừng hực, đôi mắt của tuổi trẻ chưa bao giờ bị mờ, chưa bao giờ mệt mỏi với những gì chúng đã chứng kiến. Chúng có màu xanh lam thỉnh thoảng ngả sang xám. Chúng tràn đầy sự tử tế và hiền hòa, với những nếp nhăn nhỏ xung quanh. Khi hoạt động, chúng biểu hiện một sự thấu suốt tinh tường. Chí ít là đối với tôi, nhưng tôi đâu có biết đôi mắt ấy nhìn người khác thì như thế nào, tôi chỉ thấy khi chúng nhìn tôi mà thôi, nên về điểm này tôi không dám khẳng định.
Cổ chiếc áo khoác lông lạc đà của ông được bẻ cao sau gáy. Ông luôn mặc áo khoác kiểu đó, hệt như đám thanh niên. Ông ngồi một cách thoải mái, tựa như khi đi lại. Mọi khớp xương của ông đều linh hoạt, thư giãn, không hoen gỉ theo tuổi tác. Ông đang đặt chiếc cặp táp lên đùi, kiểm tra lại giấy tờ bên trong trong lúc nói chuyện với tôi. Giờ tôi vẫn nhớ rõ nó màu da lợn nhẵn mịn, với lớp lót kẻ ô vuông. Chính tôi đã tặng nó cho ông một hay hai năm trước.
Ông đi một chiếc găng tay, chiếc còn lại đã tháo ra để hút thuốc. Những ngón tay khỏe mạnh và vững chãi, bàn tay lí tưởng của đàn ông, không ngón nào quá thon nhọn. Ông đeo một chiếc nhẫn khắc dấu bằng hợp kim vàng xanh. Trong trí nhớ của tôi, đó là món trang sức duy nhất ông từng có và đeo.
Ông lật giấy tờ trong cặp táp. Rồi ông đóng cặp, ấn ngón tay cái vào chiếc chốt nhỏ bằng crom, khóa lại. Cái chốt hình chữ nhật, sáng bóng như gương. Tôi nhớ nó đã mờ đi khi ngón tay ông rời ra, rồi sáng trở lại, như mặt kính khi ta hà hơi vào nó. Đôi khi, tôi nghĩ đó là tất cả dấu ấn chúng ta tạo ra trong đời. Một dấu tay mờ hơi nước, nhanh chóng tan đi khi ta bỏ tay ra.
Tôi vẫn giữ bức ảnh về ông, một chân dung trọn vẹn bắt được trong khoảnh khắc. Bức ảnh về một người giờ đã đi xa.
Chúng tôi còn vài phút khi đến nơi. Chúng tôi ngồi trong xe, phía trước tòa nhà điều hành, trong ánh nắng nhạt bao trùm. Tôi nhớ mình còn không tắt máy, vì chỉ dừng một lát rồi sẽ đi. Cả hai bố con chưa bao giờ nghĩ đến chuyện tôi nên đi vào với ông. Chẳng để làm gì. Ông đi đi về về suốt, đây chỉ như việc bắt một chiếc taxi vào thành phố mà thôi.
“Tối nay con có đến nhà Ainsley không?” Ông hỏi với vẻ trêu chọc.
“Lạy Chúa, không!” Tôi nhăn mặt. “Thật mừng vì con có lí do chính đáng để từ chối.”
“À mà này”, ông nói, “nếu Ben Harris gọi đến, nhớ bảo ông ấy là bố mời ông ấy đi chơi một tuần từ Chủ nhật. Bố muốn giới thiệu ông ấy với những vị khách lần trước của chúng ta. Bố thích bọn họ.”
Tôi chạm một ngón tay vào trán, ra hiệu tuân lệnh.
“Thôi, bố vào trong đây.” Ông bước ra, đóng cửa xe, rồi hôn tôi qua thành cửa.
“Bố chỉnh lại cà vạt đi”, tôi cằn nhằn. “Có bao giờ bố thắt nút được chính giữa không?”, rồi chỉnh lại giúp ông.
“Có luật quy định như thế à?” Ông hỏi tỉnh khô.
Đột nhiên, tôi mỉm cười sực nhớ, thế nào mà tôi lại nhớ mỗi chuyện đó. “Ồ, con quên nói với bố một chuyện. Có một cô hầu gái lên gác gặp con tối hôm qua, cái cô Eileen McGuire ấy, và khăng khăng bảo con rằng bố không nên về nhà trên chuyến bay hôm thứ Hai tới. Bạn của một người bạn của một người bạn của chị ta đã xem bói lá trà. Giá mà bố có thể trông thấy dáng vẻ quyết tâm ấy của chị ta, đến nỗi làm ướt cả thảm trải sàn cơ mà.”
Ông không thể nhớ ngay ra cô ta. Xét cho cùng, đó là công việc của bà Hutchins, không phải của ông. “McGuire? Là ai?”
“Người mới ạ.”
“Chuyện gì sẽ xảy ra?” Ông cười hỏi.
Tôi bật ngón tay. “Con quên hỏi rồi.”
Ông cười vang. Tôi cười theo ông. Lúc này không còn nhiều thời gian để nói chuyện nữa.
“Gặp lại con vào sáng thứ Ba”, ông vui vẻ nói, rồi xách cặp quay đi.
“Tạm biệt bố.”
Tôi nhả chân côn cho xe chạy mà không đợi để nhìn ông đi vào cửa. Chẳng để làm gì. Ông đi công tác như cơm bữa. Với lại tôi còn có hẹn với thợ làm tóc, tôi không muốn đến muộn.
Tối hôm đó, cô ta dọn bữa tối cho tôi. Tôi ăn một mình.
Cô ta không nói gì, nhưng mặt mũi cô ta hết sức nghiêm nghị. Mỗi lần ánh mắt chúng tôi vô tình giao nhau, cô ta liền cụp mắt xuống. Trước lúc gặp lại cô ta, tôi không hề nghĩ đến chuyện đó, nhưng giờ trông thấy cô ta, tôi lại nghĩ đến.
Tôi có thể cảm thấy cô ta đang khao khát muốn tôi tự khơi ra chủ đề để mở đường cho mình, nhưng tôi nhất định không làm thế. Sao tôi phải khuyến khích cô ta với cái ý tưởng vớ vẩn ấy?
Nhưng cặp mắt ái ngại luôn nhìn xuống của cô ta cuối cùng đã thắng được tôi. Giá như cô ta cứ cụp hẳn, hoặc ngước lên hẳn. Đằng này mỗi lần cô ta nhìn xuống đều cứ như sợ nhìn vào mắt tôi vậy.
“Eileen này, chị vui lòng giảm bớt không khí ngột ngạt ở đây được không. Tôi đang cố dùng bữa tối, chị thấy đấy.”
Cô ta ngoan ngoãn rút ra cửa phòng ăn. Nhưng rồi cô ta không nhịn được nữa.
“Ngài ấy đi rồi ạ?”
Tôi sốt ruột vung tay về phía ghế của bố. “Chị không nhìn thấy ông ấy đúng không? Vậy đương nhiên là ông đi rồi.”
Cô ta đã định đi rồi cơ mà, còn khai quật cái chủ đề này lên làm gì. Cô ta đúng là một kẻ hèn nhát thích đâm người rồi bỏ chạy. Nhưng tôi giữ cô ta lại để kết thúc cho xong chuyện này. “Eileen, chuyện lần trước đã không vui vẻ gì. Tối nay tôi không có tâm trạng một chút nào hết. Chị đem cà phê cho tôi là được rồi, tôi không cần gì khác.”
“Tôi xin lỗi, thưa cô”, cô ta lí nhí, rồi khuất dạng sau cánh cửa.
Tôi lắc đầu, không thể hiểu nổi. Tôi châm một điếu thuốc.
Tối thứ Bảy, tôi cũng ăn một mình. Lại gương mặt phiền muộn đó. Đôi mắt nhìn xuống đó. Sự im lặng nặng nề đó.
Tôi hầm hầm đẩy đĩa thức ăn trước mặt ra, xoay nửa vòng trên ghế.
“Eileen, tôi xin lỗi phải nói ra, nhưng chị đang khiến tôi khó chịu.”
“Tôi có nói gì đâu, thưa cô.”
Quả thực cô ta chẳng nói gì. Trừ câu “Chào buổi tối” bằng một giọng sầu thảm, khi tôi mới bước vào phòng.
“Không phải bằng lời nói, mà bằng cái nhìn chòng chọc của chị.”
“Thỉnh thoảng tôi phải nhìn cô, để biết tôi sẽ đi đâu, để xem tôi nên...”
Muốn đi đến tận cùng chuyện này ắt phải cãi nhau đến khô cả họng. Tôi ấm ức với cảm giác bị đánh bại, trong một cuộc chiến mà tôi còn không biết là mình tham gia. Bạn không thể ra lệnh cho người khác không được nhìn mình. Bạn không thể ra lệnh cho người khác không được nghĩ.
Nhưng cô ta cứ nhắc tôi phải nhớ, nhắc tôi phải nhớ. Cô ta đã gieo một hạt mầm. Chỉ cần nhìn cô ta, ở cạnh cô ta, tôi ắt sẽ nhớ đến nó. Tín ngưỡng, sự cả tin không liên quan gì ở đây. Nó chỉ là ý thức, chính ý thức đó làm tôi khó chịu.
Tôi đứng dậy, rời khỏi phòng mà không chờ cà phê được đem lên.
Tôi gọi bà Hutchins lên phòng khách trên gác gặp riêng. Bà làm quản gia cho nhà chúng tôi đã mười lăm năm. Bà bắt đầu thêm từ “cô” vào trước tên tôi năm tôi mười sáu tuổi, nhưng tôi đã ngăn chặn gần như ngay lập tức. Bà không có vẻ gì của một quản gia chuyên nghiệp, có lẽ chính vì lẽ đó mà bà quán xuyến công việc rất tốt. Bà làm tôi nghĩ đến một bà cô hiền lành, lớn tuổi, có phần héo hắt, cổ đeo một dải băng bằng nhung đen. Bà nói năng khẽ khàng, không bao giờ lớn tiếng, tính cách không có một chút gì bạo ngược hay độc đoán. Tôi hiếm khi trông thấy bóng dáng bà, song ngôi nhà vẫn vận hành chính xác như một chiếc đồng hồ, không mảy may trục trặc. Đó là một nghệ thuật. Tôi không thể nào làm được như vậy.
“Bữa ăn ngon chứ, Jean?” Bà hỏi tôi.
“Grace, mong bác giúp cháu một việc...” Tôi nói một mạch rồi khựng lại, không biết tiếp tục thế nào. Tôi biết nói gì? Bà có thể làm gì cho tôi đây? “Bảo cô hầu đó đừng tỏ ra đáng sợ nữa đi”? Nghe không ổn. Không được.
“Cháu... Cháu... Thôi bỏ đi, cháu đổi ý rồi”, tôi ấp úng, rồi thình lình xoay người đi ra.
Hôm sau là bữa tối Chủ nhật. Sáng hôm đó, tôi chỉ dùng một tách cà phê trong phòng riêng, do một người hầu khác mang đến. Buổi trưa, tôi lái xe ra ngoài như mọi khi, nên bữa tối là thời gian duy nhất tôi đương đầu với cô ta.
Tôi bước vào phòng với tinh thần chuẩn bị sẵn sàng, từ giờ chúng tôi sẽ không dây dưa vụ kia nữa. Lỗi phần lớn tại tôi, tôi cứ đáp trả cô ta từng câu một. Nếu tôi ngừng làm thế, chuyện sẽ tự nó kết thúc. Sự căng thẳng do cả hai người mà nên.
Tôi nói với một sự vui vẻ gần như hăng hái khi cô ta kéo ghế cho tôi, “Chào buổi tối, chị Eileen. Ngày hôm nay của chị thế nào?”
“Rất tuyệt, thưa cô”, cô ta đáp một cách nhiệt tình. “Chuyến đi của cô vui vẻ chứ ạ?”
“Vui lắm. Chị nên nhìn thấy những bông hoa tôi mang về.”
Cô ta đi ra, mang vào một món, rồi lại đi ra.
Sau một lúc, cô ta quay lại. Cô ta bắt đầu nói, với một sự liến thoắng gượng ép, gần như từ ngay ngưỡng cửa phòng để đồ ăn. “Tôi chưa bao giờ thấy một ngày đẹp trời như thế. Nắng chiếu cả ngày?..”
“Chúng ta cùng chung ý kiến về điều đó”, tôi hòa nhã đáp. Tôi định nói thêm, cứ phục vụ tôi thôi, không cần phải lấy lòng tôi, nhưng nghe có vẻ gay gắt quá.
Cô ta đặt một chiếc đĩa trước mặt tôi. Nó rung rinh trên suốt đường đi, dù không quá nặng hay quá nóng.
Tôi chộp lấy chiếc đĩa từ tay cô ta trước khi nó chạm vào mặt bàn, tự mình đặt xuống, để nó hạ cánh nhẹ nhàng và không gây nguy hiểm.
“Tay chị run thế?” Tôi lẳng lặng nói, “Chị không được để như vậy.”
Hình như bà Hutchins đã hiểu được ý tôi và đã nhắc nhở cô ta phải tỏ ra vui vẻ khi phục vụ. Con người này đã quay ngoắt một trăm tám mươi độ. Cô ta gồng mình lên, ríu ra ríu rít để không rơi vào im lặng. Tôi không chắc cái nào tệ hơn nữa.
“Có được một ngày như thế vào thời điểm này trong năm là hiếm lắm. Ở đây đã đẹp thế này thì ngoài bãi biển không biết ra sao, chính là ngày mà bố...”
Cô ta dừng bặt, thân hình chao đảo trong một cơn nấc cụt dữ dội. Như thể vẫn còn chưa đủ, bàn tay cô ta đưa lên ép chặt miệng trước khi kịp dừng lại. Mắt cô ta đảo về ghế của bố tôi rồi nhanh chóng kìm lại. Cô ta lại buông tay xuống, cố gắng xóa đi những hành động vừa rồi, nhưng giờ đã vô ích. Cô ta tự bóp họng để bắt mình im lặng. Rồi cô ta từ từ lùi ra xa tôi, nhích từng bước một. Gương mặt đầy kinh hãi.
Tôi cảm thấy họng mình thắt lại, nhưng là vì giận dữ. Tôi không để nó len vào giọng mình. Tôi nói hết sức điềm tĩnh, nhỏ nhẹ.
“Bố tôi không chết. Chẳng có lí do gì để chị dùng màn kịch câm giật gân đó khi nhắc đến ông.”
Tôi thở dài và đẩy ghế ra khỏi bàn. Đời tôi chưa từng sa thải người làm nào.
Tôi nói, “Chị ra khỏi đây ngay. Tôi không chịu nổi nữa. Làm ơn đi ra. Đến chỗ bà Hutchins nhận tiền lương tháng này và... xin chị đi cho.”
Tôi thấy mắt cô ta rưng rưng, môi run lẩy bẩy. “Tôi không làm gì sai, thưa cô. Cô làm vậy thật bất công.”
Tôi nhìn đi nơi khác.
“Tôi xin lỗi. Chị đã gây ra một chuyện mà tôi... Hình như tôi không kiểm soát được nữa. Tôi không tức giận với chị, nếu điều đó an ủi chị phần nào. Tôi không đổ lỗi cho chị. Chỉ là... chị đi thì sẽ tốt cho cả hai chúng ta.”
Cô ta gục đầu, chắc là để tôi không nhìn thấy gương mặt mếu xệch đã bắt đầu đỏ lên. Rồi vẫn cúi đầu như thế, cô ta quay người. Không phải tại chỗ, mà thành một vòng cua, cô ta vừa xoay người vừa bỏ chạy, như người ta bẻ lái một chiếc xe. Cô ta chạy khỏi phòng bằng những bước ngắn giật cục, như cách chạy của phụ nữ Nhật Bản truyền thống.
Đó là sự ra đi kì cục nhất tôi từng thấy. Nó làm tôi cảm thấy mình không ra gì, độc ác và nhẫn tâm lắm. Tuy nhiên, tôi đã hành động theo suy nghĩ, ta còn có thể làm gì khác nếu định thành thật với bản thân?
Tôi đã đuổi cô ta khỏi tâm trí bằng việc đuổi cô ta khỏi phòng, ra khỏi nhà. Cô ta đi luôn, tôi nghĩ thế là chấm dứt.
Thứ Hai đến, nắng rực rỡ tới trưa, rồi giảm dần cho đến tối. Sự yên ổn, an toàn, tự tin là những thói quen không dễ gì phá vỡ. Cần có thời gian để phá vỡ bất kỳ thói quen nào, dù tốt hay xấu, và sức ảnh hưởng của chúng vẫn còn mạnh mẽ đối với tôi. Những cái gọi là sợ hãi và hoảng hốt không xuất hiện. Xe chạy êm ru, ánh mặt trời sưởi ấm vai áo len cashmere của tôi, cơn gió nhẹ mát rượi trên mặt. Tôi dừng lại đổ xăng, boa cho anh chàng đổ xăng năm mươi xu vì ánh mắt tươi cười thân thiện với tôi. Nó gần như phản chiếu ánh mắt của tôi, nhưng điều đó không quan trọng.
“Xe đẹp đấy!” Anh ta trầm trồ.
“Một cô gái ngoan”, tôi công nhận. “Không bao giờ cãi lời tôi.”
Một cô bé vẫy tay với tôi từ một ngã tư làng tôi đi ngang qua, tôi giơ cả cánh tay lên vẫy lại. Khi còn nhỏ, tôi cũng thích vẫy người đi đường như thế và rất tủi thân vì chẳng ai đáp lại. Tôi không muốn cô bé ấy tủi thân.
Tôi nhìn đồng hồ, gần sáu giờ. “Tốt hơn mình nên quay xe về”, tôi tự nhủ. “Không nên về muộn và làm phiền mọi người trong bếp.”
Lần đầu tiên trong ngày, tôi nghĩ đến ông. Gần sáu giờ, theo giờ chỗ chúng tôi. Gần ba giờ theo múi giờ Thái Bình Dương. Cách nhau ba tiếng đồng hồ. Ông còn sáu tiếng ở San Francisco. Chuyến bay cất cánh lúc chín giờ ở đó.
Rồi tôi nghĩ đến cô ta, hoặc đúng hơn là những gì cô ta đã cố nói. Tôi mỉm cười, rồi nụ cười chợt tắt, cô ta vẫn ở đó, gõ gõ cánh cửa trong tâm trí tôi. Tôi sẽ không mở cho cô ta vào. Nhưng một khi đã ở ngưỡng cửa, cô ta sẽ không chịu đi và để tôi yên.
Lúc này, mặt trời đã xuống thấp. Vai tôi đã không còn cảm giác ấm áp, nhưng là do chiều muộn chứ không phải vì những suy nghĩ của tôi. Tôi kéo áo khoác vào sát người và lún sâu hơn xuống ghế, tránh đi phần nào cơn gió buốt lúc này đang thổi mạnh.
Tôi đi qua một văn phòng Western Union, nó lùi dần trong kính chiếu hậu. Rồi đột ngột tôi tấp xe vào lề đường, cài số lùi, từ từ lăn bánh quay lại chỗ tôi vừa bỏ qua.
Tôi dừng xe, bước xuống và đi vào trong. Lúc ấy, tôi chắc chắn mình không hề suy nghĩ rành mạch. Kiểu như: Mình sẽ đi vào đây, mình sẽ đi vào đây làm những việc này việc này. Tôi cứ đi vào thôi.
Tôi ngồi xuống trước một chiếc bàn, rút một xấp giấy trắng, lấy một trong những chiếc bút chì gắn dây cố định của họ và bắt đầu viết.
Harlan Reid
Ở công ty Reid & Sewell
Đường Market, San Francisco
Hãy về bằng tàu hỏa thay vì...
Tôi chùn tay, rồi dừng lại và nhìn quanh, song tâm trí ở tận đâu đâu. Bóng đèn lớn màu trắng sữa trên trần đã sáng dù đang giữa ban ngày. Người đưa thư nhỏ thó, nhìn như mới mười hai tuổi, song chắc hẳn già hơn, trong bộ đồng phục màu ô-liu sẫm, ngồi đong đưa chân trên một băng ghế, chờ chuyến thư tiếp theo. Một người đàn ông đứng sau quầy, đang soát một bức điện bằng đầu bút chì, lẩm nhẩm đếm từ mà không đọc. Trên tường có một hộp vuông cỡ lớn bằng những tờ bìa trắng, tạo thành một quyển lịch, tờ trên cùng in số “16” màu đen.
Tôi lại nhìn xuống, vò tờ giấy rồi vứt vào sọt rác, sau đó viết lại.
Harlan Reid
Công ty Reid & Sewell
Đường Market, San Francisco
Hãy đi chuyến bay ngày thứ Ba thay vì tối n...
Thế còn tệ hơn.
Tôi bảo với mình, ngươi làm như thế để làm gì? Và tôi không tìm được câu trả lời. Tôi có nóng ruột không? Tất nhiên không. Tôi có sợ không? Tất nhiên không. Tôi có thực sự tin câu chuyện vớ vẩn kia không? Đừng có lố bịch! Thế thì còn lí do nào khác để ngươi làm việc này?
Ngươi biết bố sẽ phản ứng thế nào đúng không? Ông chỉ cười. Ông sẽ là người đầu tiên cười. Rồi về sau ông sẽ không ngừng trêu chọc ngươi về chuyện đó.
Thôi, bỏ đi thôi.
Tôi quăng cây bút chì vào chỗ cũ, sợi xích nhỏ buộc nó tạo thành một mạng hoa văn Ả Rập phức tạp khi rơi xuống mặt kính.
Tôi đứng dậy đi ra cửa, sau đó quay lại và bóc bức điện dở dang ra để dòng địa chỉ không rơi vào tay kẻ nào bất hảo. Tôi vo tròn và ném vào sọt rác theo bức điện trước, rồi tôi đi hẳn.
Đường về se lạnh. Mặt trời đã lặn, con đường mờ tối, gió thổi buốt giá. Tôi mừng khi trở về, đó là tâm trạng hiếm khi tôi có được trong những chuyến độc hành.
Tối nay, bà Hutchins bố trí một cô gái người Thụy Điển béo tốt, thân thiện phục vụ bàn ăn. Cô ấy làm căn phòng như ấm áp hẳn lên mỗi khi bước vào, song vì là người mới nên cô ấy rất vụng về. Tôi tự hỏi tại sao mình lại thấy căn phòng thiếu sự ấm áp. Nhiệt độ vẫn như vậy, con người kia thì đã đi rồi, chỉ còn mỗi mình tôi. Hẳn là nó bắt nguồn từ tôi. Lần này là lỗi của tôi.
Tôi hỏi, “Cô nói tên mình là gì nhỉ?”
“Signe, thưa cô.”
“Cô ra đằng kia gạt giúp tôi cái công tắc! Cái ở gần cửa ấy.”
“Gạt ư, thưa cô?” Cô gái bối rối hỏi, tay đặt lên công tắc. Chắc cô ấy tưởng tôi muốn rứt nó khỏi tường và ném đi.
Tôi hơi mỉm cười, nhưng không niềm nở như tôi chắc chắn sẽ làm vào một thời điểm khác. “Ý tôi là dùng ngón tay đẩy nó lên. Như thế?’
Căn phòng chợt bừng sáng. Tôi cúi người thổi tắt những ngọn nến đáng ghét. Đến lúc này, tôi mới nhận ra mình không thích nến. Có lẽ chưa bao giờ thích, theo như tôi nhớ. Tôi tự hỏi tại sao mình lại quay ra ghét chúng vào lúc này, khi chúng đang cháy, giữa bữa ăn.
Cô ấy gật đầu tán đồng. “Tốt hơn nhiều thật. Nến dùng cho nhà thờ thôi, không hợp với nhà ở. Nó quá ảm đạm.”
Phần còn lại của buổi tối tôi dành để nghe nhạc. Những bản nhạc tách biệt nhau song kết hợp liền mạch tạo thành một đoạn phim, một câu chuyện, đúng nghĩa một buổi tối. Tôi nằm bò ra trên chiếc ghế bọc đệm mềm lút trong phòng khách, trong bộ dạng biếng nhác rất chướng. Tôi sẽ không bao giờ dám làm thế nếu trong phòng có người khác, trừ bố tôi. Hơn nửa người tôi vắt vẻo giữa mặt ghế và sàn nhà. Quá nửa ở dưới sàn. Vai tôi gần như ngang mặt ghế, đầu ở cao hơn chút đỉnh, hai tay ôm cái đệm đằng sau. Hai bàn chân vắt chéo vung vẩy, gót chân gõ xuống sàn theo nhịp trống phát ra sau khe sáng của tủ đài bằng gỗ cứng đặt cạnh tôi. Đôi giày của tôi nằm chỏng chơ, như hai chiếc thuyền nhỏ dạt lên bãi biển sau khi những người trên thuyền đã rời bỏ chúng. Một điếu thuốc gác lên vành chiếc đĩa thủy tinh nhỏ cạnh ghế, toát ra làn khói mảnh như sợi chỉ xám đang tở ra khỏi cuộn chỉ, lúc một sợi lúc thì hai, lơ lửng trên cao.
Chỉ là một buổi tối ở nhà như bao buổi tối trước đó, như bao buổi tối sau này. Mãn nguyện, lờ đờ, rất khó tả. Một trạng thái, một dạng tồn tại chứ không hoạt động.
Khi bạn nhàn rỗi, hãy hát. Nhạc sẵn đấy rồi, “quẩy” thôi. Tôi hát dở kinh khủng. Tôi mà cất giọng ở quãng trung hoặc quãng cao thì lạc tông hết chịu nổi. Tôi chỉ có thể hát đúng nhạc nếu ậm ừ trong miệng. Dù sao trong phòng cũng chẳng có ai. Tôi hát theo nam ca sĩ, song ca với anh chàng từng câu một.
Thình lình, tôi bật dậy khỏi ghế. Đôi giày vẫn ở chỗ cũ. Sợi khói mảnh ngả rạp trong một phút, rồi từ từ quay về chỗ cũ, uốn lượn lên cao trở lại. Tôi đập vào thứ gì đó, lưỡi liềm sáng trong cái đài tắt ngấm. Giờ nó chỉ là một cái hộp, tối om và câm lặng.
Tôi ngoảnh nhìn chỗ cũ của mình, đoạn đưa tay quẹt trán. Là tôi di chuyển nhanh như chớp thế sao? Để làm gì, cái quái gì xảy ra thế?
Tôi không quay lại ghế nữa. Có cái gì đó đã rời khỏi căn phòng, khiến nó trống trải hơn trước. Hẳn là do không khí, một nguyên nhân tinh thần nào đó, vì đồ đạc không cái nào xê dịch. Đèn vẫn sáng, nhưng dường như đã mất đi một phần hơi nóng và vẻ rực rỡ, như thể chúng đã tàn úa. Căn phòng quá rộng lớn để ở một mình, xung quanh tôi có quá nhiều không gian. Hiện tại đang là đêm, ngoài trời tối đen. Một phút trước tôi còn chưa nghĩ đến những chuyện này.
Tôi chợt phát hiện ra mình không thích âm nhạc, chí ít là cái tuyển tập vừa phát, y như tôi vừa phát hiện mình không thích thắp nến trên bàn ăn.
Tôi nắm những sợi dây giày, nhặt đôi giày lên và đi ra bằng đôi chân xỏ tất. Lúc tắt đèn, tôi dùng mu bàn tay, không nhìn lại phía sau. Đoạn phim kết thúc.
Chuyển sang cảnh phim khác, ngắn hơn. Tôi ngồi trên băng ghế nhỏ bọc lụa trên gác, trước gương, trong phòng mình. Mái tóc đổ hết về đằng trước như một tấm rèm che kín mặt. Tay tôi chải từng nhát lược đều đều. Rồi nhịp chải bỗng khựng lại. Qua khe hở của mái tóc, tôi trông thấy chiếc đồng hồ nắp gập trên bàn trang điểm. Mười một giờ ba mươi, thời điểm thích hợp để đi ngủ, những khi tôi không bị giữ lại tại một sự kiện giao tế chán chết nào đó. Nhưng tôi không dừng lại như thế chỉ để xem giờ.
Tôi nhìn nó chằm chằm. Tôi rẽ mớ tóc ra, để lộ một phần khuôn mặt. Rồi tôi ngoảnh lại nhìn về phía chiếc giường, đúng hơn là chiếc bàn đầu giường, với cái điện thoại đặt ở đó.
Sau đó, tôi lại quay về nhìn mặt đồng hồ chênh chếch. Mười một giờ ba mươi. Tám giờ ba mươi. Tôi dứt khoát đặt lược xuống, hất mạnh đầu, cả suối tóc bay lên đổ xuống sau gáy, trở về vị trí ban đầu.
Tôi đi tới giường, ngồi xuống mép giường và nhấc điện thoại lên. “Cho tôi gọi một cuộc đường dài qua tổng đài. Tôi là Jean Reid. Tôi muốn nói chuyện với ông Harlan Reid, ở khách sạn Palace, San Francisco, California.”
Tôi đọc số của mình rồi gác máy, lập tức bàng hoàng. Tôi làm thế để làm gì? Tối nay tôi ăn nhầm thứ gì vậy? Lại còn gọi cho ông nữa chứ. Tôi sẽ chẳng thể nói được gì. Vì sao ư, ông sẽ cười nhạo tôi. Tốt hơn tôi nên hủy cuộc gọi trước khi nó được kết nối.
Bàn tay tôi đã giơ ra, rồi dừng, lặng lẽ hạ xuống. Bàn tay dường như không thể quyết định dứt khoát, giống như đầu óc tôi vậy.
Tôi đứng lên, quay trở lại trước gương và lại ngồi xuống. Tôi lần lượt cầm món này món kia lên, không sử dụng, cũng chẳng có ý định sử dụng. Sau đó, tôi lại đặt chúng xuống, như đang thực hiện một cuộc kiểm kê.
Bỗng một âm thanh như tiếng sáo mà tôi quá quen thuộc vang lên. Cả người tôi giật nảy. Tôi vốn chưa bao giờ giật mình trước tiếng chuông điện thoại. Có quá nhiều lần đầu tiên, khi con đường bạn đi chạm đến vùng tranh tối tranh sáng của nỗi sợ.
Tôi lao đến, ghì chặt ống nghe trong bộ dạng cuống quýt. Tôi biết bây giờ tôi sẽ nói với ông, năn nỉ ông rằng tôi đã tin, chỉ cần qua thời điểm này...
“Cô Reid?”
“Tôi nghe đây.”
“Tôi rất tiếc, chúng tôi không liên lạc được với người đó. Khách sạn Palace ở San Francisco cho biết ông Harlan Reid vừa đi khỏi cách đây vài phút.”
Tôi gác máy, người rũ xuống.
Can đảm nhen nhóm trở lại. Can đảm là một phẩm chất hèn nhát, nhát gan vốn là một loại dũng cảm. Sự can đảm này nhuốm mùi chua của chùm nho xanh. Không sao hết. Ngã ngũ rồi. Chuyện đã vượt ngoài tầm xử trí của ngươi, như thế là tốt nhất. Ngươi đã biết ngay từ đầu là không nên cố làm gì. Ngươi đã tránh được cảnh tự biến mình thành một con ngốc sụt sùi. Ngươi nên mừng mới phải.
Tôi đi tắt đèn, chỉ để lại một ngọn đầu giường để đọc sách. Trong phòng có duy nhất một điểm sáng màu vàng đục, như ánh sáng của một lò sưởi leo lét cháy.
Tôi lên dây chiếc đồng hồ, đem đặt nó dưới ngọn đèn đầu giường, cùng với cuốn sách tôi đã chọn trong thư viện dưới nhà trước đó.
Tôi tháo sợi dây ở eo và thả chiếc áo choàng tắm màu trắng xuống. Chăn trên giường đã lật ra một góc phía trên, tôi kéo nó xuống xa hơn rồi trèo lên giường.
“Mai bố sẽ về. Khi gặp lại bố, ngươi sẽ kể lại những chuyện ngươi đã suýt làm tối nay. Nhưng tình hình sẽ khác. Đừng nói vội, sau này hãy nói với bố. Cả hai sẽ được một trận cười nắc nẻ.”
Tôi bật lửa châm điếu thuốc, cầm quyến sách, ngả lưng vào đầu giường trong vầng sáng bằng quả trứng đà điểu của ngọn đèn.
“Ôi! Manon, Manon”, tôi nói tiếp trong tiếng thở hắt ra, “đã quá muộn để nàng khóc thương ta khi chính vì nàng mà ta phải chết.”*
Một trích đoạn trong tác phẩm Manon Lescaut của nhà văn người Pháp Antoine Francois Prévost.
Mắt tôi rời khỏi trang sách. Mười hai giờ kém mười. Sắp đến rồi. Ông không bao giờ đến đâu sớm hơn mức bắt buộc. Mắt tôi lại cụp xuống.
...đã quá muộn, chính vì nàng mà ta phải chết. Tôi phải đọc lại từ đầu.
...đã quá muộn...
Không được, nó không có tác dụng. Quyển sách trượt xuống chăn trong trạng thái vẫn đang mở. Tôi chộp lấy điện thoại.
“Cho tôi gọi đường dài. Làm ơn nhanh lên. Đây là số của Jean Reid. Gọi cho Harlan Reid. Sân bay San Francisco, hãng hàng không Transcontinental and Western, tòa nhà điều hành. Ông ấy đặt chuyến bay về phía đông lúc chín giờ. Ôi, đừng lặp lại lời tôi. Xin hãy nhanh lên, chuyện gấp lắm.”
Tôi gác máy.
Tôi nghĩ nó sẽ không bao giờ reo. Tôi tì lên khuỷu tay, cúi người trên cái điện thoại, tư thế vặn vẹo mỏi nhừ. Những ngón tay tôi gõ vào chăn, không phát ra âm thanh. Rồi chúng chụm thành một đường thẳng, thục vào chăn thành một cái rãnh, di đi di lại trong đó. Rồi chúng nhảy lên mái tóc đã chải hết ra sau của tôi, kiểm tra lại xem tóc đã vuốt hết ra sau thật hay chưa, thậm chí còn sờ thử. Những suy nghĩ trẻ con lướt qua đầu tôi. Có khi áp vào gần điện thoại quá sẽ làm nó ngạt thở. Ngươi đang cản trở nó, tránh ra cho nó có chỗ để reo chứ.
Tôi đặt tay lên điện thoại, chờ đợi. Tôi lại nhấc nó lên, gõ gõ hai cái, như cách người ta giục một con chó.
Chuông bỗng reo vang, sát sạt như vang lên từ trong lồng ngực tôi vậy.
“Cô Reid?”
“Vâng? Vâng?”
Tôi rất tiếc, phía sân bay không thể liên lạc với ông Harlan Reid theo yêu cầu của chúng tôi. Chuyến bay về phía đông đã cất cánh từ lúc chín giờ.”
Đồng hồ của tôi vẫn còn bốn phút nữa mới đến mười hai giờ.
Giọng khô rang, tôi hỏi một cách khó nhọc, “Ở đó hiện là mấy giờ?”
“Chính xác là mười hai giờ một phút, giờ chuẩn miền Đông.”
Mười phút sau, tôi mới cử động trở lại. Nhờ vào chiếc đồng hồ, tôi biết đã mười phút trôi qua. Nó chỉ mười hai giờ sáu phút. Tôi với tay cầm lấy nó, chỉnh nhanh thêm mười một phút, sau đó đặt chuông báo thức bảy giờ ba mươi, đoạn đặt nó về chỗ cũ. Trong mười phút đó, hẳn là tôi chỉ ngồi im lìm trong ánh đèn, không làm bất cứ chuyện gì. Tôi chỉ ngồi nhìn trân trân vào một điểm nào đó.
Tôi tắt đèn, dải ánh sáng tàn dư hắt trên những chiếc gối co rút lại thành hư không. Một lúc sau, trong bóng tối, âm nhạc quay trở lại, thứ nhạc tôi đã nghe hồi tối, ban đầu mờ nhạt và bập bõm, rồi mạnh dần, như một chiếc radio khởi động, cuối cùng dội ầm ầm trong đầu tôi.
Tôi lăn lộn trong bóng tối, hai tay nắm hai mép gối, vòng nó qua đầu, áp chặt vào hai bên tai. Nhưng nó không chặn được tiếng nhạc. Làm sao chặn được khi nó vang lên từ bên trong? Song, nó từ từ thay đổi. Lời và giai điệu nhỏ dần rồi biến mất. Chỉ còn nhịp phách, to lên, đồng thời nhòa đi, cho đến khi biến thành tiếng ì ầm rền vang của động cơ máy bay trên bầu trời. Âm thanh quen thuộc mà ta thường xuyên nghe thấy khi một chiếc máy bay bay qua đầu. Rồi âm thanh đó cũng nhỏ dần, lùi xa, hút vào tít tắp, vào lãng quên. Đúng thời khắc cực điểm ấy, nó tan biến vào im lặng, một giấc ngủ bất an kéo đến.
Chẳng mấy chốc, chuông báo thức đã réo, đã sang một ngày mới. Bố tôi sắp về đến đây rồi, phải đi đón ông thôi.
Tôi kéo hết rèm lên, mặt trời như một khoanh đồng vừa được đãi ra từ mỏ. Những suy nghĩ và sợ hãi không đâu đêm qua đã biến mất. Không có ngóc ngách nào trong tâm trí mà mặt trời không rọi đến và rửa sạch những muội bám và cặn lắng của đêm. Quy luật của tự nhiên trở lại nắm quyền. Chỉ những cái mắt thấy tai nghe và tiếp xúc mới thực sự tồn tại.
Tôi đứng dưới vòi sen, hứng những tia nước lạnh căm và lấy lại niềm kiêu hãnh thường trực một cách không nao núng, ngay cả khi bả vai giật lên đau nhói. Lúc sau, khi môi đã khô lại, tôi mới vừa huýt sáo vừa lau người, mặc quần áo.
Lúc xuống nhà, người làm đưa tôi một tách cà phê. Tôi khoác áo, đón lấy cái tách và đứng uống tại bàn. Tôi tù chối các món khác, bảo họ là tôi sẽ ăn sáng với bố khi hai chúng tôi về nhà.
Tôi phóng xe vun vút trong tâm trạng phơi phới, cũng bất cần nếu có cảnh sát đuổi theo. Cứ đuổi cho vui. Nhưng chẳng thấy viên cảnh sát nào. Đến gần trung tâm, tôi giảm tốc độ để tránh gây tai nạn. Khi ra khỏi thành phố ở đầu bên kia, tôi tăng tốc trở lại. Làn gió mát thổi tung tóc tôi ra sau, gần như làm duỗi hết những lọn quăn thành đường thẳng.
Tôi đến nơi sớm năm phút. Tôi đậu xe, đi bộ ngược lại vào phòng chờ. Trên bảng tin đã thông báo giờ đến của chuyến bay là 8:30. Tôi mua một bao thuốc lá ở quầy rồi đi dạo loanh quanh. Tôi dừng lại một lúc trước một cái giá xoay, lật góc mấy quyển tạp chí mà mình không thực sự định mua. Rồi tôi để chúng lại, kiếm một chỗ ngồi, hút thuốc trong niềm hân hoan, thậm chí lấy chiếc gương nhỏ ra soi xem dung nhan đã đạt mức mong muốn chưa.
Tôi đột ngột ngước lên khi một người đàn ông xuất hiện và trèo lên cái thang gấp. Anh ta rút một trong những tấm thẻ trên bảng lịch trình ra, tấm thẻ ghi “San Francisco - 8:30 sáng.” Anh ta không thay vào tấm thẻ khác.
Tôi bước tới chặn người đàn ông lại khi anh ta kẹp tấm thẻ mang đi. “Chỉ còn vài phút nữa thôi đúng không? Đã hai chín phút kể từ..”
Anh ta nhìn tôi và lắc đầu rất nhanh. “Máy bay bị trễ”, anh ta đáp ngắn gọn, định đi tiếp.
Tôi chặn anh ta lại lần thứ hai. “Nó trễ bao lâu, anh cho tôi thêm thông tin được không? Tôi đã đi một quãng đường xa đến đây chỉ để đón nó.”
“Khó nói lắm”, anh ta dè dặt.
“Mong anh tìm hiểu giúp tôi. Hãy hỏi những người trong kia, chắc chắn họ biết.”
Anh ta đi vào văn phòng và đóng cửa lại. Tôi đứng tại chỗ đợi. Một lúc sau, anh ta đi ra và bảo. “Chúng tôi không biết được chính xác. Cô chờ ở đây chỉ tổ mất thời gian thôi. Tốt nhất cô hãy về nhà rồi gọi cho chúng tôi trong buổi sáng nay, có thể chúng tôi sẽ...”
“Nhưng anh phải biết chứ!” Tôi khăng khăng. “Điểm dừng gần nhất là ở đâu? Pittsburgh đúng không? Nó rời Pittsburgh khi nào? Cho tôi vào trong kia một lát?”
“Xin lỗi, thưa cô, người ngoài không được vào đó. Cô chờ cho một phút.” Anh ta lại biến vào trong, sau đó bước ra cùng một người khác.
Tôi để ý thấy ông ta có một vẻ lơ đãng, như thể suy nghĩ đang ở tận đâu đâu, ngay cả trong lúc ông ta nhìn tôi. Tôi không thích điều đó. “Nếu cô vui lòng để lại số điện thoại ở sân bay”, ông ta nói, “chúng tôi sẽ gọi cho cô ngay khi...”
“Máy bay rời Pittsburgh lúc nào?” Tôi nhắc lại. Thoạt tiên ông ta nhìn tôi, như không định trả lời. Rồi ông ta đáp, “Nó không đến Pittsburgh.”
“Đã có sự cố ư? Chuyện gì xảy ra? Thế nó rời Chicago khi nào?”
Ông ta liếc nhìn người đàn ông kia, miệng lẩm bẩm gì đó đại loại như “Cô ấy có quyền được biết”, “Dù sao nó cũng sắp được công bố”. Rồi ông ta quay người và lại đi vào phòng.
“Máy bay đã bị mất liên lạc từ mười một giờ tối qua, theo giờ Thái Bình Dương, hai tiếng sau khi cất cánh ở San Francisco.”
Người đàn ông tiếp tục nói, nhưng chẳng chữ nào lọt vào đầu tôi. Tôi còn đang cố trấn tĩnh, tự nhủ không cần lo lắng, mọi chuyện sẽ ổn, họ không có tin xấu nào, chỉ là không có tin tức gì thôi. Anh ta đi cùng tôi một đoạn trên đường ra xe, qua những cánh cửa phòng chờ, tôi nghĩ là qua nhiều cánh cửa khác nữa, ra đến bên ngoài rồi dừng. Như thế hợp ý tôi. Tôi cũng như anh ta đều lấy làm mừng vì chuyến hộ tống ngắn ngủi ấy đã chấm dứt.
Tôi lại ở ngoài trời, vẫn ánh nắng màu bánh quy phủ lên mọi cảnh vật. vẫn những bóng râm màu xanh sẫm mát mắt trùm lên khách bộ hành, vẫn bầu trời xanh trong vắt, điểm vài vệt mây như những đám bọt dầu gội đầu, bị ai đó bất cẩn hất lên bằng miếng bông tắm. Mọi vật trông đều sạch sẽ và tươi tỉnh.
Tôi trở vào xe, nổ máy và ngồi thừ ra. Tôi biết mình phải ấn vào chân ga nếu muốn nó chuyển bánh, nhưng tôi không làm, công việc đó có vẻ quá rắc rối.
Ắt tôi còn ngồi lâu hơn nữa, nếu không có một nhân viên bãi đỗ xe đi đến định giúp đỡ. Anh ta nghe thấy tiếng động cơ, nhưng không thấy xe chạy.
“Cô gặp vấn đề gì à? Xe bị hỏng chỗ nào chăng?”
“Không”, tôi đờ đẫn nói. “Không, nó hoạt động bình thường, miễn là người ta muốn nó hoạt động.” Đoạn tôi nhấn ga cho anh ta thấy rồi lái xe khỏi đó.
Tôi bò như rùa trên đường về nhà. Tôi cứ quên giữ tốc độ, chiếc xe suýt nữa dừng hẳn. Rồi nhớ ra mình phải tập trung, tôi lại cho xe chạy tiếp.
Tôi ngây dại và đờ đẫn vì sốc. Tôi biết thế này chưa là gì. Những gì đến sau đó, một khi trạng thái đờ đẫn này qua đi, mới là tệ nhất.
Thành phố, khi tôi đi qua nó sang đầu bên kia để về nhà, mang vẻ rực rỡ, hối hả, năng động mà một ngày quang đãng có thể tạo nên. Cửa kính sáng chói của những quầy hàng làm anh lóa mắt, như những tấm gương phản chiếu mặt trời. Đó đây vút lên những mặt tiền ốp đá vôi và đá granite của các tòa nhà nom như mới được gọt đẽo và rửa sạch, không vương một hạt bụi. Dân tình đi thành từng đoàn, bóng họ tạo thành những khối mực màu lam sẫm bám theo mỗi bước đi. Đến vỉa hè cũng lấp lánh những hạt mica li ti gắn bên trong.
Tôi dừng xe trước đèn đỏ, chợt nghĩ lẽ ra ông đã ngồi ở ghế phụ cạnh tôi, trong chiếc áo khoác nhẹ cổ bẻ cao sau gáy, với chiếc cặp táp trên đầu gối. Lẽ ra chúng tôi đang chuyện trò rôm rả, thay vì chỉ có mình tôi ngồi im lìm trong xe như thế này. Tôi quay sang nhìn chỗ trống bên cạnh, bàn tay buông xuống, khẽ chạm vào nó với niềm khắc khoải lặng lẽ, rồi lại trở về nắm lấy vành vô lăng.
Cách đó không xa, tôi trông thấy một chiếc xe giao báo đỗ trước một quầy báo ở góc phố, mọi người đang dỡ những số báo mới xuống. Tôi dừng xe và vẫy chủ quầy mang cho mình một tờ, trước khi ông ta kịp cắt xong mớ dây bó sấp báo thành một khối vuông vức.
Tin tức đã lên báo mà tôi thì biết rất ít hoặc không biết gì. Giờ đã có giấy trắng mực đen, không có tin nào khủng khiếp và đáng sợ hơn. “Máy bay mất tích cùng với mười bốn hành khách. Vị trí cuối cùng được xác định là ở dãy núi Rocky. Công tác tìm kiếm đang được tiến hành...”
Đau đớn càng tăng lên. Giờ nó bắt đầu thấm qua những kẽ hở. Tôi vo tờ báo thành một cục, thả nó xuống bệ lên xuống ô tô, từ đấy nó rơi tiếp xuống mặt đường. Tôi cho xe chạy tiếp.
Người ở nhà đã hay tin cả, tôi biết điều này qua vẻ mặt họ. Việc họ không nói gì, không hỏi han tại sao ông không về cùng tôi, là minh chứng rõ ràng hơn thảy. Họ nghĩ không đả động đến chuyện đó là khôn khéo. Có lẽ họ đúng. Nó đau theo cách khác, kiểu gì cũng gây đau đớn mà thôi.
Tôi muốn về phòng và ở một mình, nhưng tôi phải vượt qua bọn họ trước đã.
Tôi thấy bà Hutchins nhìn tôi. “Chuyến đi của cháu công cốc rồi.” Tôi nở nụ cười cứng nhắc với bà.
Tôi phạm sai lầm khi bước vào phòng ăn và bắt quả tang họ, trước khi họ có thể xóa mọi dấu vết của bữa điểm tâm chào mừng.
“Dọn hết chúng đi”, tôi nói, quay phắt lại.
“Cô dùng một cốc cà phê nhé?” Signe nài nỉ.
“Không, cảm ơn. Chị lấy cho tôi ít rượu brandy, tôi sẽ đem lên phòng.”
Khi cầm chai rượu đi tìm tôi, cô ấy thấy tôi ngồi cạnh chiếc đài. Tôi biết họ đã mở nó trước khi tôi về, vì mặt kính nhỏ trên nút chỉnh vẫn còn hơi ấm.
“Có tin gì mới không?”
“Chưa cô ạ. Bà Hutchins đã dò. Mới chỉ đến chương trình dạy làm bánh.”
“Tin tức sẽ được cập nhật từng giờ trên kênh này, kênh ở cuối đó. Mọi người phân công nhau trực để nghe. Tôi ở trên gác, có gì thì gọi tôi.”
Signe liền ngồi xổm xuống ngay tại đó, váy xòe ra thành một vòng tướng trên sàn trước chiếc đài. Trông cô rất tức cười. Chắc cô tưởng ngồi sát như thế thì có thể đốc thúc được nó. Đôi mắt cô rưng rưng, chỉ đợi tôi cho phép là nước mắt sẽ vỡ òa. Cô ấy thuộc kiểu sẵn sàng khóc với bất cứ ai.
Tôi không muốn cô ấy khóc cho tôi. Tôi lên gác để khóc một mình.
Từng giờ. Cụm từ đó chưa bao giờ mang ý nghĩa đặc biệt như thế. Có đến cả ngàn lần tôi vô thức nghe thấy nó lặp lại, phá ngang những cái khác. Như một khẩu hiệu nhàm tai, cho đến khi nó kết thúc và chương trình tiếp tục bình thường. Có một điều tôi chắc chắn. Sẽ không bao giờ tôi nhìn thấy biểu tượng ấy, nghe thấy khẩu hiệu ấy mà không rùng mình, không sống lại những hồi ức đau đớn và cắn rứt. Trong mỗi giờ trôi qua của toàn bộ thời gian sắp tới đây.
Tôi nghĩ buổi trưa là lần đầu tiên, sau khi tôi từ sân bay trở về. Họ cử người lên gõ cửa phòng và gọi tôi, nhưng tôi đã gặp sứ giả ngay tại cầu thang, trên đường đi xuống. Tôi canh thời gian sát sao không kém gì họ.
Tôi bước vào phòng khách, mọi người đã có mặt đông đủ trước tôi, lặng im và bất động, trong một cảnh tượng tập trung đến nghẹt thở. Bà Hutchins đứng cạnh chiếc đài, tay nắm một góc của nó, như sợ nếu bà giơ tay lên thì dòng thông tin sắp tuôn ra sẽ tự động dừng lại. Cô gái người Thụy Điển Signe ngồi phủ phục dưới sàn phía trước nó. Theo như tôi biết, cô không hề rời vị trí. Một cô hầu nữa đứng sát tường, giữa cửa và chiếc đài, hai tay giấu sau lưng. Người lái xe đứng ngay ngoài cửa, vị trí thích hợp với một người thường không được lên nhà trừ khi có lệnh. Bà nấu bếp còn ở xa hơn, từ cửa căn bếp của mình nhìn ra, nghiêng đầu lắng nghe. Và Weeks, người gác cửa.
Tôi lẳng lặng bước vào giữa họ. Tất cả đều tránh nhìn tôi, cố gắng không làm phiền. Ai đó dịch một chiếc ghế tới, nhưng tôi lắc đầu và đi tiếp tới cửa sổ, đứng quay lưng lại với họ.
“Tin tức thời sự cập nhật từng giờ. Vẫn chưa có thêm thông tin về chuyến bay nội địa mất tích lúc mười một giờ tối qua. Trên máy bay có mười bốn hành khách. Chiếc máy bay được cho là đã buộc phải hạ cánh trong khu vực dãy núi Rocky.
Tôi hít thật sâu, để lấy sức trở lên trên gác, đi qua bọn họ. Tôi quay người lại, gian phòng trống trơn. Họ đều đã ý tứ lui đi hết, khả năng cao là theo hiệu lệnh ngầm của bà Hutchins.
Tôi rời khỏi cửa sổ. Giọng nói vẫn lải nhải theo một cách ghê rợn. “Cho những quý thính giả nghe muộn, chúng tôi xin nhắc lại: Vẫn chưa có thêm thông tin về chuyến bay nội địa...” Tôi vội vã bước đến tắt đài đi. Đoạn, tôi đi lên gác, qua hành lang trống không, qua những cánh cửa cố tình đóng kín.
Tôi không khóc, tôi gần như không rơi một giọt nước mắt nào. Khóc lóc dành cho những chuyện đau buồn, không phải chuyện này. Tôi chôn mình ở bàn trang điểm phần lớn thời gian, đầu gục xuống mặt bàn, náu trong hai cánh tay khoanh lại. Lặng im, bất động. Một cái chai nhỏ có hình chạm trổ đổ xuống ngay bên cạnh, tôi trông thấy nhưng mặc kệ.
Lúc một giờ, tôi lại xuống dưới nhà. Rồi hai giờ, ba giờ, bốn giờ… để tham dự cuộc gọi hồn tập thể đầy khổ sở và não lòng này. “Tin tức thời sự cập nhật từng giờ. Tin tức thời sự cập nhật từng giờ.” Và chấm hết. Cho đến khi tôi nghĩ mình sẽ phát điên. Cho đến khi nó vang lên bên trong cũng như bên ngoài đầu tôi. Không còn cách nào ngăn chặn nó, tắt đài cũng không hiệu quả. “Tin tức thời sự cập nhật từng giờ... Từng giờ...”
Khoảng bốn rưỡi, có tiếng gõ rụt rè ngoài cửa. Trong khoảnh khắc, tia hy vọng như lưỡi lửa đâm xuyên người tôi, lan nhanh khắp thân thể. Nó tắt ngấm trước cả khi tôi ngóc đầu nhìn ra cửa, hoặc đứng lên đi ra đó. Vì tiếng gõ quá rụt rè và phân vân chính là một sự báo hiệu tin tức, dù là tốt hay xấu.
Tôi mở cửa. Signe đứng đó, bưng một chiếc khay nhỏ đặt một tách cà phê bốc khói, với một sự khẩn cầu câm lặng trên gương mặt. Cô ấy còn không dám mở miệng bảo tôi, chỉ giơ cái khay ra, sẵn sàng tháo lui trước một dấu hiệu cự tuyệt, sợ xâm phạm đến tâm trạng tôi. Đó, thành thực mà nói, đúng là điều cô ấy đang làm.
Tôi đón lấy tách cà phê, cốt đế thoát khỏi sự hiện diện của cô, nhất là cái biểu cảm trên mặt cô, còn hơn là từ chối và phải chịu đựng cảnh cô đứng ỳ ra đó và nài nỉ tôi. Tôi đóng cửa và đặt bừa nó xuống một chỗ, không hề đụng đến nữa. Hơi nóng dần mất đi, tách cà phê nằm đó, im lìm và đen đặc.
Tôi nhận ra trọng tâm của tấm màn sợ hãi và đau thương đang bao phủ lên mình không nằm ở bản chất tai ương của nó hay sự mất mát nó. Mà ở việc nó đã được báo trước. Có một sự khiếp sợ ớn lạnh trong đó, một sự khủng khiếp, một... Tôi không biết gọi là gì. Có một cảm giác ác mộng đè lên tôi, ngay cả khi đỉnh điểm hủy diệt của nó đã qua và không còn phía trước, cũng không làm tôi nhẹ nhõm hơn. Không có chuyện này, tôi vẫn sẽ suy sụp trước tin tức kia. Nhưng tôi sẽ suy sụp trong thế giới bên ngoài. Giờ tôi suy sụp cả trong bóng đêm mình tạo ra, bóng đêm của tâm tưởng.
Tôi la hét trong tâm trí hỗn loạn của mình. “Những chuyện đó không được biết trước! Không thể! Nó không thể nào là sự thật, không thể nào.”
Và xem kìa, câu trả lời xuất hiện ngay lập tức. Nhưng đó là sự thật. Ngươi biết mà. Đừng tự dối mình. Ngươi đã được thông báo và ngươi biết điều đó. Cô ta đã đến nói với ngươi. Cô ta đã đến khóc lóc với ngươi. Cô ta bất chấp nguy cơ bị đuổi việc, và cuối cùng đã bị đuổi, chỉ để báo cho ngươi.
Không phải thế! Không đúng, ta thề (trên chiếc ghế và dưới lọ nước hoa đã đổ này)! Ta sẽ không chấp nhận! Ta sẽ không tin! Một động cơ máy bay bị hỏng, máy bay đã đâm vào một triền núi và phát nổ lúc nửa đêm. Nhưng chỉ một phút trước, ba mươi giây trước đó, cho đến khi động cơ gặp sự cố, viên phi công ngồi trước nó không hề biết chuyện gì sắp xảy ra. Không một linh hồn sống nào trên chuyến bay ấy biết được. Đó là số phận, là sự sắp đặt của Chúa lòng lành. Ấy thế mà ngươi cứ cố thuyết phục bản thân là có một cô gái ở cách đó ba nghìn dặm, nơi miền Đông này, từ hai ngày trước, từ ba ngày trước, đã biết nó sẽ xảy ra như thế? Một cô hầu gái, một đầy tớ, thấp hèn và...
Nhưng câu trả lời rất trầm và thấp, song không tài nào thoát được, như một lời thì thào sát bên tai. Này, nhìn ra đây, theo hướng cửa, nơi đặt chiếc ghế dài. Tối hôm đó, cô ta đứng trong căn phòng này, ngay chỗ ngươi đang nhìn. Cô ta chẳng đã lên đây? Cô ta chẳng đã vặn vẹo hai tay như thế này, cố gắng giải thích đó sao? Mở tủ ra. Nhìn vào trong, dưới lớp bọc bằng giấy bóng kính, về bên trái. Chiếc váy trắng dài. Nếu ngươi lấy ra, ngươi sẽ thấy một vết ố trên đó, vết ố mà cô ta gây ra do biết trước câu chuyện và sợ hãi.
Jean, uống chút rượu mạnh đi. Đừng để những suy nghĩ ấy len vào đâu. Cứ uống cho đến khi ngươi nhấn chìm chúng, đốt cháy chúng, đốt cháy tất cả. Dù cho quay cuồng ngã nhào cũng phải uống, nhất định phải ngăn những ý nghĩ đó lại. Chúng sẽ dẫn ngươi đến sự điên loạn mà thôi.
Họ gõ cửa để xem có chuyện gì. Tôi đang loạng choạng xô đổ bàn ghế và đồ đạc, nỗi sợ hãi và việc mò mẫm tìm kiếm câu trả lời đã khiến tôi ngà say hơn là rượu brandy.
“Không sao đâu, tôi ổn. Đừng để ý”, tôi nói lớn. “Mang thêm brandy cho tôi. Mang lên đây một bình, rồi để nó ngoài cửa cho tôi.”
Không có tiếng thì thầm cảnh báo ư? Ngươi không nảy sinh mối nghi hoặc vì lời truyền đạt của cô ta, dù là gián tiếp ư? Nói dối. Nói dối không biết ngượng. Thế tại sao ngươi dừng xe, xuống xe, rồi đi vào trong gửi một bức điện, lúc sáu giờ tối qua? Tại sao ngươi lại nhấc điện thoại, trong chính căn phòng này, trước mười hai giờ, và gọi đến khách sạn ông ở? Tại sao ngươi nhấc điện thoại lần thứ hai, vào lúc mười hai giờ, và gọi đến sân bay, như một phương sách cuối cùng?
Ngươi có chối không làm những chuyện đó không? Ngươi thừa nhận. Rồi, vậy ngươi có chối việc đã có linh cảm không? Ngươi thừa nhận mình có linh cảm, vậy ngươi có bác bỏ cô ta là nguồn cơn của nó không? Ngươi thừa nhận. Vậy ngươi có chối rằng cô ta, ít nhất, đã cảnh báo và cố gắng truyền đạt điều đó cho ngươi không?
Brandy, nhanh lên, brandy! Tất cả brandy mà ngươi có thể uống.
Không tác dụng, nó không có hiệu quả. Những ý nghĩ mạnh hơn chất cồn. Rượu thiêu đốt trên đường đi xuống, như ngọn lửa cháy ngược, khi tiếng gõ cửa vang lên ban nãy, rồi nó lập lòe ánh xanh và tắt phụt gần như ngay lập tức.
Tay ngươi lạnh ngắt, ngươi đang run rẩy. Rượu tràn ra ngoài nhiều hơn qua môi ngươi. Khi ngươi lên bốn hay năm tuổi, lần đầu tiên đến lớp học ngày Chủ nhật, người ta giảng cho ngươi về Chúa. Trước đó ngươi chưa từng nghe nói đến Người, nhưng ngươi không thấy sợ, bởi đó là điều tích cực, chỉ xoay quanh ngươi. Đó là mái nhà che chở ngươi. Giờ ngươi hai mươi tuổi và ngươi khiếp sợ, sợ đến phát ốm. Bởi đây là sự tiêu cực. Nó thổi bay những bức tường, thổi bay mái nhà trên đầu ngươi. Giờ ngươi cô độc, trần trụi và vô cùng nhỏ bé trước cơn gió đêm.
Họ không biết. Họ không thể biết được.
Họ đã biết. Ai đó đã biết.
Có người chạy lên và gõ cửa. Lần này, họ không chần chừ mà gọi thẳng luôn.
“Có tin mới, cô Reid. Cô xuống dưới nhà mau đi.”
Tôi mở toang cửa, lướt qua họ, chạy xuống cầu thang. Cái áo choàng tôi mặc bay phấp phới như lá cờ, tay vẫn vô thức nắm chặt bình rượu.
Tôi đã bỏ lỡ nó. “... từ mười một giờ tối qua.” Nhưng nó sẽ được nhắc lại, phát thanh viên vẫn đang nói. Không thể nào là tin lành, tôi để ý thấy chẳng người nào định kể lại cho mình. Họ len lén đi ra khỏi phòng, chỉ có bà Hutchins ở lại, nấn ná nơi cửa, như xem liệu có giúp gì được cho tôi trong giờ phút sắp tới.
Thấy mình vẫn cầm bình rượu trên tay, tôi bèn đặt xuống. Khúc đầu của bản tin đã phát lại, tôi cúi đầu thật thấp và đứng lặng phắc.
“Cho những quý thính giả nghe muộn, chúng tôi xin nhắc lại. Chiếc máy bay bay tuyến nội địa bị mất tích cùng với mười bốn hành khách, đã được phát hiện cách đây một giờ bởi các máy bay cứu nạn. Nó bị vùi sâu trong tuyết trên một sườn núi, ở nơi hẻo lánh không thể tiếp cận. Họ thông báo không thấy có dấu hiệu của sự sống, khả năng có người còn sống sót được xem là rất thấp. Có thể mất một khoảng thời gian để các đội cứu hộ trên mặt đất tìm được đến nơi. Không có một tín hiệu nào từ chiếc máy bay kể từ mười một giờ tối qua.”
Tôi vươn tay tắt đài.
Bà Hutchins ngập ngừng dợm bước lại gần tôi.
Tôi giơ tay ngăn bà lại. “Không sao đâu”, tôi khẽ nói. “Cháu lại lên phòng đây.”
Bà phát ra một âm thanh nghẹn ngào trong họng, sau đó đi ra ngoài.
Chẳng bao lâu sau, tôi đã ở trong phòng. Tôi nghĩ mình đã đi bộ lên cầu thang. Ngôi nhà im lìm chìm trong tang tóc. Ngoài trời vẫn sáng, ánh sáng rọi qua những ô cửa sổ như rắc bột. Nhưng đó là thứ ánh sáng nhất thời trước khi diệt vong, gồng mình lên lần cuối rồi chết, giống như que diêm sẽ cháy bùng trở lại một khắc trước khi tắt.
Tôi thấy mình đã mặc quần áo. Tôi đang lấy xuống chiếc áo khoác trong tủ, lấy mũ trên giá treo nhỏ bằng gỗ. Tôi đang sửa soạn, chuẩn bị ra ngoài. Tôi bắt gặp hình ảnh mình đi qua đi lại trước gương mấy lần, nhờ đó tôi biết việc mình đang làm.
Tôi không chắc là tôi biết bản thân định làm gì, hoặc trước hết là định đi đâu. Hoặc có lẽ tôi đã biết. Tâm trí không phải là tờ giấy in có thể lật xem lại mỗi khi quên một đoạn nào đó.
Tôi đi ra và đóng cửa phòng lại. Áo khoác vắt trên cánh tay, mũ đội cẩu thả trên đầu, tôi lục túi tìm chìa khóa xe để đảm bảo nó có ở đó. Giờ thì tôi biết mình định làm gì, nhưng không biết tại sao, hay làm thế có lợi gì cho tôi.
Tôi đi về phía sau dọc theo hành lang trên gác, thay vì xuống cầu thang, đến phòng bà Hutchins. Tôi gõ cánh cửa hai lần bằng móng tay. Nó tạo ra âm thanh tích tích rất nhỏ, nhưng chắc hẳn bà nghe thấy. Bà nói “Mời vào”, và tôi mở cửa bước vào.
Bà đang ngồi trên ghế bập bênh sát cửa sổ, mắt nhìn ra ngoài. Thần sắc của bà - trước khi bà trông thấy tôi và xóa sạch nó đi - toát lên nỗi ưu tư sầu muộn. Một cảm giác mất mát, không sâu sắc như cảm giác của tôi, nhưng chí ít cũng vô cùng chân thật. Vì đầu bà quay hẳn sang bên, như thế bà đang nhìn chếch ra ngoài cửa sổ ở một góc hẹp tới bức tường bao của ngôi nhà - dù rõ ràng bà chẳng nhìn bất cứ cái gì ngoài đó - và bàn tay bà ôm đỡ lấy một bên mặt, như thể bị đau răng và phải ấn chặt lên đó hòng làm dịu cơn đau. Một chiếc khăn tay nhỏ nằm phất phơ trên lòng bà, hình như nó vừa được sử dụng rồi để ở đó.
Bà cử động khi tôi bước vào, không biểu hiện gì. Bản tính bà là vậy, không bao giờ thể hiện cảm xúc ra ngoài.
Bà nhỏm dậy và đứng với vẻ dò hỏi trước chiếc ghế đang đung đưa nhè nhẹ vì vừa được giảm tải.
“Grace, bác có địa chỉ cô gái đó ở đây không? Xin cho cháu mượn.”
“Eileen ư?” Bà hỏi, “Eileen McGuire? Bác có.” Gương mặt bà không biểu cảm gì. Bà đi tới mở ngăn kéo bàn giấy. Bà là một người ngăn nắp và chỉn chu. Hình như bà lưu giữ một hộp các sắp xếp cẩn thận về những người làm việc cho nhà tôi, trước kia và hiện giờ. Tôi chưa bao giờ tò mò về cách thức quản lí của bà. Một lúc sau, bà cầm lên một tấm thẻ.
“Bác sẽ đưa nó cho cháu, hay cháu muốn bác liên hệ với cô ấy?”
“Không, cháu sẽ tự đi đến đó.”
“Địa chỉ ở trong thành phố.” Bà đọc tên phố và số nhà từ tấm các. “Cô ấy ở số 112 đường Holden.”
“Cảm ơn bác. Cháu sẽ nhớ.”
Bà cất tấm thẻ đi. Bà trao cho tôi một ánh mắt đầy hàm ý, khiến tôi khựng lại một lúc khi định quay người đi ra cửa.
“Bác có gì muốn nói với cháu à?”
Giọng bà thấp đến mức tôi gần như không nghe thấy. “Đừng đến đó, Jean. Có thế không tốt cho cháu đâu.”
Tôi nhận thấy bà biết nguyên do của vụ sa thải. Cho đến giờ, tôi không rõ liệu còn người nào trong số họ biết nữa không.
“Cháu phải đến một nơi nào đó”, tôi nói. “Chẳng còn nơi nào cháu có thể đến nữa cả.”
Tôi đóng cửa lại sau lưng, đi xuống cầu thang xuyên qua ngôi nhà im ắng, bước ra trời chiều màu vàng đục. Tôi đánh xe ra ngoài, bắt đầu chạy ngược theo con đường dài vào thành phố.
Giờ tôi mới biết có một con đường như thế tồn tại. Có bao nhiêu điều đến tận bây giờ tôi mới biết. Tôi ắt chẳng tìm ra nó nếu không có sự giúp đỡ. Tôi thả xe chầm chậm bên cạnh viên cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ trên quảng trường lớn, nghiêng đầu ra ngoài.
“Tôi đang tìm đường Holden. Mong anh chỉ giúp.”
“Ồ, nó ở đoạn cuối thành phố.” Viên cảnh sát nói giọng khàn khàn. Anh ta liếc nhìn chiếc xe và liếc nhìn tôi, như cố chắp nối bọn tôi với địa điểm đó. Anh ta ra hiệu cho những chiếc xe đi sau tôi vòng qua chướng ngại vật tạm thời tôi tạo ra. “Thế này, cô cứ đi thẳng theo đường Số Ba. Gần đến cuối đường cô sẽ thấy nó.”
Tôi lái xe dọc theo con đường rộng và xấu xí tưởng chừng vô tận này, qua những ống khói bằng gạch của xưởng rượu bia, những kho chứa than và những thùng khí đốt chằng lưới sáng nhờ nhờ. Đèn đường chợt bật sáng, chỉ càng làm nổi bật vẻ tiêu điều và buồn tẻ của nó. Chúng được đặt cách nhau quá xa và kéo dài thành hai đường thẳng tít tắp khiến con đường càng thêm quạnh quẽ và hoang vắng.
Ngày đã chết, khu vực này là nghĩa địa của nó. Một màu vàng xỉn giăng ngang bầu trời phía tây, trong khi ở nơi khác nó vàng rực. Phần còn lại đen như bồ hóng, tựa bức họa than chì nhòe nhoẹt phác những ngôi nhà và con đường hun hút bằng ngón tay cái di trên tờ giấy trắng.
Tôi lại hỏi đường một tài xế xe tải chở nước đá đang đỗ trước xưởng để bốc hàng, ông ta chỉ cho tôi chỗ rẽ và cách đi từ đó đến đường Holden. Sau một lúc, tôi đã đến nơi. Ánh đèn pha xe tôi tạo thành một vết sẹo lớn làm bề mặt nó sáng hơn bao giờ hết.
Nó không như tôi dự đoán, sau khu vực tôi vừa đi qua. Đúng là nó nghèo, nghèo xơ xác. Nhưng nó không hoang phế, không nhếch nhác, không lụp xụp. Nó nhã nhặn, trầm tĩnh trong cái nghèo khó của mình.
Đó là một dãy căn hộ có cùng chiều cao, hình dạng, kích thước. Không thể biết nó bắt đầu chỗ nào và kết thúc ở đâu, nếu không có những ô cửa trổ ra đều đặn. Cùng với những cầu thang tay vịn sắt giống nhau làm dấu. Những ô cửa sổ với ánh đèn đằng sau khiến chúng trở nên sâu hơn, được che rèm trang nhã, lớp kính sạch sẽ mang vẻ khiêm nhường, trên bệ cửa đặt một vài hộp đất trồng hoa phong lữ. Bất cứ ai có thiên hướng phân chia giai tầng xã hội sẽ liệt nó vào mức giao thoa giữa tầng lớp hạ lưu cấp cao và trung lưu cấp thấp.
Tôi tìm thấy số nhà mình muốn, bèn đỗ lại, tắt đèn xe và ngồi im một lúc, một cánh tay thõng xuống đung đưa ngoài thành xe.
Một bé gái chạy ào ra cánh cửa gần nhất và hét vào bóng tối sâm sẩm. “Tiny! Mẹ bảo chị về ngay không thì mẹ mang roi đi tìm đây!”
Bóng người thứ hai xuất hiện bên cạnh cô bé, nổ ra một cuộc cãi cọ ầm ĩ và ngắn ngủi, rồi cả hai biến mất vào trong nhà. Tất cả trở lại yên tĩnh như trước.
Một người đàn ông lê bước trên đường với vẻ mệt mỏi sau ngày làm việc. Ông ta liếc nhìn tôi và chiếc xe nằm im với vẻ tò mò khách quan, rồi đi vào cánh cửa tôi ngồi canh nãy giờ. Bàn tay thõng xuống của tôi va vào cửa xe. Tôi nghĩ: Không phải ở đây, nó không đến từ bất cứ ngôi nhà nào ở đây, lời báo trước tương lai ấy. Không, chắc tôi đã sai lầm, tôi đã đến nhầm chỗ!
Thế nhưng chiếc máy bay đã rơi, một cô gái ở con đường này đã cho tôi biết điều đó, trước cả khi nó cất cánh.
Tôi ra khỏi xe và đứng lưỡng lự, lòng tự hỏi mình muốn gì ở cô ta? Mình sẽ nói gì với cô ta.
Tôi thấy mình đang bám chặt vào mép cửa xe bằng cả hai tay. Tôi kiên quyết dứt ra khỏi nó. Dường như có một lực đẩy vô hình đẩy tôi đi qua vỉa hè, bước lên những bậc thang có lan can sắt rồi đi qua cửa lớn.
Bên trong có đèn, yếu nhưng đủ để phân biệt các nút bấm. Phần lớn các nút đều có tên bên dưới, một trong số đó là McGuire. Nó là cái thứ hai tính từ ngoài đường vào, nên tôi đoán căn hộ ấy ở tầng hai.
Tôi thử đẩy cửa mà không ấn nút. Nó không khóa. Tôi đi vào một cách dễ dàng, leo lên một cầu thang nứt nẻ đã xuống cấp sau nhiều năm sử dụng. Hẳn là tôi đã lo mình sẽ không được cho vào nếu xưng tên dưới nhà. Tôi không ý thức được nỗi lo ấy, nhưng có thứ gì đó đã ngăn tôi ấn cái nút dưới kia.
Tôi lên đến đầu cầu thang rồi dừng lại trước một cánh cửa. Tôi sợ phải đi xa hơn, nhưng quyết tâm không quay bước. Tôi nghe thấy những tiếng lao xao bên trong, lúc gần lúc lùi xa vào những ngóc ngách khiến chúng bặt đi. Nhưng đó là những âm thanh bình thường, không the thé, gay gắt hay kịch tính.
Tôi đột ngột gõ cửa, ngoài cả dự kiến của mình, như có một thôi thúc bất ngờ đã điều khiển bàn tay tôi.
Giọng một phụ nữ vang lên. “Ra xem ai.”
Cửa được mở ra khá mạnh, một cô bé khoảng mười một, mười hai tuổi đứng chắn trước cửa và ngước nhìn tôi.
“Là một quý cô, diện lắm”, cô bé thông báo, không rời mắt khỏi tôi.
Một bàn tay to lớn đặt lên vai con bé, đẩy nó sang một bên, sốt ruột nhưng không thô bạo. Một người phụ nữ đẫy đà tầm bốn mươi tuổi thế chỗ nó, như chuỗi hình ảnh đang trình chiếu bỗng bị ngắt đột ngột.
Bác ta bắt đầu lau hai tay vào trước tạp dề, như một cử chỉ lịch sự hơn là bác cảm thấy chúng cần được lau, tôi nghĩ vậy.
“Có phải Eileen McGuire sống ở đây không ạ?” Tôi hỏi.
“Đúng, thưa cô.” Bác ta nhớ ra mái tóc của mình, liền vuốt nó ra sau búi thành một búi, với một sự mau lẹ nói lên nỗi lo lắng thái quá khi muốn làm hài lòng người đối diện.
“Xin cho tôi nói chuyện với cô ấy một lát?”
“Con bé chưa về.” Bác đáp. “Ít phút nữa là nó về.” Với cùng một vẻ lo lắng vội vã như đối với mái tóc. Cố gắng xoa dịu sự thất vọng của tôi bằng thông báo hấp tấp của mình. Bác ta còn ngoảnh đầu lại, gọi với qua vai, như một món quà bù đắp. “Cath-reen! Nhìn đồng hồ xem mấy giờ rồi!” Rồi nói với vẻ xin lỗi, không chờ câu trả lời, “Con bé về muộn một chút. Chắc nó phải đợi xe buýt.” Bác niềm nở mở rộng cửa. “Mời cô vào nhà chơi.”
Nhìn qua khung cửa mở, khung cảnh lọt vào mắt tôi quá ư phù hợp, với người đàn bà, với cả tòa nhà - hoặc có lẽ tôi nên nói là với ấn tượng của tôi về cả hai - nghịch lí đến mức gần như được xếp đặt một cách giả tạo, như thể cố tình thiết kế đế nhấn mạnh, để cộp mác một phong cách sống không thể lầm lẫn. Tôi không biết còn khung cảnh nào khác thể hiện tốt hơn thế không, căn cứ vào môi trường sống của họ. Nhưng tôi biết là sự bình thường của nó khiến tôi hết sức kinh ngạc. Anh trông đợi sự lệch tông, đây lại là sự đúng tông cực điểm.
Các bức tường sơn màu lục sáng, bạc phếch. Bức tường thẳng trước mặt treo một khung gỗ mạ vàng rất lớn, trang trí những hình cuộn rối rắm và vặn vẹo trong một kiểu dáng phức tạp. Bên trong căng một tấm thảm nhung màu đỏ anh đào, ở giữa trổ một hình ô-van. Bên trong hình ô-van này là tấm ảnh cưới của một người đàn ông và một phụ nữ, nước ảnh nâu đen đã bạc màu, người đàn ông ngồi, người phụ nữ thì đứng.
Một chiếc bàn kê ở giữa, cách không xa khung cửa hạn chế tầm nhìn của tôi. Mặt bàn được ngăn đôi chính xác đến từng phân bởi một khung ảnh thu nhỏ tương tự, ngoài ra trên đó còn đặt một cây đèn bắt mắt. Nó là một hình vòm bằng thủy tinh xước mờ, có gọng như một chiếc ô mở. Quả thực nó na ná như một mẫu ô thu nhỏ. Từ vành ô rủ xuống những tua thủy tinh dài. Một sợi dây điện bọc loang lổ từ dưới chân đèn nối ra, chạy thành một đường thẳng lên cái hốc trên trần.
Phía trên, một thằng bé con đang ngồi tì cằm lên mặt bàn. Nó nhỏ hơn đứa bé ra mở cửa, đang tròn xoe mắt nhìn tôi. Nó bỏ bẵng cả bài tập về nhà, bởi tôi thấy có một quyển sách cũ nát mở trước mặt nó, một tờ giấy vàng trải rộng, một mẩu bút chì thò ra từ bàn tay nắm chặt chĩa lên trời, vết bút chì in khắp môi trên thằng bé, tôi nghĩ vậy, cũng có thể không phải là dấu bút chì.
Trong tích tắc một, hai giây giữa lời mời của người phụ nữ và lời từ chối của tôi, có một sự cắt ngang thô bạo ở chiếc bàn, không liên quan gì đến tôi. Một xấp vải trắng mỏng đáp xuống mặt bàn không tiếng động, ở đầu bên kia, ngoài tầm mắt tôi, chỉ nhô ra khoảng một, hai phân nơi tôi có thể thấy, nhưng tạo ra một luồng gió làm tóc thằng bé bay phơ phất, hất bay tờ giấy trước mặt nó. Tôi nghe thấy đứa con gái đanh giọng ra lệnh. “Đi ra chỗ khác mau. Tao phải dọn bàn cho mẹ.”
Thác vải trắng ấy tràn ra bàn, dìm tờ giấy và quyển sách và gần như cả cái đầu của người sử dụng chúng trong những đợt sóng thất thường. Thằng bé chui ra từ bên dưới, vơ lấy mớ đồ trước mặt cùng với một ôm vải, cuối cùng gần như kéo cả tấm vải theo khi nó tụt xuống nền nhà và trở nên lùn hơn cả lúc trước. Nó dang tay tát một người nào đó không thấy mặt hai cú, và một bàn tay từ phía ấy tát lại nó một cú. Cả ba cái tát đều trượt mục tiêu rất xa. Chúng được tung ra nhằm trả miếng hơn là vì ác ý.
Nhưng trong lúc đó, tôi đã trả lời bà mẹ, “Cám ơn bác, không cần đâu ạ. Tôi sẽ đợi ở tầng dưới.”
“Cô cứ vào đi, đừng ngại.”
“Tôi đợi cô ấy ngoài cửa cũng được.”
Bác ta băn khoăn về danh tính tôi nhưng không biết nói thế nào. “Tôi... có thể biết là ai tìm con bé không, nếu cô không phiền.”
“Reid”, tôi đáp. “Jean Reid.”
Tôi thấy nét mặt bác thay đổi. Vẻ tươi cười của người mở cửa biến mất, thay bằng sự nghiêm nghị. Sự khó chịu không lộ rõ, nhưng nó mang vẻ bài xích quàu quạu.
Tôi tự hỏi liệu bác ta có nhắc đến chuyện đó không, và trong lúc tôi đang băn khoăn thì bác đã nói luôn. Chí ít bác không đạo đức giả. “Cô Reid, sao cô lại đuổi việc con gái tôi như thế?” Bác hỏi với vẻ trách móc, buồn bã. “Theo như nó kể thì tôi dám chắc nó đã cố hết sức để làm hài lòng cô.”
Xem ra bác chỉ biết kết quả mà không biết nguyên nhân.
Tôi không trả lời.
“Ồ, nó đã tìm được việc làm khác”, bác nói. “Nhưng công việc vô cùng vất vả.”
“Tôi xin lỗi”, tôi lẳng lặng nói. “Tôi sẽ đợi dưới nhà.” Tôi quay đi.
Ánh đèn sau lưng bác hắt ra tạo thành một hình quạt nhàn nhạt trên bức tường bên cạnh khi tôi đi xuống. Nó thu hẹp lại, giống như đang được người cầm quạt từ từ gấp vào, cho đến khi hai đầu cánh quạt khép vào nhau và không nhìn thấy chiếc quạt nào nữa.
Tôi đi chậm chạp, bàn tay lê trên tay vịn cũ kĩ, nơi hẳn đã in dấu bao nhiêu bàn tay khác trước tôi. Tôi ra khỏi cánh cửa dưới đường và đi về xe. Tôi cứ đứng cạnh nó, không mở cửa bước vào. Tôi đứng nhìn nó, thay vì ngó ngược ngó xuôi con đường, lưng quay về phía ngôi nhà. Tôi nghĩ bên trên có hai gương mặt nhỏ đang ló ra nhìn tôi từ ô cửa sổ sáng đèn. Chắc đứa chị đã liếc nhanh một cái để xem tôi còn đợi không, rồi nó kéo hai thằng em vào và bảo chúng không được nhìn trộm, thế là không đứng đắn.
Nhưng tôi không ngẩng lên để xác nhận. Cứ để cho cả thế giới soi mói tôi, tôi chẳng quan tâm.
Tôi thấy bóng cô ta hiện ra phía cuối đường. Tôi biết nhất định là cô ta, mặc dù tôi không thường xuyên thấy cô ta đi bộ - ở một khoảng cách xa - để nhận ra tiếng bước chân và lúc này lại quá tối để nhận dạng từ xa.
Nhưng đó là một người phụ nữ, một người phụ nữ rất gầy, đi một mình và đang vội vã trở về nhà. Người nọ bước rất nhanh, tuy nhiên vẫn đượm nét ủ rũ mệt mỏi sau một ngày làm việc. Khi cô ta lao người về phía trước, phần thân trên hơi nghiêng đi do tác dụng của trọng lực, song không cúi rạp, nhờ đó mà tôi biết nhất định là cô ta.
Tôi quay ngoắt khỏi chiếc xe, gần như xoay vòng trên gót chân. Tôi đứng tại chỗ, đối diện hướng đi của cô ta, cứng đờ và căng thẳng. Một cảm giác tò mò dâng trào trong lồng ngực hẳn đã làm tăng nhịp tim tôi, song tôi không dừng lại để phân tích xem đó là gì.
Cô ta đến gần, cuối cùng cũng lọt vào vùng sáng đèn. Ánh lam nhạt của bóng tối tan dần khỏi cô, những màu sắc của chiếc áo choàng sọc vuông quen thuộc tôi từng thấy một lần phủ lên người cô. Rồi chiếc mũ len hiện ra, nó như một chiếc mũ dạng bít tất, hoặc loại mũ những cậu bé hay đội khi trượt băng. Nó vô cùng lạc quẻ, ôm trùm hết cả đầu, trên chóp mũ là một quả bông nhỏ bằng len, thứ duy nhất không mang công năng gì.
Cuối cùng là gương mặt cô, một gương mặt đờ đẫn, nhợt nhạt, rúm ró mà tôi còn nhớ. Kiểu gương mặt không tuổi. Ngay cả khi đang độ thanh xuân, trông nó cũng như đã héo hon rồi, chắc sau này cũng sẽ chẳng thay đổi gì nhiều. Hiện giờ nó trông mệt mỏi và phờ phạc, tệ hơn cả thời gian cô làm việc ở nhà tôi. Khuôn miệng rũ xuống và đôi môi bợt bạt, cô quá mệt và quá mong muốn về nhà nên chẳng buồn tô son.
Cô nhìn thấy chiếc xe trước tiên, khi đi tới lối vào. Và lạ thay, ánh mắt cô dửng dưng lướt qua tôi. Đây không phải là một mánh khóe, tôi có thể khẳng định như vậy. Không có điều gì làm cô quan tâm cả, cô đã cạn kiệt năng lượng để chú ý tới những người xung quanh trên đường. Tất cả những gì cô muốn là đi vào cánh cửa kia và lên gác, nơi mình ở.
Tôi không chắc giọng mình được như mong muốn, cổ họng tôi đã thít chặt. “Eileen”, tôi thấp giọng gọi.
Dường như cô không nghe thấy. Cô bước lên ba hay bốn bậc thềm.
“Eileen. Đợi đã.”
Cô dừng bước và quay lại nhìn. Rồi cô nhận ra tôi.
Sự dò hỏi lơ đãng biến thành vẻ giận dỗi, cô dợm quay ngược lên đi tiếp.
Tôi cảm giác đã nhổ bật cả người mình lên khỏi chỗ đứng bên cạnh xe, lảo đảo lao tới chân cầu thang, tựa như bạn dồn hết năng lượng cho một cú nhảy và do đó mất hết thăng bằng. Một tay tôi chộp lấy tay vịn cầu thang, tay kia đưa lên hướng về cô ta. Cô đứng phía trên tôi, do khoảng cách những bậc thang tạo ra.
Tôi lại buông tay xuống, không biết mục đích của hành động vừa rồi là gì. Có lẽ chỉ để giữ cô ta lại, có lẽ là một cách khẩn cầu giấu giếm.
“Chị có nhớ tôi không? Tôi là Jean Reid.”
“Tôi nhận ra cô, cô Reid”, cô ta nói với vẻ lạnh nhạt đầy tổn thương.
Không còn lời nào nữa, trong mấy giây nặng nề sau đó. Tôi ngước nhìn cô, cô cúi nhìn tôi. Nhưng thể chúng tôi đang bị đối phương thôi miên.
“Nó... đã xảy ra”, tôi lắp bắp. “Không biết liệu chị có biết... chị có biết không? Nhưng nó đã xảy ra.”
Tôi nghe thấy cô hít vào, thành những tiếng rít khe khẽ. “Tôi không biết”, tôi nghe thấy cô nói. “Tôi kiệt sức đến chẳng buồn cầm tờ báo lên. Bố tôi thường mang một tờ về nhà, nhưng từ khi ông đi...”
Tôi nghe thấy cô nói, nhưng không thể nhìn thấy cô. Có chuyện gì đó với thị lực của tôi. Hình ảnh cô tan ra, vỡ thành nhiều mảnh như mặt trăng trong nước, bập bềnh trôi ra khỏi tầm nhìn của tôi. Tôi cảm thấy đầu mình gục xuống như có một bàn tay dúi mạnh. Trán tôi gác lên tay vịn sắt và ở nguyên đó, chỉ lăn qua lăn lại, từ thái dương bên này sang thái dương bên kia như để làm giảm cái áp lực không chịu đựng nổi trong đầu tôi bằng sự tiếp xúc dễ chịu với bề mặt kim loại mát lạnh.
Tôi cảm thấy tay cô chạm nhẹ vào đầu tôi, như tìm cách xoa dịu tôi, rồi rút về, hoảng hốt trước sự cả gan của nó.
Tôi ngước lên, gương mặt cô đã ghép thành một khối trở lại. Qua một ánh nhìn, tôi biết ở cô không hề có bản tính ác độc, lòng hận thù, ham muốn trả đũa hay sự hả hê trước nỗi đau đớn của tôi. Nếu có, ắt nó sẽ bộc lộ ra, không thể che giấu được. Cái nhìn thấu suốt trong tích tắc ấy đã khắc sâu trong tâm trí tôi.
Không hề có sự thù địch ở đó.
Gương mặt ấy cau lại, đồng cảm với tôi. Có sự sợ hãi, ít nhất cũng ngang với nỗi sợ của tôi. Có cả sự bất lực, có lẽ còn lớn hơn cảm giác bất lực của tôi. Có sự yếu đuối khôn cùng, nín lặng, bị động, hoang mang. Cả con người cô toát lên sự yếu đuối, cơ cực. Nhưng không có cái xấu. Không có cảm giác ích kỷ, biểu lộ sự thỏa mãn tàn nhẫn. Trong khoảnh khắc nhìn cô, tôi có thể chắc chắn về điều đó hơn tôi từng chắc chắn về bất cứ chuyện gì.
“Eileen, lẽ ra tôi nên nghe...” Tôi thì thầm.
“Tôi không trách cô. Cô chỉ làm những chuyện mình phải làm, không cách gì thay đổi...”
Cô thả hai cánh tay, vốn để ngang eo, thõng xuống hai bên sườn. Chúng còn hơi đung đưa theo quán tính. Tôi nhớ một bên tay cô cầm một gói giấy nâu và nó cùng đu đưa ở thấp hơn.
“Ông ấy có...? Phải chăng ông ấy đã...?”
“Tôi không biết”, tôi thẫn thờ đáp. “Tôi không nghe được tin gì từ ông, tôi chờ đợi cả ngày... Chắc chắn ông ở trên chuyến bay đó. Tôi đã cố liên lạc với ông tối qua, ngay trước khi nó cất cánh, tôi đã hành động quá muộn...”
“Sẽ không có tác dụng gì đâu. Chuyện gì phải làm cô đã làm rồi, những gì xảy ra là không thể tránh khỏi.”
Bóng tối như sẫm hơn bình thường - thứ bóng tối ở bên trong, không phải bên ngoài. Tôi không nhìn rõ mặt cô phía trước. Ý chí, mong muốn - như một ngọn nến lập lòe cháy trong thứ bóng tối ấy - thấp dần, thấp dần, chảy đến giọt sáp cuối cùng. Những gì còn sót lại là bóng đêm vĩnh cửu, sự đặc quánh của định mệnh, của số phận. Nó bóp nghẹt lấy chúng tôi, cô ta và tôi.
Tôi chống chọi và vật lộn với nó, cởi đốm lửa cháy cao hơn một chút. Không! Không! Không! Có ý chí, có sự làm chủ quá trình, có ứng biến. Mọi chuyện không xảy ra theo vận số, chúng đến một cách tự nhiên. Và cho đến khi chúng xảy ra, chúng không được biết, chúng không được chờ đợi. Chỉ khi xảy ra, chúng mới bắt đầu tồn tại.
Cô ta nhìn tôi giãy giụa với vẻ ghê sợ đầy hiếu kì. Tôi biết cô không hiểu, cô nghĩ đó là sự sợ hãi hoặc là bi kịch của mất mát. Nhưng không phải vậy, đây là một cuộc chiến khác. Cuộc chiến tinh thần, là trận chiến sống còn của lí trí chống lại những thế lực của bóng tối, ngay trên những bậc thang bên ngoài một ngôi nhà gạch tầm thường.
“Hãy lên nhà tôi một lúc”, cô nói vẻ thương hại. “Cô ốm rồi, cô mệt mỏi...”
Tôi cương quyết lắc đầu. Ngọn lửa lại đang chìm xuống, tôi cảm nhận được nó. Chẳng còn năng lượng nào để tiếp cho nó nữa.
“Giá như ông không lên chuyến bay. Giá như ông đợi sang tuần...”
“Ông ấy phải đi”, cô ta nhẹ nhàng nói, “cũng giống như cô phải đuổi việc tôi. Cũng như cô phải gọi lỡ ông trên điện thoại. Vì thế mà tôi thật ngu ngốc khi cố gắng nói ra. Nhưng rất khó để rút kinh nghiệm, ta cứ quên hoài…”
Tôi bịt chặt hai tai, cố chặn lời cô lại, lắc đầu quầy quậy. “Không! Không! Đó không phải sự thật! Tôi không nghe đâu! Ông không phải đi. Bất cứ thứ gì cũng có thể ngăn ông lại, dù là vật nhỏ bé nhất, như cọng rơm trong cơn gió...”
“Không gì có thể ngăn được ông ấy. Vấn đề nằm ở chỗ cô không biết, cô không tin. Tôi cũng đã mất một khoảng thời gian dài. Cô thấy tôi đã làm gì rồi đấy, tôi đã cố nói với cô, như thể làm thế sẽ ngăn được ông ấy vậy.”
Hai tay tôi buông thõng xuống. Cô không biết chuyện gì vừa xảy ra. Tôi không chắc chắn về bản thân mình nữa. Ngọn lửa vừa tắt. Bóng tối và sự tĩnh lặng bao trùm bên trong tôi, bên ngoài tôi và cả thế giới xung quanh tôi. Chẳng còn gì nữa để đấu tranh, để chống lại nữa.
Cô đứng nhìn tôi, không phỏng đoán. Có lẽ tâm trí cô đã bình thản hơn, cô không gắng sức nữa.
“Giá mà tôi giúp được gì cho cô...” Cuối cùng, cô lên tiếng.
Tôi ngẩng đầu nhìn cô, đoạn vươn tay nắm lấy vạt áo khoác của cô. “Người bạn này, con người này... Eileen, hãy đưa tôi tới chỗ cô ấy. Để tôi tìm hiểu xem có phải tất cả họ đã... Chẳng lẽ không còn một ai? Trong mười bốn người kia? Đó là lí do tôi đến đây gặp chị. Eileen, tôi phải được biết. Tôi không chịu đựng nổi nữa, cứ chờ đợi thế này, không biết... Nó như một lưỡi rìu, lúc nào cũng chực chờ rơi xuống.”
Tôi thấy cô cắn môi, tuồng như do dự.
Tôi ghì chặt áo cô, giật mạnh. “Eileen, thế cho tôi đi cùng chị vậy, để tôi tìm hiểu... Hãy bảo chị có một người bạn...”
“Phải”, cô đáp. “Ông ấy không thích bị tra hỏi như thế. Ông ấy sẽ không bằng lòng nếu biết tôi đã nói với cô. Ông không thích người khác, những người lạ ấy, biết về mình.”
Vậy là lần đầu tiên, tôi biết đó là một người đàn ông.
Vẻ mặt cô cho thấy cô đang mềm lòng. Cô ngọ nguậy với vẻ bối rối. Cô ngoái nhìn cánh cửa, rồi lại nhìn tôi. Rồi cô nghiêng đầu, ngó lên phía trên dọc theo mặt ngoài tòa nhà, tới những ô cửa sổ căn hộ của mình, tôi ước đoán, song đây chỉ là giả thuyết của tôi. Cũng có thể là cô đang tìm một cái cửa sổ vô hình nào đấy. Cuối cùng, cô lại quay trở về nhìn tôi.
Tôi càng khẩn nài. “Ít nhất là để biết, để chính tai nghe, tôi không chịu nổi việc chờ đợi vô vọng thế này. Eileen, tôi sẽ phát điên mất. Xin hãy giúp tôi, tôi xin chị, nếu chị có chút lòng trắc ẩn nào...”
Hẳn cô đã nhìn ra ý định của tôi, đã thấy người tôi hơi chùng xuống, chuẩn bị quỳ sụp trước mặt cô ngay bậc cửa đầy bụi bẩn của ngôi nhà tồi tàn. Cô vội vàng đỡ lấy và giữ tôi lại, bằng sự cứng rắn của sự xót thương. Đó là sự kiên quyết hiếm có chợt lóe, ngắn ngủi, đối với một tính cách như cô. Rồi nó lại tan biến, như một miếng mica lóe lên trong lớp lớp cát mềm.
“Chờ đã”, cô nói, “tôi sẽ...” Và cô ngoái nhìn ra sau, như một đứa trẻ dự định làm một chuyện mà nó không chắc được cho phép. “Cô chờ dưới đây, tôi sẽ thử tìm cách. Để xem tôi có thể nói chuyện với ông ấy không đã, ông ấy sẽ không thích những câu hỏi trực tiếp, nhưng có thể tôi sẽ tìm hiểu được điều gì đó cho cô...” Rồi cô vội vàng bổ sung. “Cô chắc là mình không sợ chứ? Cô chắc chắn muốn tôi làm điều đó chứ?”
“Có”, tôi hổn hển đáp. “Có. Kể cả tin xấu nhất. Bất cứ tin gì, tôi không quan tâm, chỉ cần tôi không phải trải qua chuyện này thêm bất cứ…”
“Vậy thì cô đợi tôi ngoài này. Sẽ tốt hơn nếu ông ấy không biết tôi đang tìm hiểu giúp một người khác. Ông ấy sống ngay trong ngôi nhà này...” Cô đưa cả hai tay nắm chặt cánh tay tôi, động viên tôi.
“Cho tôi biết liệu có còn cơ hội nào...” Tôi cầu khẩn. “Nếu tất cả bọn họ đều mất tích...”
“Tôi sẽ xuống nhanh nhất có thể”, cô thì thầm. Rồi cô quay khỏi tôi và đi vào trong, còn lại tôi nghiền ngẫm một mình trước ngưỡng cửa của nhà tiên tri.
Tôi nghe thấy tiếng chân cô đi lên, nhỏ dần rồi mất hút. Tôi tự nói với mình. Nghe thấy không? Đó chỉ là bước chân của một cô gái mệt mỏi, cực nhọc, làm việc trong một nhà máy hay cửa hàng nào đó, đi vào một khu nhà tập thể, thế thôi. Sao ngươi lại đến đây? Sao ngươi đứng đây chờ cô ta đem xuống cho mình một tin tức mà không ai ở đây có thể biết, không ai trong thành phố này có thể biết trong tối nay? Ngươi là đồ ngốc, đồ ngốc, sao ngươi lại dỏng tai lên để bắt lấy tiếng bước chân cuối cùng? Đó không phải tiếng bước chân vào một ngôi đền thiêng, đó chỉ là tiếng chân tầm thường lên một cầu thang ọp ẹp trong một tòa nhà mốc meo. Một âm thanh như bao bước chân của cư dân tòa nhà tạo nên, đi ra đi vào hàng ngày, hàng tối. Sao ngươi phải hong hóng thế?
Tôi bị bỏ lại đó một lúc lâu. Được rồi, tôi có thể thấy và biết những vấn đề của mình. Xe của tôi đang đỗ ở lề đường, lấp lánh trong bóng tối, với một gợn sóng nhỏ của nước sơn màu cam chạy từ mui xe đến chỗ bị ánh đèn từ cửa hắt vào. Một gợn sóng chưa từng di chuyển, tuy nhiên lại uốn lượn và dập dềnh như những con sóng bình thường. Tôi nhúc nhích một lần, từ chỗ đứng đến gần nó, đứng sát nó, hai tay dán chặt lên thành cửa xe, như thể tôi chao đảo và cần bám vào thứ gì đó để đứng thẳng. Đầu tôi nghiêng xuống, như ngắm nghía mặt đệm ở dãy ghế sau.
Phải, chiếc xe là thật, nó ở đó. Bàn tay tôi cảm nhận được nó, mắt tôi nhìn thấy nó, nhưng tôi vẫn phải ấn vào một cái nút cho ánh sáng bừng lên, thứ ánh sáng không sự tối tăm nào chịu được. Tuy nhiên nó vẫn bị bóng tối lấn át. Nó bất lực không xé được tấm màn phủ lên đôi mắt nhìn nó, tâm trí suy nghĩ về nó. Nó không thể đưa tôi ra khỏi vùng tối, chính tôi đã mang nó vào bóng tối với mình. Sức mạnh đối nghịch của nó bị tước mất, nó trở thành đồng minh với thứ bóng tối gothic* bao quanh tôi. Vì bóng tối đến từ bên trong, nên bất cứ thứ gì đến gần đều bị nó bao phủ. Y như người ta áp lên mắt một mảnh kính ám khói đen, ánh nắng rực rỡ nhất cũng trở thành ảm đạm.
Gothic: Phong cách kiến trúc bắt nguồn từ Châu Âu vào khoảng thế kỷ XII, ngoài ra còn gắn liền với khái niệm “bí ẩn và kinh dị”.
Mỗi người lại có một thế giới riêng của mình để nhìn vào. Cho dù người khác có đứng đúng chỗ anh đặt chân lên, đánh dấu bằng vạch phấn, anh ta cũng không nhìn thấy thứ mà anh thấy. Sẽ có hai góc nhìn khác nhau, không chỉ một. Hay ngoài kia có một thế giới khác trước mặt chúng ta? Có lẽ nó không ở bên trong, đằng sau đôi mắt và mở vào hư không, mà chỉ là một miền vô cực? Nhưng hướng suy nghĩ này sắp thành điên rồ rồi, tôi vội vã ngoảnh đi.
Một con chó nhỏ vô chủ xuất hiện trên con đường vắng, bước chân lon ton. Nó quay đầu chạy về phía tôi khi trông thấy tôi đứng đó. Nó hít hít giày tôi. Tôi nhìn xuống nó, mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi trong một lúc, từ dưới thấp. Nó vẫy đuôi một cái, tưởng nhớ đến sự thân thiện trong quá khứ, rồi lon ton chạy đi. Thân hình trăng trắng của nó mờ dần trong bóng tối và mất hẳn như một xoáy nước, không còn lại gì khi tâm dòng xoáy khép lại.
Ngươi cũng bị mắc bẫy như ta, tôi nghĩ. Ngươi phải xuất hiện vào đúng lúc này và đi qua đúng con đường này. Ngươi không thể xuất hiện vào lúc nào khác, không thể đi qua bất cứ con đường nào khác. Ngươi dừng lại, đánh hơi, vẫy đuôi, tất cả những hành động đó được sắp sẵn cho ngươi, được lên lịch cho ngươi, cách đây hàng trăm giờ đồng hồ, hoặc hàng trăm năm, ta cũng chẳng rõ. Chúng nằm chờ ngươi thực hiện, không cách nào thoát được, không quay đi đâu được, cho đến khi ngươi đến với chúng.
Phải, chúng ta đều sập bẫy, ngươi và ta. Nhưng ta bị nặng hơn ngươi, vì ít ra ngươi còn không biết ngươi phải làm những chuyện đó, còn ta giờ đây đã biết.
Tôi ngẩng gương mặt run rẩy khỏi đôi cánh tay đang vòng lại trên thành cửa xe khi nghe thấy tiếng chân cô chậm chạp đi xuống cầu thang. Âm thanh như được phóng đại, như thể có một cái kén rỗng bao quanh cô, khiến tận ngoài này tôi cũng nghe rõ. Song tiếng động không quá nặng nề hay gay gắt, nó giống tiếng lá khô thì thầm và rào rạo bị cuốn theo từng bước chân.
Tôi đứng sững một lúc, không thể buông chiếc xe ra, không thể điều khiển cơ thể mình. Tiếng rào rạo đã chạm đáy, dừng bặt. Khi tôi quay lại, cô đang đứng bất động trước cửa. Cô dựa vào một bên cửa, ngây ngô nhìn tôi, đầu chống vào bức tường gạch như thể nó đang đè lên đôi vai mình.
Ông mất rồi! Tôi thảng thốt. Mọi đường nét ủ rũ trên cơ thể cô thể hiện...
Vỉa hè dưới chân tôi như giật mạnh một cái, như thể có người kéo phăng tấm thảm anh đang đứng, khiến tôi nhào lên ngưỡng cửa bên cạnh cô.
“Tôi sợ lắm”, cô ta rên rỉ. “Mỗi khi nghe ông ấy nói, tôi đều không chịu đựng nổi...” Cô ôm chặt lấy người mình. “Bụng tôi trở nên lạnh toát...”
Tôi có thể thấy răng cô va lập cập vào nhau, môi cô cũng run bần bật, nên chắc hẳn là vậy.
“Ông ấy biết, ông ấy đã biết… Cô thút thít. “Trước cả khi tôi gom đủ dũng khí để nói được câu gì. Có thể ông ấy biết qua vẻ mặt tôi. Nhưng cái đó cũng luôn làm tôi thấy sợ. Chắc chắn ông ấy biết cô ở dưới này. ‘Xuống nói với cô ta…’, ông ấy bảo thế.”
“Chắc ông ấy nhìn thấy chiếc xe từ cửa sổ.” Tôi không nghĩ mình đã thốt ra thành tiếng, nhưng hẳn là tôi đã làm vậy, vì tôi nghe thấy cô trả lời.
“Phòng của ông ấy ở phía sau nhà.”
Mắt tôi chợt hoa lên, một cành cây trôi trên dòng sông tối quất vào tôi, suýt va vào đầu. Tôi bám vào cô, như một người đích thực sắp bị nhấn chìm và cuốn đi, hai bàn tay túm mép áo cô kéo về phía mình.
“Gì cơ?” Tôi thở dốc. “Eileen, gì cơ?”
“Họ đều đã chết. Cả mười bốn người. Không một ai sống sót.”
Bóng tối như một ngọn roi lạnh, quấn quanh cổ họng tôi, từ từ thít lại.
Giọng cô vẳng đến từ xa xôi, dường như nó phải đi một đoạn đường dài mới đến được chỗ tôi. Giờ đến lượt cô giữ lấy tôi. Chúng tôi ở sát nhau, song giọng cô lại ở rất xa. “Sau đó ông ấy nói, ‘Nhưng bảo cô ta là cô ta sẽ gặp lại bố mình.’ Cô có nghe thấy tôi nói không, cô Reid? Cô có hiểu tôi đang nói gì không? Ông ấy đã nói, ‘Bảo cô ta về nhà đi, cô ta sẽ nhận được tin.”'
“Nhưng ông đã ở trên đó. Tôi biết vì tôi đã gọi điện chậm một giây, máy bay đã cất cánh, và ông ở trên đó. Nếu không còn ai sống sót thì...”
“Nào, để tôi đưa cô ra xe. Hãy làm theo lời ông ấy, về nhà đi...”
Tôi đã ở trong xe. Cô ta đứng nhìn tôi. Tôi thấy lờ mờ gương mặt cô.
“Cô ổn chứ? Tôi lấy cho cô thứ gì nhé? Cô có lái xe được không?”
“Chắc là được”, tôi mơ hồ đáp. “Không cần làm gì nhiều, chỉ cần nhấn chân xuống và giữ chắc vô lăng...”
Gương mặt cô trượt dần về đằng sau trong bóng tối, hẳn là tôi đang lái xe.
Tôi sẽ gặp lại bố. Ôi đúng, tôi cho là vậy, nhưng bằng cách nào? Một cái xác trên cáng, được đưa xuống từ máy bay mấy ngày nữa?
Hai vấn đề mâu thuẫn nhau. Nếu tất cả họ đều chết trên chiếc máy bay đó thì ông cũng vậy. Nếu tôi gặp lại ông còn sống, thì không phải tất cả đều chết. Và trong hai, tôi nghiêng về giả thiết thứ nhất.
Tôi dừng đèn đỏ trước một ngã tư nhộn nhịp. Tôi ắt sẽ không dừng cho dù có đèn, nhưng chiếc xe trước mặt dừng nên tôi phải dừng theo, từ từ húc vào nó cho đến khi tôi nhớ ra mình phải phanh. Một chiếc xe khác xuất hiện bên cạnh ở làn ngoài và dừng ngang hàng xe tôi. Tôi nghĩ đó là một chiếc taxi, tôi không biết nữa. Bài tường thuật đều đều, đứt quãng về một trận đấu quyền anh phát oang oang trên radio của chiếc xe. Tài xế và hai hành khách ngồi sau đồng loạt chụm đầu tới trước hóng lấy từng chữ.
Đột nhiên, bài tường thuật bị ngắt, một giây im lặng, rồi một giọng nói vang lên rành rọt như hồi chuông báo tử. “Chúng tôi xin cắt ngang chương trình để thông báo một tin mới nhận được. Các đội cứu hộ mặt đất đã tới được hiện trường vụ tai nạn của chuyến bay nội địa. Chính thức xác minh không còn người nào sống sót. Thi thể của những người ở trên chiếc máy bay khi nó cất cánh từ trạm dừng cuối cùng đến giờ đã được thống kê. Một số người được tìm thấy cách rất xa...”
Tiếng còi xe kêu ầm ĩ sau lưng tôi. Đèn đỏ đã hết từ lâu, chiếc xe đằng trước đã phóng đi, chiếc taxi bên cạnh đã phóng đi. Xe của tôi đang nằm ì giữa đường, chặn đứng luồng giao thông.
Thật dễ dàng, chẳng cần nhớ nhiều. Chỉ cần nhấn nhẹ chân, như thế, và giữ cho vô lăng xoay từ từ. Và trong lúc chờ về đến nhà để khóc òa lên, hãy giữ gương mặt cứng đơ vô cảm như thế.
Anh không chắc đó là nhà, ngay cả khi đã đỗ xe trước nó. Bàn tay trên vô lăng tự dẫn đường cho anh, chúng không có mắt, chỉ dựa vào trí nhớ. Anh nhìn hai lần cho chắc, song thế vẫn chưa yên tâm. Nhưng rồi cửa mở, mọi người đứng đó chờ đón anh, thế nên anh biết rốt cuộc mình đã về đúng chỗ.
Tất cả đều đứng trên thềm chờ tôi khi tôi bước vào. Tất cả đều nhìn tôi bằng ánh mắt bất lực người ta vẫn nhìn khi họ muốn nói với anh điều gì đó mà không biết mở lời ra sao.
“Tôi biết rồi”, tôi lẳng lặng nói. “Tôi vừa nghe được trên đường.”
Một cánh tay ngập ngừng đưa về phía tôi, tôi bảo. “Không, tôi có thể tự lên gác. Cho tôi qua nào, làm ơn tránh đường...”
Ai đó không nén được và thổn thức sau lưng tôi, bị một người khác trấn áp bằng tiếng suỵt nhỏ. Tôi đoán là bà Hutchins.
Giá mà họ đừng đứng dàn hàng nhìn tôi đi lên, tôi biết mình có thể đi khá vững vàng. Đã được năm bậc, không chao đảo, và chỉ đặt một tay lên tay vịn.
“Cô Reid.” Có tiếng gọi rụt rè trong đám người.
Tôi quay đầu lại, đó là Signe. Tôi ắt chẳng biết, nhưng cái vụt tay tức giận của bà Hutchins nhằm chặn lời cô ấy đến quá muộn, khiến cô ấy bị lộ.
“Gì vậy?”
“Cái này cũng được gửi đến.”
Tôi nhìn nơi ánh mắt họ cùng dồn vào, không dám chạm đến nó. Một chiếc phong bì màu vàng nhạt để nơi mép bàn, một góc phong bì thò ra.
Bức điện báo tử. Thông báo chính thức.
“Đưa cho tôi”, tôi nói. “Tôi sẽ đem nó lên.”
Bà Hutchins chộp lấy chiếc phong bì và chạy ba bậc thang lên trao trực tiếp cho tôi.
Tôi quay đi, bước lên một bậc. Rồi một bậc nữa. Khó nhọc hơn. Bức điện như nặng trĩu.
Tôi lại dừng lại. Có tiếng xé giấy, ngón tay tôi lùa qua mép gấp của nó. Chiếc phong bì rơi xuống qua thành lan can.
Màu mực tím đã mờ, những chữ cái in hoa nhòe đi. Nhưng khi tôi căng mắt nhìn, nó lại ghép lại thành dòng ngay ngắn.
Vừa hay biết. Đừng lo, không làm sao. Ở lại vì công việc. Ngày kia sẽ về bằng tàu hỏa.
Bố.
Tôi lại nghe thấy tiếng bà Hutchins, nó như vọng lên từ bức điện, như thể bức điện đang nói. Nhưng có thể là do bức điện, cả bản thân tôi, đang rơi thẳng xuống những bậc thang phía dưới nơi bà đứng.
“Mau mau! Ai giúp tôi đỡ cô ấy! Mấy người không thấy cô ấy ngất xỉu rồi hay sao!”
Trong lúc ở nhà ga chờ tàu đến, thoạt tiên tôi nghĩ sẽ kể ngay lập tức với ông, đó sẽ là điều đầu tiên bật khỏi miệng tôi. Và rồi tôi trông thấy ông đi qua cổng, thấy thấp thoáng chiếc áo khoác lông lạc đà qua lớp lưới mắt cáo giăng ngang, bị phân ra làm nhiều mảnh, kết lại thành hình dáng ông và rẽ đám đông cuồn cuộn đi về phía tôi. Khi chạy tới lao vào vòng tay ông và ôm chặt ông, tôi không nói được lời nào. Câu chuyện hay bất cứ cái gì khác. Chỉ dựa vào ông, cảm nhận vòng tay ông, vậy là đủ. Thật quá đỗi ấm áp và an toàn khi áp mình vào áo khoác của ông. Ở đó không có bóng tối, không có những ngôi sao nhìn xuống. Chỉ có khuôn mặt ông, chỉ có hơi thở ấm áp của ông ở trước mắt mà thôi.
Chúng tôi đứng nhìn nhau, cho đến khi đám đông đổ ra đã tản mát chỉ còn thưa thớt. Rồi những người chậm chạp cuối cùng đã lần lượt đi qua và rẽ sang các ngả, chỉ còn chúng tôi ở đó, nổi bật giữa không gian rộng lớn và u tối, quên hết xung quanh, theo cách những trụ cầu và đá tảng hiện ra khi mực nước quanh chúng rút xuống.
“Nhìn con khác quá”, ông nói với vẻ xót xa.
Ông đón lấy cằm tôi, định nâng mặt tôi lên nhìn cho rõ. Tôi trì lại.
“Đừng đứng đây nữa”, tôi nói với vẻ nghèn nghẹn. “Chúng ta ra ngoài và rời khỏi đây thôi.”
Chúng tôi sóng bước ra khỏi nhà ga, vẫn khoác tay nhau.
“Con đợi có lâu không?” Ông hỏi.
“Từ sáng ạ.”
Bước chân đều đều của ông nhất thời khựng lại.
“Nhưng đây là chuyến tàu lúc chín giờ, bố tưởng con biết rồi chứ.”
“Con biết, chính vì thế mà con phải đến đây ngay, cho dù tàu mới chỉ rời ga. Đó là cách duy nhất khiến đoàn tàu chuyển bánh nhanh hơn.”
“Con bé này”, ông lẩm bẩm.
Cho đến giờ, ông vẫn chưa nhìn rõ mặt tôi, chỉ lướt qua khi chúng tôi ôm chầm lấy nhau trong kia. Hiện tại ông đã thấy, trong dòng ánh sáng ban ngày ngập tràn giữa cửa nhà ga và chiếc xe. Ông không nói gì, chỉ dừng lại một lúc, nét mặt thoáng thay đổi, sau đó lại đi tiếp. Chúng tôi đi cùng nhau, tay chúng tôi khoác sau lưng nhau, tay tôi luồn qua lớp áo choàng buông chùng của ông.
“Lái xe hả?” Ông nói khi tôi đóng cánh cửa lại sau lưng.
“Vâng, đi thôi ạ.”
Bàn tay chúng tôi cùng đặt lên vô lăng.
“Tay con lạnh thế.”
“Chúng lạnh suốt ba ngày nay đấy.” Tôi hà hơi vào hai bàn tay. “Giờ chúng ổn rồi.” Tôi luồn một tay qua dưới cánh tay ông, tay kia vòng ra bên ngoài, ngoắc chúng vào nhau.
“Con phải chịu khổ rồi”, ông khàn khàn nói, sầm mặt nhìn dòng xe phía trước.
Ông không nói gì thêm cho đến khi chúng tôi đi gần hết quãng đường và gần về tới nhà.
“Con ra nông nỗi này bao lâu rồi? Bố đã cố đánh điện cho con nhanh nhất có thể. Thời gian gián đoạn giữa tin tức và bức điện dài lắm sao?”
“Không phải”, tôi đáp ngắn gọn. “Không phải chuyện đó, không phải vụ tai nạn.”
Ông ngẫm nghĩ hồi lâu, tôi nhận ra ông đang bối rối.
“Jean”, ông nói một cách lo lắng, “con là một cô gái khác thường. Bố chịu không hiểu nổi, cứ như thể bố đã đi mười năm không bằng.
Tôi muốn nói mình không phải là đứa khác thường, chỉ vì cái thế giới tôi đang sống là một thế giới khác thường mà thôi.
Tất cả đều mừng rỡ khi gặp lại ông. Họ nói ra điều đó bằng đủ các cung bậc cảm xúc. Nhưng khác một điều rằng đối với họ, chuyện đã kết thúc, họ quay về với cuộc sống thường ngày. Nhưng tôi thì không. Tôi không bao giờ trở lại như trước đây được nữa.
Weeks cất mũ và áo khoác của ông theo một cách đặc biệt, vắt áo khoác qua cánh tay một cách gần như nâng niu, như thể chúng rất mong manh và quý giá. Đó là cách thể hiện của ông ấy. Bà bếp nói, “Tôi đã làm cho ngài một mẻ bánh muffin phủ đường mật đó.” Nói đến đây, mắt bà ươn ướt hơn cả chiếc bánh muffin ngon lành nhất. Bà Hutchins ra những mệnh lệnh ồn ào không cần thiết cho những người còn lại, giải tán họ với một vẻ nghiêm nghị hiền hòa.
Nhưng họ thật may mắn, tất cả bọn họ. Với họ, chuyện đến đây là hết.
Chúng tôi đi vào ngồi xuống bàn ăn sáng. Bố tôi thốt lên, “A, thật dễ chịu!”, và xoa xoa hai tay một cách phấn khởi. Ánh nắng như lớp phấn hoa vàng nhạt phủ khắp khăn trải bàn, viền lên cả vai và tay áo ông. Đồ thủy tinh sáng lên lấp lánh, có một gương mặt hơi phình lên trong ánh phản chiếu của chiếc bình thủy tinh gần nhất đang dòm lại tôi. Ông lật lật chồng thư từ, không mở xem cái nào.
Tôi chờ đợi. Sớm muộn gì nó cũng phải xuất hiện.
Nó ở đó, nó phải xuất hiện. Ánh nắng không thể làm nó tan rã. Sự trở về của ông không thể khiến nó phân hủy. Nó như lớp băng bao bọc trái tim tôi, cần đến một cái đục và kẹp để bẩy nó ra.
“Jean”, ông hỏi, “đã xảy ra chuyện gì với con vậy?”
Cả hai chúng tôi đều ăn chậm rãi. Rồi chúng tôi cùng ngừng ăn, trước khi bữa ăn kết thúc hoàn toàn. Tiếng lanh canh của đĩa tách dừng lại và chúng tôi im lặng, chỉ nhìn nhau.
“Bố”, tôi nói đột ngột. “Con phải nói chuyện này. Con phải nói chuyện này với bố. Có cố kìm nén cũng vô ích. Lúc nào con cũng nghĩ đến nó, ban ngày, ban đêm. Nó phải được kể ra!” Tôi đấm tay xuống mặt bàn, lần thứ nhất, lần thứ hai rồi lần thứ ba, nhẹ dần.
Ông bật dậy và đi vòng qua bàn tới chỗ tôi, đứng cạnh ghế, kéo đầu và vai tôi dựa vào ông. Tôi bám lấy ông, vùi gương mặt vào áo ông.
“Nhưng nó đã qua rồi, Jean. Kết thúc rồi, con hãy nghĩ theo chiều hướng ấy.”
“Con đã định nói với bố trước khi lên xe. Đó không phải là tai nạn, không phải sự thoát hiểm.”
“Thế thì là gì? Con có liên quan gì đến nó?”
“Con đã được nghe về nó trước khi nó đến. Có một người đàn ông trong thành phố này bảo nó sẽ xảy ra. Và nó đã xảy ra.”
“Ôi không, Jean”, ông dịu giọng vỗ về. “Câu chuyện của cô hầu mà con nhắc đến hả? Bố nhớ ra rồi. Không phải đâu, con yêu. Con quá nhạy cảm, quá cả nghĩ…
“Tối hôm nọ, con đã đến đấy. Và con được nghe một phần của nó, rằng bố sẽ không sao. Rồi con về nhà và nhận được bức điện của bố.” Tôi rùng mình.
Lần này, ông không trả lời. Một bàn tay ông rời khỏi tôi, bằng một cách nào đó, dù cho không cần nhìn lên, tôi vẫn biết ông đang xoa cằm một cách trầm ngâm.
“Sao bố lại ở lại?” Sau một lúc, tôi hỏi.
Ông hơi giật mình, cái giật mình của người đang mải mê suy nghĩ.
“Bố nhận được một bức điện vào phút cuối, đúng lúc định lên máy bay. Thực ra bố nghĩ hành lí đã ở trên đó rồi, bố nghe thấy tên mình qua loa phóng thanh...”
Nỗi sợ hãi như một con dao nhọn hoắt. Nó đâm vào, xoáy tròn trong da thịt ta. Rồi nó rút ra. Nhưng vết đâm thì còn đau mãi.
Tôi đã định gửi một bức điện. Tôi đã xóa đi viết lại hai lần. Nhưng chưa hề gửi đi.
“Ôi lạy Chúa!” Tôi nói bằng giọng hổn hển, yếu ớt đưa tay đỡ lấy trán.
“Sao thế?”
“Con tưởng mình không gửi nó đi... Con biết mình đã không gửi...”
Ông nắm hai vai tôi, trấn an. “Không phải do con gửi.”
Tôi cảm thấy đầu mình rũ xuống, như quả dưa hấu chín nẫu rũ khỏi dây leo. Tôi nghe thấy hơi thở mình trút ra kiệt sức.
Giọng ông đanh hơn, tôi nghe thấy ông nói, “Bố không thích kẻ nào làm chuyện này với con. Bố sẽ khiến cho hắn phải cảm thấy nhục nhã. Bố không thích chúng giở trò với con gái bố…”
Rồi, như sực nhớ tôi vẫn còn đấy và có thể nghe được những suy nghĩ thành lời của mình, ông vuốt vuốt tóc tôi.
“Sẽ ổn cả thôi”, ông nói nhẹ nhàng. “Chúng ta sẽ đến đó, và bố sẽ cho con thấy. Chuyện chẳng có gì hết.”
Cô hoảng sợ, tôi thấy được điều đó. Không phải sợ chúng tôi, mà là điều chúng tôi sắp hỏi, điều mà cô biết là mục đích chúng tôi đến đây. Cô thụt lùi khỏi cửa khi thấy chúng tôi, không kịch liệt, nhưng co rúm lại.
Cô lắp bắp. “Chào cô! Chào ngài?” Rồi cô đưa hai bàn tay ôm ghì lấy phần trên hai cánh tay, tuyệt vọng nhìn quanh, nhìn ra đằng sau, như cố huy động sự trợ giúp từ ai đó đang ở nhà cùng với mình.
Tôi nói, “Chúng tôi có thể vào được không, Eileen?”
“Vâng, vâng, mời vào.” Cô kéo cái tay ghế, nhưng không đủ để mở lối.
Bố tôi muốn trấn an cô, bèn mỉm cười hỏi, “Chào cô, Eileen? Dạo này cô thế nào?”
“Tốt ạ”, cô đáp hụt hơi. “Rất tốt, thưa ngài.” Và cô lại động vào cái tay ghế, lần này để dịch nó về chỗ cũ.
Rồi cô co người lại, hơi nghiêng mình vào nó, như thể mất thăng bằng và đôi chân không đỡ được thân mình, như hành động của một đứa trẻ khi tinh thần bất an.
Tôi và ông nhìn nhau. Cách tốt nhất là nói luôn một lần cho xong. “Chúng tôi có thể gặp ông ta không?” Tôi hỏi. “Chúng tôi có thể nói chuyện với người bạn của chị không?” Tôi xuống giọng khi hỏi, nghĩ rằng làm vậy có thể truyền cho cô chút tự tin.
Cô bặm chặt môi dưới một lúc, người ta thường làm thế khi nhăn mặt đau đớn. Rồi cô nhả nó ra, lao qua giữa hai chúng tôi tới cửa, gần như nhẹ nhõm, như biết trước chuyến đi của mình sẽ không có kết quả. “Để tôi xem ông ấy về chưa”, cô đề xuất. “Tôi sẽ lên đó gõ cửa. Tôi chưa nghe thấy tiếng ông ấy đi qua, nên tôi nghĩ ông ấy vẫn chưa về.”
Cô chạy đi mà không khép cửa, để lại một lối hẹp. Chúng tôi nghe thấy tiếng giày của cô lạo xạo trên cầu thang bên ngoài.
Mẹ cô xuất hiện ở khoảng mở giữa các phòng và ngó ra. Bác ta đang cầm một cái đĩa và chầm chậm xoay nó giữa những nếp khăn lau.
“Xin chào.” Bác nói một cách lạnh nhạt. Cái đĩa dừng xoay trong lúc mắt bác nhìn chúng tôi, sau đó lại xoay tiếp.
Bố tôi gật đầu niềm nở, tôi chào đáp lễ bác.
Cánh cửa khép lại, Eileen đã quay về. Cô đã bình tĩnh hơn lúc nãy. Đối với người nhút nhát, sự trì hoãn là một phương thuốc tốt. “Ông ấy không trả lời, ông ấy chưa về đâu.”
Từ trong nhà, mẹ cô cằn nhằn. “Cái gì, con định đưa họ lên để khoe khoang năng lực của ông ấy à? Con không nên làm thế. Con thừa biết là ông ấy không thích.”
“Không phải lỗi của Eileen đâu”, tôi can thiệp.
“Chúng tôi đã yêu cầu được gặp ông ấy.”
“Tôi muốn biết ông ấy”, bố tôi nói với vẻ hòa nhã thoải mái, vờ như không để ý đến sự lạnh nhạt của họ. “Tôi muốn nói chuyện với ông ấy. Chắc không hại gì, phải không?” Ông nhìn quanh và chọn một cái ghế. “Chúng tôi có thể ngồi đợi được không?”
“Vâng, được.” Eileen nao núng. Nhưng hành động đã đi trước lời nói. Trong nỗ lực đuổi khéo cuối cùng, cô vặn vẹo hai tay vào nhau với vẻ lo lắng. “Mong là ông ấy không đi quá lâu. Chắc ông ấy chưa về ngay được.”
“Chúng tôi không vội”, bố tôi đáp. “Tôi cảm thấy được ông ấy tiếp chuyện là một dịp quý giá.” Ông bắt đầu bóc lớp giấy bọc điếu xì gà và ngắm nghía quá trình với một phong thái thong thả và nhàn hạ ông có thể khoác lên nếu muốn. Nó tạo thành hàng phòng thủ vững chắc trước những luồng tấn công bên ngoài. Tôi từng trông thấy những người khôn ngoan hơn bị nó vô hiệu hóa, một mánh khóe có thể coi là tài tình.
“Cô không phiền nếu tôi hút thuốc trong phòng khách chứ?” Ông kẹp lưng chừng điếu xì gà đã bóc vỏ.
“Ồ, không phiền gì, thưa ngài!” Eileen vội vã thốt lên. “Ngài cứ tự nhiên.” Cuối cùng, cô đã ở vị thế khác, nghĩa vụ hiếu khách của một chủ nhà. Cô nhanh nhảu đặt cái gạt tàn bên cạnh ông, rồi lại đứng lùi ra sau, thở dốc vì sự sốt sắng của mình.
Nhìn ông, tôi tự hỏi đã bao nhiêu năm rồi ông mới lâm vào tình cảnh không được chào đón mà vẫn bất chấp ở lại như vậy. Có lẽ là rất rất lâu. Có lẽ hồi thanh niên, ông đã ngồi trong một hoặc hai văn phòng như thế này, kiên trì bám trụ, mặc kệ bị lạnh nhạt, cho đến khi đạt được mục đích, ký kết giao dịch mà mình quyết tâm ký kết. Nhưng chắc chắn từ đó trở đi thì không, trong suốt mấy chục năm từ những ngày đầu bỡ ngỡ ấy. Tuy nhiên, biệt tài của ông không hề mai một.
Tôi ngồi ghé lên tay ghế, đặt tay lên vai ông, tăng thêm sự xuề xòa và thân thiện cho sự hiện diện của chúng tôi.
Bà mẹ quay người đi vào trong, coi như chấp nhận chúng tôi ở lại. Eileen đứng thẳng đơ sát tường một, hai phút, như dán chặt vào đó, như thể bị sự hiện diện của chúng tôi đẩy bạt ra đó. Dường như nhận thấy tư thế của mình thật kỳ khôi, cô bèn làm một động tác vụng về hơn là cải thiện, rón rén trượt xuống cái ghế đẩu gần nhất và ngồi ghé lên một cách cứng nhắc, quá xa mặt ghế và quá thẳng đuỗn để được gọi là nghỉ ngơi hay thư giãn.
Sự im lặng buông xuống căn phòng, không ai nói chuyện.
Tiếng chân vang lên, bà mẹ xuất hiện trở lại, lần này bước hẳn vào phòng, mang theo một chồng đĩa. Bác ta đặt chúng xuống bàn. Rồi bác mở một cái tủ nhỏ kiểu Trung Quốc kê sát tường, bắt đầu xếp từng chiếc đĩa vào, chia theo kích cỡ, hình dạng và chức năng.
“Xong hết rồi, chỉ còn chỗ dao dĩa thôi.” Bác nói với Eileen.
Cô nàng bật dậy khỏi ghế với sự hoạt bát xuất phát từ mong ước thoát khỏi chúng tôi và căn phòng, chứ không phải bởi ý ra lệnh hay sai khiến - vốn không hề tồn tại - trong câu nói.
“Để con làm nốt cho”, cô đề nghị, rồi chạy bay ra ngoài.
Bà mẹ tiếp tục xếp từng cái đĩa trong im lặng, làm ngơ chúng tôi.
“Bác có tin vào năng lực của ông ấy không, bác McGuire?” Tôi đột nhiên hỏi.
“Nó có sẵn.” Bác không quay lại nhìn tôi.
“Bác biết ông ấy lâu chưa?”
“Lâu rồi.” Bác đáp gọn lỏn.
Tôi không nghĩ bác ta sẽ tiếp tục, với thái độ đầy kỳ thị ấy. Bác nhấc một cái đĩa lên và lấy tạp dề lau quanh vành đĩa. Rồi đột nhiên bác nói tiếp, như chưa hề gián đoạn.
“Chúng tôi là bạn thuở nhỏ, ông ấy và vợ chồng tôi. Chúng tôi hay chơi với nhau, là người cùng làng.” Xong bác lại dừng.
Phải hỏi cho rõ. Nếu bố tôi không hỏi, tôi ắt sẽ hỏi.
“Lúc ấy ông ấy đã có nó chưa?”
“Tôi nghĩ là có. Ông ấy luôn có nó.”
“Bà nhận thấy à?”
“Làm gì có chuyện? Trẻ con không nghĩ được nhiều như thế.”
“Nhưng hẳn phải có lần đầu tiên chứ?” Bố tôi kiên trì.
“Vào một ngày, năm ông ấy mười hai tuổi, ba chúng tôi đang chơi trên một sườn đồi. Dưới chân đồi là trang trại của làng chúng tôi, trải rộng bên dưới như tấm khăn trải bàn. Bỗng nhiên, ông ấy ngừng chơi và nói, ‘Tớ phải xuống dưới kia. Kho cỏ nhà tớ bị cháy.’ Chúng tôi quay lại nhìn, Frank và tôi. Có thể nhìn thấy rất rõ, ngày hôm ấy trời quang đãng.”
Tôi đang chống đầu nhìn xuống sàn. Bố tôi ngừng hút thuốc. Chúng tôi đều sợ bác dừng lại.
‘Đâu có’, hai chúng tôi bảo. Bầu trời bên trên trong veo, không một vẩn khói.
Ông ấy đã chạy xuống. Chúng tôi co cẳng chạy theo. Tới chân đồi vẫn không có hiện tượng gì. Nhưng đúng lúc chúng tôi đặt chân tới nhà kho, làn khói trắng đầu tiên luồn ra từ dưới cửa kho và trở nên dày đặc trong vòng một phút. Khói tuôn ra từ mọi khe hở.
Mọi người từ trong nhà và ngoài đồng chạy đến, giúp chúng tôi dập lửa. Chúng tôi đã cứu được cái kho. Tôi nhớ sau đó, khi chúng tôi đang nằm vật ra đất nghỉ, Frank nói với ông ấy, ‘Mắt cậu tinh thật đấy, nhìn từ trên kia chẳng thấy gì.’
Ông ấy nhấm nhấm một cọng rơm và đáp, ‘Tớ không nhìn thấy. Tớ chỉ biết nó sắp bị cháy thôi.'
Chúng tôi không cười ông ấy, vì ông ấy đã đúng. Chúng tôi hỏi, ‘Làm sao cậu biết được?’ Ông ấy nói ngay bản thân cũng không biết làm sao mình biết. Chúng tôi thấy ông ấy nheo mắt nhìn mặt trời, cố gắng suy nghĩ. Sau đó, ông ấy nói, nguyên văn, tôi chưa bao giờ quên: ‘Tớ bất chợt nghĩ đến nó khi leo lên đồi. Mỗi lần nghĩ đến điều gì, thường có hình ảnh đi theo, điều mình nghĩ hiện ra trước mắt. Nếu nghĩ đến một cái cây, trong giây lát hình ảnh cái cây liền hiện ra. Nếu nghĩ đến một ngôi nhà, hình ảnh ngôi nhà liền hiện ra. Tớ tình cờ nghĩ đến nhà kho nhà tớ và đùng một cái, trong đầu tớ trở nên trắng xóa, như có một thứ ánh sáng cực mạnh chiếu vào. Tớ thấy cảnh nhà kho đang bốc cháy, nó hiện ra trong đầu rõ mồn một. Tớ nhìn xuống, thấy nó vẫn chưa cháy, nên tớ biết như thế nghĩa là nó sắp cháy.”'
Không có âm thanh nào phát ra từ hai chúng tôi. Bố tôi đã hứng tàn thuốc vào lòng bàn tay, để chúng ở yên đây. Không người nào trong chúng tôi nhúc nhích. Cuối cùng, ông lật tay trút tàn thuốc vào cái gạt tàn dành cho nó.
Tôi vẫn nhìn xuống sàn. Bác ta kể hết sức đơn giản. “Làm sao nó có thể là bất cứ cái gì khác ngoài sự thật rành rành?” Tôi nói với mình. Làm sao có thể là một mưu đồ, một sự diễn kịch qua câu chuyện bác vừa kể cho chúng tôi?
Bác đã xếp xong cái đĩa cuối cùng. Bác đóng cửa tủ, đoạn nán lại phủi bụi cái núm cửa thủy tinh nhỏ bằng tạp dề, lần lượt tất cả các núm cửa. Bác làm một cách lơ đãng, như thể tâm trí đang ở tận đâu đâu.
Trong im lặng, bỗng vang lên tiếng loảng xoảng của đồ bạc, vẳng ra từ chỗ Eileen bên trong. Nghe xa lạ như ở một không gian khác.
Bác vừa tiếp tục lau núm cửa vừa nhìn xuyên qua căn phòng, nhìn vào quá khứ, tới hồi ức về những điều đang kể.
“Sau đó xảy ra rất nhiều chuyện tương tự. Không có cái nào đột ngột và đáng chú ý bằng. Nhưng đó là lần đầu tiên nó xảy ra. Không cần thiết kể cho hai người phần sau nữa.”
“Những người khác có biết chuyện không?” Bố tôi hỏi.
“Một số, không nhiều. Lời đồn dần dần lan quanh vùng, trong những người biết chúng tôi.”
“Họ cảm thấy thế nào?”
Bác nhún vai. “Tôi không biết. Chắc là như chúng tôi thôi. Họ cũng như chúng tôi, đều là người chân chất. Nó là một điều chúng tôi không thể hiểu. Chúng tôi chấp nhận việc ông ấy có được món quà mà người khác không có, nhưng ngoài cái đó ra, chúng tôi không cảm thấy ông ấy khác biệt với bất cứ ai. Chẳng có gì ở ông ấy khiến chúng tôi cảm thấy như vậy. Bố ông ấy thỉnh thoảng vẫn bạt tai ông ấy, như những gì ông bố khác làm với con trai họ sau ngày hôm đó. Không khác gì.”
“Người ta không tìm cách lợi dụng, tranh thủ món quà của ông ấy sao, theo cách bà gọi?”
“Lúc đầu cũng có vài người. Những phụ nữ mang thai thỉnh thoảng tìm đến, muốn biết họ sẽ sinh con trai hay con gái. Một người hàng xóm hỏi vụ mùa năm nay của mình có trúng không. Những chuyện đó ông ấy không ngại, nếu họ thành thật với ông ấy. Nhưng khi người ta đến vì tính hiếu kỳ, chỉ thử ông ấy để lấy làm trò đùa thì ông ấy không chịu nổi. Ông ấy đau đớn và xấu hổ, tôi không biết nói sao nữa, giống như bị trưng ra triển lãm vậy. Đến một ngày, ông ấy bỏ chạy khỏi bọn họ và tìm cách treo cổ mình. Frank tìm thấy ông ấy trong nhà kho và cắt dây kịp thời. Sau đó, chúng tôi che chắn cho ông ấy. Chúng tôi không cho người ngoài biết chuyện nữa, chúng tôi để ông ấy được yên.”
“Ông ấy sống một mình ở đây?”
“Một người như ông ấy luôn sống một mình. Frank và tôi chuyển lên thành phố sau khi chúng tôi kết hôn một năm, không lâu sau ông ấy cũng đi theo chúng tôi. Bố mẹ ông ấy qua đời, ông ấy bán hết nhà cửa đất đai. Chúng tôi là những người bạn duy nhất của ông ấy. Ông ấy biết đi đâu được? Ông ấy làm gì được?”
Bố tôi nói chậm rãi, trầm ngâm. “Nhưng ông ấy có thể có mọi quyền lực, với một món quà như thế. Ông ấy có thể giàu có và...” Ông quay sang nhìn bác ta với vẻ bất lực. “Tại sao?”
“Ông ấy là người tốt”, bác trả lời đầy sùng kính. “Ông ấy nhận những gì Chúa trao tặng, không đòi hỏi thêm.”
Chúng tôi lại rơi vào im lặng một lúc. Bố tôi quan sát bác rời khỏi những núm cửa đã được chăm chút rất lâu, đi qua phòng, cuối cùng dừng lại trước cái bàn, cúi nhìn nó như đang soi bóng mình qua mặt bàn đánh bóng.
“Nó là gì, bà McGuire? Bà nghĩ sao về nó?”
“Đó không phải việc của tôi”, bác đáp. “Không phải cái để tôi tò mò. Lúc nhỏ tôi đã không thắc mắc, giờ về già cũng vậy. Ông ấy chưa bao giờ dùng nó để hại tôi hay bất cứ ai mà tôi biết. Đó là ý muốn của Chúa và ngoài cái đó ra, tôi không muốn biết nó là gì.”
Eileen đi vào phòng và bảo, “Con làm xong rồi.”
Mẹ cô nói, “Cảm ơn con yêu”, với tiếng thở dài lơ đãng, như thể chính bác mới là người vừa làm xong việc.
“Hy vọng chúng tôi không làm phiền nhà ta”, tôi cảm thấy phải lên tiếng.
“Không phiền gì cả.” Cả hai cùng đảm bảo với tôi, sự phản đối của họ cũng giả dối như lời xin lỗi của tôi vậy.
Bố tôi không tham gia vào trò xã giao của đám phụ nữ, đàn ông ít khi phụ trách về phương diện ấy.
“Con gọi Cathreen và Danny lên đi”, bà mẹ bảo. “Đến giờ chúng nó đi ngủ rồi.” Rồi bác nói như để giải thích với chúng tôi. “Nếu không gọi lũ nhóc này thì chúng sẽ ở dưới đường cả đêm.”
Eileen đi tới cửa sổ, hiển nhiên định kéo kính lên và hét vọng xuống với hai đứa em, thói quen từ ngàn xưa ở những khu vực kiểu này của thành phố.
Nhưng cô đột ngột đứng yên, dỏng tai lên, và chúng tôi cũng nghe thấy.
Có tiếng chân chậm chạp đi lên cầu thang ngoài hành lang. Từ chỗ mình, chúng tôi có thể nghe thấy không mấy khó khăn. Nó mệt mỏi và nặng nề. Và bằng một cách nào đó thông qua âm thanh nó tạo ra, ta biết được chủ nhân của nó bám chặt một tay vào tay vịn cầu thang để làm điểm tựa, tiến lên phía trước từng bước một, mỗi bước đều dựa hẳn vào tay vịn.
Thật là một cảm giác lạ lùng khi ở gần người đàn ông đó mà không nhìn thấy ông ấy. Chỉ cách nhau một bức vách, đi lên ở một bên vách, từ góc dưới cùng lên góc trên cùng. Thịch, thịch, thịch, thịch, nhưng rất chậm, rất yếu, rất lành, và không thấy mặt. Chỉ nghe thấy tiếng một người đang đi qua, truyền qua lớp vữa trát và gỗ ốp. Đáng ra phải có kèn hiệu, phải có luồng sáng hắt qua những khe cửa. Đằng này chỉ có tiếng lê bước loẹt quẹt, đều đều buồn tẻ trên cầu thang cũ mòn.
Ấy vậy mà chúng tôi thở gấp. Bố tôi ngồi thẳng lên một cách tập trung trên ghế, bờ vai dưới bàn tay tôi không còn uể oải nữa.
“Ông ấy đấy.” Eileen nói. Chúng tôi đã biết rồi.
Tôi bật dậy khỏi tay ghế, quay người bước ra cửa.
Bà McGuire đưa tay cản lại. “Chờ đã, đừng mở cửa nhìn ông ấy. Để ông ấy yên ổn đi lên. Vài phút nữa hai người có thể cùng Eileen lên đó, nếu nhất định phải làm thế.” Vẻ bất bình trước sự xâm phạm tư gia này hiện rõ trên mặt bác. Bác đứng thẳng dậy và ra khỏi phòng, không nói năng gì.
Chúng tôi chờ đợi trong im lặng. Tôi tự hỏi bố đang nghĩ gì. Tôi không đọc được vẻ mặt ông. Hoài nghi, quyết tâm xác minh chuyện đó đến cùng? Eileen lúc này đã ngồi lại về bàn, hai khuỷu tay đặt sát nhau trên mặt bàn, dúi đầu vào đôi bàn tay đan nhau, gần như tránh mặt chúng tôi, thu mình, miễn cưỡng thực hiện cái nhiệm vụ được ấn cho cô, song muốn thoát khỏi yêu cầu không lời của chúng tôi đến tuyệt vọng. Cả cuộc đời cô hắn là một chuỗi những vật lộn trong do dự - tôi ái ngại nghĩ - vì không đủ can đảm cự tuyệt, để giữ thế cân bằng, luôn dao động trước sức ép dù nhỏ nhất từ bên ngoài. Sức mạnh ý chí như cái chong chóng, gió nào thổi cũng quay. Và nếu hai luồng gió giao nhau, nó sẽ bập bềnh trong bất lực. Hẳn cô đã gặp tình cảnh ấy - tôi suy luận - khi lần đầu tiên cố gắng nói với tôi về chuyến bay.
Trên đầu, những tiếng động nhẹ vọng xuống chỗ chúng tôi qua trần nhà đã nhỏ đi và cuối cùng dừng lại, ông ấy đã nghỉ ngơi trong căn phòng của mình.
Bố tôi đứng lên. ‘‘Chúng ta lên đó thôi?”
Eileen nhìn tôi, nhìn trang phục của tôi, đột nhiên nói, “Vậy không được.”
Cô ra hiệu cho tôi đi theo, vào căn phòng nhỏ xíu của cô, nhẹ nhàng tháo chiếc khăn choàng lông thú của tôi ra và thả xuống giường. Rồi cô gỡ chiếc ghim cài kim cương bố tôi tặng khỏi cổ áo, đặt nó vào tay tôi, tôi mở túi cất chiếc ghim vào đấy. Tôi thấy đôi tay cô ngập ngừng đưa lên mũ tôi, nên tôi bỏ nó ra và đặt xuống giường.
Cô mở cánh tủ lấy xuống chiếc áo khoác nâu xám của mình, đưa cho tôi. “Cô khoác cái này thay vào. Ông ấy... sẽ thấy thoải mái hơn với cô.” Cô đưa tôi một chiếc mũ nồi nhàu nhĩ và bạc màu. “Còn cái này nữa.” Cô lại làm một cử chỉ bất lực. “Còn... còn...” Tôi lấy khăn tay trong túi xách ra lau sạch son môi.
Chúng tôi trở ra phòng ngoài, bố nhìn tôi với đôi mày nhướn hết cả lên. Tôi nghe thấy ông lẩm bẩm gì đó, nghe lõm bõm như “ý thức giai cấp” với một dấu chấm hỏi đằng sau.
Chúng tôi mở cửa và cả ba đi ra cầu thang, thành hàng dọc, cô ta dẫn đầu.
Bước lên bậc, ông ngoảnh lại rỉ tai tôi. “Có sự nghịch lí ở đây. Ông ấy nhìn thấy tất cả, nhưng chúng ta lại lừa được ông ấy bằng mấy cái áo khoác ngoài.”
Chúng tôi tới trước cửa căn phòng trên đầu. Bên trong im ắng. Chẳng ai ngờ có người sống ở đây. Song khi nhìn gần dưới khe cửa, sẽ thấy một tia mảnh màu vàng nhạt le lói bên trong.
Chúng tôi đã dừng bước, giờ đang đứng túm tụm với nhau. Eileen nghẹt thở vì hoảng sợ. Còn sự căng thẳng đến thở gấp của tôi cũng na ná nỗi sợ hãi. Tôi không biết bố tôi cảm thấy thế nào. Ông đứng nhìn chằm chằm cánh cửa, như cố đọc ra điều gì trên nó hoặc bên trong nó.
Tôi chạm vào cô ta, động viên cô. Bàn tay cô đưa lên đáp lời như thể tôi vừa giật sợi dây điều khiển con rối vậy.
Cô gõ cửa, giọng một người đàn ông vang lên từ bên trong. “Mời vào.”
Giọng đó trầm và chậm rãi. Nó gợi hình ảnh một người to lớn, rậm râu, già cả.
Eileen đẩy cửa ra và chúng tôi nhìn thấy ông ta.
Ông ta gầy gò khẳng khiu, sắp thành hốc hác. Má hóp sâu, cổ như một cành cây lắm mấu đỡ lấy cái đầu, hai cẳng tay xương xẩu chằng chịt gân.
Tôi nhìn mặt ông ta. Đó là một gương mặt bình thường, nhàn nhạt chẳng có một chút cá tính nào, dù tốt hay xấu. Mắt ông ta màu xanh lam và lờ đờ. Chẳng có ánh lửa hay cái gì gọi là sắc sảo trong chúng hết. Chúng toát lên sự yếu đuối, đặc tính chủ yếu của chúng. Phía trên là hàng lông mày màu cát, không có khả năng khắc họa một phẩm chất vĩ đại nào cho gương mặt, có lẽ do màu sắc của chúng. Chúng có thể cau lại, nhưng sẽ không được dữ tợn. Chúng không thể thể hiện sự nhạo báng hay khinh bỉ. Có lẽ chúng có thể cong lên với vẻ phàn nàn, thế là hết cỡ. Đôi mắt hiền lành và cặp lông mày nhu nhược.
Tóc ông ta màu vàng ánh đỏ, rất mượt, đang mỏng dần. Đỉnh đầu đã bắt đầu hói, chỉ còn một lớp tóc mỏng che phủ. Tóc hai bên đầu chỉ vừa đủ dày để giữ nguyên vẹn màu sắc.
Miệng và cằm ông ta đẹp, chúng là phần ưa nhìn nhất trên gương mặt. Chúng không yếu đuối hay nhu nhược. Chúng không mạnh mẽ kiểu thô bạo, ngùn ngụt một quyết tâm hùng hổ, mà khá cương trực và bướng bỉnh, dẻo dai, như kháng cự một sức ép tinh thần được củng cố thêm bằng ý thức tự cho là mình đúng.
Ông ta mặc một chiếc sơ mi nhem nhuốc với những vệt ướt ở nách áo, dây đeo quần vắt qua vai. Ông ta đã tháo giày, hai bàn chân trắng bệch nổi rõ những đường gân xanh xỏ trong đôi dép mềm không ra hình thù gì. Ông ta ngồi bên một chiếc bàn, dưới ánh đèn, những bộ phận tháo rời của một tẩu thuốc trải trên một tờ báo trước mặt. Ông ta đang lau bên trong ống tẩu bằng một miếng giẻ, thỉnh thoảng lại chùi nó vào quần.
Và như thế, lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy ông ta.
Nó như một tấm rèm được kéo lên trên sân khấu, sau bao nhiêu kèn trống ầm ĩ và ánh đèn loang loáng đầy trông đợi, để lộ ra… không gì hết, một khung cảnh trống trơn, ngoại trừ anh thợ dựng phông cảnh với cái đinh và miếng gỗ.
Tấn kịch đã bùng nổ thành sự trống rỗng sau những xây đắp kỳ công.
Ông ta đã ngước lên nhìn chúng tôi một lúc. Giờ ông ta lại cúi xuống với tẩu thuốc.
Eileen ấp úng. “Chú Jerry, cháu... cháu muốn chú gặp hai người bạn của cháu.”
Ông ta không đáp, cái ống tẩu đã thu hết sự chú ý của ông ta.
“Đây là ngài Reid và con gái của ngài ấy, cô Reid.” Ông ta ngẩng đầu nhìn cô hơn là nhìn chúng tôi.
“Đây là những người cháu từng làm cho họ?”
Cô ta hoàn tất màn giới thiệu, gần như trong tuyệt vọng. “Đây là ông Tompkins, một người bạn lâu năm của nhà tôi.”
Phải có ai nói gì đó. Cuối cùng tôi lên tiếng. “Chúng tôi có thể ngồi chứ?”
Ông ta chần chừ, ngước nhìn chúng tôi, rồi nhìn xuống công việc đang làm. “Cứ tự nhiên”, ông ta đáp một cách miễn cưỡng.
Eileen nói, “Tôi... Hình như tôi nghe thấy mẹ đang gọi. Tốt hơn là tôi đi xem bà có việc gì. Tôi... sẽ trở lại ngay”, và rút lẹ khỏi phòng.
Chỉ còn lại chúng tôi với ông ta. Tôi đang định mở lời thì gặp ánh mắt bố. Tôi liền nghĩ lại. Ông muốn Tompkins buộc phải lên tiếng trước. Xét cho cùng, chúng tôi đang ở trong nhà ông ta. Dù gì thì ông cũng muốn dành lợi thế mỏng manh về mặt tinh thần ấy.
Im lặng một lúc lâu, trong lúc Tompkins lắp lại cái tẩu. Rồi ông ta cất tiếng, nghe cộc lốc nhát gừng, dù ông ta không hề cao giọng.
“Các người nhìn đủ chưa?”
Tôi lén hít một hơi vội vã. “Tôi không định nhìn chằm chằm.”
“Các người đến với thiện chí hay vì sự tò mò bệnh hoạn? Nếu tôi có một cánh tay teo quắt hay một bàn chân khoèo, các người có nhìn chằm chằm không?”
“Tôi xin lỗi nếu chúng tôi tỏ thái độ ấy”, bố tôi nói với vẻ đường hoàng thẳng thắn.
“Chúng tôi đến để cảm ơn ông...” Tôi khéo léo nói.
Ông ta tiếp tục nhìn bố tôi. “Ông đến để cười tôi. Ông đến để hạ nhục tôi, để mở mắt cho con gái ông. Để cô ấy thôi nghĩ ngợi.”
“Tôi có thể đảm bảo với ông là bố tôi không...” Tôi mở đầu một cách yếu ớt.
“Có thể ông ta không nói với cô. Nhưng nó nằm trong đầu ông ta.” Mặt bố tôi đỏ lên. Câu trả lời đã rõ.
Ông ta tiếp tục nhìn bố tôi đầy lạnh lùng. “Ông định ra bài kiểm tra nho nhỏ với tôi. Tôi từ chối bài trắc nghiệm đó. Tôi không đấu trí với ông. Tôi không thi cử.”
“Có ai nói ông như vậy đâu”, bố tôi lẩm bẩm phản đối.
“Người ta từng cử một đặc vụ đến chỗ tôi. Anh ta nói là được nghe kể về tôi. Anh ta rất phấn khích. Anh ta đề nghị cho tôi tiền, một cuộc sống xa hoa, nếu tôi lên sân khấu. Chỉ cần ngồi trên một cái ghế ba lần một ngày trước khán giả và nói với họ trong ví họ có những gì. Anh ta cũng muốn thử tôi, như ông bây giờ, và tôi để anh ta thử. Vì tôi muốn thoát khỏi anh ta, đó là cách nhanh nhất. Anh ta giơ một hộp xì gà ra trước mặt tôi và hỏi tôi trong hộp có bao nhiêu điếu xì gà. Tôi có thể nói với anh ta không có điếu nào cả, anh ta dùng nó để đựng thuốc Aspirin, nhưng tôi đáp có ba điếu. Thế là anh ta mở hộp chìa cho tôi xem những viên Aspirin. Anh ta hỏi dòng chữ khắc bên trong nắp chiếc đồng hồ bỏ túi của anh ta viết gì. Tôi có thể cho anh ta biết chẳng có chữ nào cả, chỉ có một hình móng ngựa viền kim cương, khuyết một viên ở đầu bên trái. Song tôi bảo là nó viết ‘Gửi người nào đó, từ vợ yêu của anh’, và dùng cái tên anh ta đã xưng với tôi, nhân tiện đó không phải là tên thật. Anh ta mở nắp đồng hồ và cho tôi thấy không có dòng chữ nào, chỉ có một hình móng ngựa viền kim cương, khuyết một viên ở đầu bên trái.
Anh ta hỏi tôi bức thư đựng trong phong bì anh ta để ở túi trong áo khoác do ai gửi, và hé một góc cho tôi xem, với con tem màu đỏ đã được đóng dấu. Tôi đã có thể nói với anh ta rằng không có bức thư nào trong phong bì, anh ta đang sử dụng nó để đựng những tờ vé cược trong một cuộc đua ngựa. Tôi đáp rằng bức thư từ một người phụ nữ. Anh ta lấy chiếc phong bì ra và cho tôi thấy không có bức thư nào bên trong, anh ta đang dùng một chiếc phong bì bỏ đi để đựng vé cá cược một cuộc đua ngựa. Ngay cả địa chỉ đề bên ngoài, anh ta chỉ ra, cũng là chữ viết tay của một người đàn ông.
Anh ta lẩm bẩm câu gì đó về việc có một cuộc hẹn, cười nửa miệng với tôi rồi ra về, đúng như tôi mong muốn.”
Cả hai chúng tôi không nói gì.
Đột nhiên, ông ta đấm tay xuống bàn với vẻ tức giận không thể nhầm lẫn, khiến miệng ông ta tái nhợt và căng ra.
“Nhưng ông thông minh hơn tay kia gấp bội!” Ông ta hét lên cay đắng. “Ông vừa đảo lộn mọi thứ để khiến tôi phải nói cho ông những điều tôi không muốn nói.”
Tôi liếc nhanh sang bố, trong sự ngỡ ngàng, và thấy hai dấu ngoặc kép rất nhỏ của một nụ cười hiện trên hai bên khóe miệng ông. Câu trả lời đã rõ.
“Tôi đâu có mớm lời cho ông”, bố tôi nói nhẹ nhàng.
“Ồ, ông chỉ thiếu chút nữa thôi. Giờ ông hãy về và kể cho bạn bè, để họ kéo nhau đến đây hành hạ tôi. Tôi đã từng bị hành hạ rồi.” Giọng nói và cảm xúc của ông ta có vẻ chân thật. Ông ta cố gắng châm cái tẩu, nhưng bàn tay cầm que diêm run đến nỗi khó mà thành công.
“Mời ông về cho”, ông ta nói với giọng khàn khàn. “Ông đã nhìn thấy con quái vật. Trí tò mò của ông đã được thỏa mãn. Không còn gì giữ ông lại nữa.”
Bố tôi đứng dậy một cách đột ngột, như thể lời xúc phạm gai góc đã làm ông mất bình tĩnh, đã đâm thẳng vào chân ông trước khi ông kịp tự chủ. Nhưng rồi ông lặng lẽ bước sang bên, đứng một lúc như đang chìm trong suy nghĩ cạnh cái tủ com-mốt ọp ẹp, quay lưng lại với chủ nhà. Tôi thấy ông lơ đãng nghịch cái bình đựng thuốc lá và những đồ vật linh tinh khác, như đang suy tính nên nói gì tiếp theo.
Cuối cùng, ông quay lại nhìn người đàn ông nọ. “Xin lỗi nếu chúng tôi làm ông phật lòng”, ông nói một cách điềm đạm. “Chúng tôi không đến đây để thử ông hay chế nhạo ông. Chúng tôi đến để bày tỏ lòng cảm kích và gửi lời cám ơn ông.”
“Các người không chịu ơn tôi”, Tompkins sầm mặt nói. “Tôi chẳng hề làm gì cả.” Ông ta rít một hơi thuốc và dõi ánh mắt cáu kỉnh theo một quỹ đạo tưởng tượng, tránh xa chúng tôi.
“Chúng tôi cảm thấy như vậy”, bố tôi nói. “Còn về phần bạn bè mình, tôi có thể đảm bảo với ông, nếu ông muốn thì chúng tôi sẽ không hé một lời nào về chuyện này. Tôi có thể nói thay cho cả con gái tôi.”
Ông bước đến gần Tompkins và đưa tay ra.
“Nếu có điều gì tôi có thể làm cho ông, nếu tôi có thể giúp gì...”
“Không gì hết”, Tompkins lạnh nhạt. “Tôi không muốn cái gì từ bất kì ai. Tôi không đòi hỏi gì cả, tôi chỉ muốn được yên.”
Tôi tự hỏi ông ta có nắm lấy bàn tay chìa ra không. Cuối cùng, ông ta cũng bắt tay, nhưng theo một cách miễn cưỡng và thô lỗ, rồi nhanh chóng bỏ tay ra.
Lúc đó tôi chợt nghĩ, hẳn ông ta bẩm sinh đã hẹp hòi, chấp nhặt, bất kể ông ta có năng lực siêu nhiên hay không. Nó thể hiện ngay trong hành động bình thường này. Thà đừng bắt tay, còn hơn bắt tay theo kiểu hà tiện như thế. Chỉ là một thằng bé nhà quê, cả đời loay hoay, bực tức với gánh nặng mà bản thân không được chuẩn bị để chống đỡ.
Tôi thấy ông ta nhìn bàn tay bố tôi đến cả phút khi buông nó ra, và tôi nhớ đến câu ông ta đã nói với mẹ của Eileen, khi còn bé, mà bà vừa nhắc lại với chúng tôi dưới kia. “Khi nghĩ đến điều gì, thì hình ảnh về điều mình đang nghĩ liên hiện ra trước mắt.”
“Chúng ta không có điểm chung nào, ông và tôi”, ông ta nói một cách cay độc. “Tôi không yêu cầu ông đến đây. Nhưng giờ ông đã đến, hãy để nó là lần cuối cùng. Nếu ông còn đến đây nữa, ông sẽ chỉ gây rắc rối cho tôi vào một ngày nào đó. Ông về đi. Về với cuộc sống của ông, để cho tôi sống cuộc sống của tôi. Hãy về với ngôi nhà đẹp và những vị khách đến ăn tối với chiếc đồng hồ kim cương ở đầu gối. Về với người môi giới của ông, với việc mua cổ phiếu của ông. Và cố đừng đâm vào bé gái nào trên đường về.”
“Đi thôi, Jean”, bố tôi nói ngắn gọn, giữ cửa chờ tôi.
Tôi thấy ông quay lại nhìn Tompkins trước khi đóng cửa. Tôi không biết trong ánh nhìn đó có gì, vì gương mặt ông quay khỏi tôi. Nhưng qua cách nghiêng đầu cứng nhắc, có thể thấy nó mang vẻ quở trách ngấm ngầm trước sự thô lỗ vô cớ của ông ta.
Tôi liếc nhìn lần cuối con người chúng tôi đã đến gặp, giữa khoảng cách thu hẹp dần của cánh cửa đang quay. Ngồi sau chiếc bàn, tẩu thuốc trên miệng, đầu hơi cúi, đôi mắt xanh lam chiếu vào chúng tôi từ dưới hàng lông mày màu cát. Ông ta mang một vẻ buồn tẻ trong ánh điện tù mù, nhờ nhờ, cũ kĩ. Không có gì gọi là uy quyền toát lên ở ông ta, bên trong cũng như bên ngoài. Chỉ là một đống lù lù trong căn phòng lòe loẹt. Tôi gần như tự hỏi mình đã làm cái gì ở đó.
Cánh cửa đóng lại, ông ta biến mất, bố đang dẫn tôi xuống cầu thang.
Chúng tôi im lặng, không ai bảo ai mà cứ vậy đi qua cửa nhà bà McGuire, xuống dưới đường và lên xe.
“Để bố lái”, ông lẩm bẩm. “Hẳn là con mệt rồi.”
Đây là câu đầu tiên chúng tôi nói với nhau kể từ lúc ra khỏi nơi đó.
Khí trời trong lành mơn man trên mặt, tôi châm một điếu thuốc, cảm giác cũng rất sảng khoái.
Tôi biết sớm muộn gì chúng tôi cũng phải nói về nó.
Tôi nghĩ chúng tôi cũng có thể bắt đầu ngay ở đây, trước khi ấn tượng bị phai mờ quá nhiều, nên tôi mở đầu.
“Bố không tin?”
“Đó là màn diễn xuất khá tốt. Hoàn hảo.” Tôi nghĩ ông nói không được thoải mái cho lắm. Tôi không dám chắc
Tôi nghĩ đến chuyến bay, đến bức điện. Tôi tha thiết không muốn tin. Tôi muốn ông giúp tôi không tin. Tôi hết sức vui mừng vì ông không tin. Tôi chỉ ao ước rằng ông hãy không tin một cách ngoan cố hơn. Tôi muốn ở ngoài dưới ánh mặt trời với ông, ánh mặt trời của sự hoài nghi. Tận trong xương tủy, tôi vẫn ớn lạnh bởi bóng tối.
“Nó nâng tầm hiểu biết của chúng ta”, ông tiếp tục. “Và nó đã đạt tới một đẳng cấp mới. Giờ không còn ở tầm một cô hầu gái người Ai-len mê tín nữa.”
“Bằng cách nào ạ? Toàn bộ luận điểm của ông ấy dường như phủ nhận...”
“Đúng vậy. Nhưng phủ nhận chính là xác nhận. Con không thấy cách thức của hắn sao? Chiêu trò lồng trong chiêu trò lồng trong chiêu trò. Giống như những nhãn dán trên lọ bột nở. Một hình tròn, với bức vẽ một lọ bột nở khác bên trong. Và cứ thế, một hình tròn với bức vẽ một lọ khác bên trong. Cho đến khi nó trở nên nhỏ xíu không nhìn ra được nữa. Hắn nói bố thông minh, đảo ngược mọi thứ, để moi ra ở hắn những điều hắn không hề muốn nói. Nhưng có khi hắn còn thông minh hơn, và trong sự đảo ngược ấy, hắn đảo lại một lần nữa, khiến cho điều mà có vẻ hắn không muốn nói với bố, rốt cuộc lại là thứ hắn muốn nói nhất.
Ta không thể theo kịp. Tất cả đã biến thành một mê cung.
Ta chán nản và buông xuôi, hắn vẫn đi trước ta một bước.”
“Nhưng ông ta muốn đạt được cái gì, khi để cho chúng ta thuyết phục bản thân không tin vào ông ta?”
“Trên đời này người ta muốn có được cái gì? Lợi ích gì? Ý nghĩa của chính chữ đó nằm ở đâu?”
“Tiền bạc? Nhưng bố đã đề nghị giúp đỡ ông ta kia mà.”
“Bố đã lường trước hắn sẽ từ chối hoặc làm ngơ. Bố đã biết hắn sẽ làm thế trước cả khi gặp hắn.”
“Là như nào ạ?”
“Khi cô ta khoác cho con cái áo cũ rích của mình, trước khi đưa chúng ta lên gặp hắn. Thì bố biết. Mánh lới điển hình của một kẻ sùng đạo coi tiền thù lao là sự nguyền rủa...”
Tôi sực nhớ nhìn xuống. “Con vẫn đang mặc nó. Con để quên đồ của mình ở đó rồi.”
Ồng giảm tốc độ, dò hỏi.
“Không phải tối nay”, tôi nói. “Con không thể.”
“Nghĩa là sẽ có lúc con phải quay lại đó lấy chúng. Mặc dù hắn đã lệnh cho chúng ta không được lại gần hắn nữa. Vẫn là mánh khóe nghịch đảo ấy. Có lẽ đó chính là mục đích bắt con thay đồ lúc đầu.”
“Nhưng như thế thật vô lí, dàn dựng từng chi tiết nhỏ và nhìn vào mặt trái của nó!” Tôi phản đối, che mặt lại. “Làm sao họ biết trước con sẽ quên?”
“Con đã quên đấy thôi?” Đây là tất cả câu trả lời của ông.
Tôi buông tay xuống, rã rời.
“Trở lại vấn đề bố nói lúc nãy”, ông tiếp tục. “Bố giăng cho hắn một cái bẫy. Hắn không muốn sự giúp đỡ. Hắn không muốn gì ở chúng ta. Con có thấy bình thuốc lá đặt trên mặt tủ sát tường không?”
“Hình như con có thấy.”
“Bố đã để dưới đáy bình năm trăm đô la tiền mặt.”
Tôi quay sang nhìn ông. “Nếu ông ta ngầm nhận nó...”
Ông khẽ nhún vai. “Lúc trước, con hỏi bố hắn hy vọng đạt được cái gì khi để cho chúng ta không muốn tin vào năng lực của hắn, bố sẽ trả lời, chính là muốn chúng ta phải tin.”
“Nhưng nếu ông ta từ chối, sẽ càng khiến bố tin hơn...”
Ông lắc đầu. “Bố cũng vẫn không tin”, ông hờ hững nói. “Hắn có thể thấy những hình ảnh trong đầu bằng suy nghĩ. Nhưng hắn lại không thể thấy năm trăm đô la dưới lọ thuốc chỉ cách hắn hai, ba mét.”
“Có lẽ do ông ta không nghĩ đến lọ thuốc lúc chúng ta ở trong phòng với ông ta.”
Ông cười khẩy.
Ông không vô tư trong chuyện này, tôi tự nhủ. Ông nhất định phải đánh bại niềm tin ấy một cách quyết liệt. Ông đã bị cảm xúc lấn át. Hay ông làm thế chỉ vì tôi? Tôi mới là người ông muốn tẩy sạch niềm tin, chứ không phải ông?
“Không phải bố làm thế là đang chơi một ván bài gian lận sao?” Một lúc sau, tôi nhận xét. “Năm trăm đô la không phải khoản tiền nhỏ. Con đã thấy tờ báo trong phòng ông ta, những cột tuyển dụng được gấp ra ngoài.”
“Bố cũng trông thấy”, ông nói cộc lốc. “Có lẽ nó cố ý được để như thế cho chúng ta nhìn thấy.”
Mọi thứ đều có hai mặt. Và chẳng bao giờ có cái nhãn bất di bất dịch nói “Đây là mặt phải” và “Đây là mặt trái”. Tôi thở dài, tiếc thương cái thế giới phẳng trước kia.
Ông vươn tay qua nắm tay tôi. “Bố không tin”, ông nói với vẻ dịu dàng cứng rắn. “Và cũng không muốn con tin.”
Chiếc xe bỗng dưng chệch hướng và tôi bị xô vào ông. Rồi nó lại trở về đúng làn, tôi nghe thấy bố lẩm bẩm chửi thề.
“Gì thế bố? Chuyện gì xảy ra vậy?”
Tôi thấy ông ngoái đầu nhìn, tôi cũng ngoái lại.
Một thân hình nhỏ bé đang quỳ một đầu gối trên đường sau lưng chúng tôi, như thể nó vừa đột ngột nhảy sang bên và do đó mất thăng bằng. Nó đứng dậy không hề hấn gì, màu trắng của chiếc áo yếm dập dờn quanh nó khi khoảng cách giữa nó và chúng tôi ngày một xa, đẩy nó chìm vào bóng tối. Đó là một cô bé. Nó nhìn theo chúng tôi trong sự phẫn nộ xấc xược một lúc, rồi xoay người chạy vụt sang bên kia đường.
Một lát sau, chiếc xe tắt máy và từ từ dừng lại, không phải do những gì đã suýt xảy ra - vì đến giờ nó đã qua và đã xong - mà bởi vì những ngụ ý của nó, khi chúng từ từ xâm nhập vào tâm trí chúng tôi. Tôi cho rằng ông đã phanh một cách vô thức, như người ta kết thúc câu bằng cách đặt một dấu chấm ở cuối.
Chúng tôi ngồi nhìn về phía trước, không quay sang để bắt gặp ánh mắt nhau. Tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều muốn tránh việc đó hơn bất cứ thứ gì khác. Bóng tối đằng sau chúng tôi không còn gì để nhìn nữa, cái bóng ma trẻ con đã biến mất.
Chúng tôi không nhắc đến nó, không cần làm vậy. Từ ngữ của chúng tôi đang âm vang trong tai nhau mà không cần nói. Và mỗi người sẽ chỉ nói với người kia điều mà họ đang tự nói với chính mình.
Tôi nghĩ, cuối cùng đây chính là thứ không thể nghịch đảo, chỉ có một mặt. Là điều tôi đã muốn lúc trước, với một cái nhãn rõ ràng và không thể nhầm lẫn. “Đây là mặt phải, không có mặt nào khác.” Nhưng đây không phải cách mà tôi muốn.
Tôi ý thức được ông đang ngồi kế bên mình và tôi xót xa nghĩ, giờ thì tất cả logic của bố đâu rồi? Tất cả những luận cứ của bố ở đâu? Bố tội nghiệp của con.
“Đi thôi bố, về nhà thôi”, tôi nói nhỏ, nghèn nghẹn.
Chiếc xe lại chuyển bánh.
“Để con lái cho?” Tôi đề nghị.
“Không”, ông nói. “Như thế bố còn có cái để làm, còn tốt hơn...”
Tôi hiểu ý ông. Ông vẫn dõi mắt về phía trước, nhưng không chủ yếu nhìn đường. Tôi mở túi, lấy ra chiếc khăn tay. “Bố đổ mồ hôi nhiều quá”, tôi chấm khăn tay lên trán ông. “Con bé đó chắc đã làm bố một phen hết hồn.”
“Đây”, ông nói, “làm một điếu trên đường về.” Tôi cũng có thuốc lá, nhưng bố đã lấy trong túi mình ra và đưa cho tôi.
Tôi nghĩ chúng tôi đều đang cố tỏ ra lịch sự và ân cần với nhau. Chúng tôi đều đang dối trá trắng trợn với nhau mà không đề cập nửa lời đến chuyện đó.
Khi chúng tôi gần về tới nhà, “Jean”, ông bất ngờ lên tiếng. “Bố con mình chưa bao giờ giả dối, chúng ta luôn thẳng thắn với nhau. Đừng bắt đầu thay đổi điều đó lúc này. Nó ở trong đầu cả hai chúng ta. Đừng mang theo nó vào nhà. Hãy để nó ở ngoài và kết thúc ở đây.”
Tôi gật đầu, chờ đợi.
“Khi nãy chỉ là sự trùng hợp.” Giọng ông vút lên, gần như hét. “Bố không quan tâm tỉ lệ xảy ra là bao nhiêu, năm mươi - năm mươi, tám mươi - hai mươi, hay một phần trăm, đó là sự trùng hợp, bố cho con hay.”
“Đó là điều bố muốn nghĩ ư?”
Ông đấm vào vô lăng. “Đó là điều bố muốn hai chúng ta nghĩ! Nó phải như thế! Không được khác. Jean, bố chưa bao giờ định kiểm soát suy nghĩ của con, bây giờ cũng vậy. Bất cứ ai lái xe đều có thể gặp phải chuyện đó, vì hắn ghen tỵ với những người biết lái xe, đố kỵ với những ai sở hữu một chiếc xe. Và sự việc mới xảy ra vừa vặn trùng khớp. Ngoài đường lúc nào chẳng đầy trẻ con. Và bất cứ khi nào lái xe, con đều có khả năng gặp phải chuyện như thế.”
Nhưng nó chưa từng xảy ra với người nào trong hai chúng ta sau tay lái, cho đến tối nay. Và đây là một cô bé. Tôi không nói to điều đó với ông.
Người ta bảo niềm tin là một ngọn lửa ngoan cố không thể dập tắt, không bao giờ chết. Nhưng sự hoài nghi cũng vậy. Cũng khó dập tắt chẳng kém. Tôi cảm thấy nó lại đang bùng lên trong ông, sáng rực hơn, ngông cuồng hơn bao giờ hết.
“Chỉ là trùng hợp”, ông nói, quai hàm nghiến chặt. “Một phát đạn trong bóng tối bắn trúng mục tiêu.” Ông quay sang nháy mắt với tôi một cách vui vẻ. “Giờ thì về với bữa tối và các vị khách của chúng ta thôi.”
“Chúng ta không mời ai đến ăn tối cả”, tôi nói. “Chỉ có bố và con.”
“Bố biết chứ. Và nếu có khách đi nữa, con có biết vị nào đeo đồng hồ kim cương ở đầu gối không?”
Tôi cười to ở bên này xe.
Lúc này, ông mỉm cười theo một kiểu sắt đá. Người ta có thể hoài nghi và mỉm cười kiểu đó, nhưng người ta không thể giũ bỏ hay cắt đứt về mặt cảm xúc mà vẫn có thể cười kiểu đó. “Chỉ là sự trùng hợp quái gở”, ông nói líu nhíu. “Vô nghĩa.”
Tôi quay sang siết chặt cánh tay ông với cảm giác biết ơn gần như bốc đồng. “Con rất mừng vì bố cảm thấy như thế!” Tôi nói đầy nhiệt thành. “Giá mà bố biết con vui mừng nhường nào!”
Tôi nói rất thật, cho dù bản thân không có cùng suy nghĩ với ông.
* * *
Tôi nghĩ những cửa sổ phòng khách sáng một cách bất thường, khi chúng tôi xuống xe và đi vào nhà. Chúng tôi ra ngoài, cửa sổ phải tối mới đúng.
Ông cũng để ý thấy. “Chắc là người làm khi đi ra quên tắt đèn”, ông vô tư nhận xét.
“Có khi là cô hầu mới. Cô ấy không biết sử dụng công tắc.”
Xét cho cùng, đó không phải là lỗi lớn.
Bên trong đầy ắp tiếng nói khi chúng tôi mở cửa. Tiếng cười vẳng tới chỗ chúng tôi, cùng tiếng trò chuyện lao xao.
Người gác cửa từ cuối sảnh vội vã đi tới thông báo cho chúng tôi. “Ông và bà Ordway đang ở đây, thưa ngài. Và một quý bà nữa. Họ nói họ sẽ đợi ngài về.”
Không có gì tùy tiện ở đây. Họ là hai anh em, là bạn của bố tôi đã bốn mươi năm, là “cô” và “bác” danh dự của tôi hồi nhỏ.
Chúng tôi đi vào, tiếng rì rầm thoáng chốc tăng đến đỉnh điểm. Louise Ordway ào tới hôn lên má tôi, đó là đặc quyền lâu nay của bà. Rồi bà quay sang bố tôi. “Harlan, anh không bực vì chúng tôi đến quấy quả thế này chứ? Chúng tôi đang đi trên đường và khi tôi thấy chúng ta ở gần nhau ra sao, tôi liền bảo mình không thể đi qua mà không ghé vào thăm Jean và Harlan được. Vả lại, tôi chẳng quan tâm nếu có đến muộn, đằng nào tôi cũng chẳng thể đến sớm. Maria đã nghe chúng tôi kể rất nhiều về hai người suốt mấy năm qua…”
Bà là một trong những người nói không cần ngắt câu. Ngày xưa, tôi đã nghĩ hẳn là bà bắt chước những nhân vật ta hay thấy trong các vở hài kịch nơi phòng khách. Nhưng về sau, tôi nghiêng về chiều ngược lại hơn.
“Tôi sẽ giận nếu hai người không đến đấy”, bố tôi nói.
Vị khách còn lại là một người phụ nữ tóc vàng cực kỳ xinh đẹp, tầm ba chín, bốn mươi tuổi, tuýp người cựu lục địa, nói nhấn âm khá nặng. Chị ta mặc chiếc váy dự tiệc ôm sát màu đen tôn lên dáng người thanh tú. Cả ba đều phục sức sang trọng.
“Maria Lisetta”, cô Louise thì thầm bên tai tôi, bổ sung sau màn giới thiệu chính thức. “Của nhà hát quốc gia Rumania ở Bucharest. Chúng ta quen cô ấy ở Paris đã mấy năm rồi. Cô ấy mới sang đây lần đầu tiên, đang ở cùng chúng ta. Cháu đã thấy cô ấy trên sân khấu bao giờ chưa? Cô ấy là bằng chứng đanh thép để cô ném vào những kẻ cứ khăng khăng cho rằng phụ nữ không thông minh bằng đàn ông. Thông thạo tám thứ tiếng...”
“Louise lại làm người phát ngôn báo chí cho tôi nữa rồi.” Con người nổi tiếng mỉm cười từ bên kia phòng. “Tôi có thể thấy điều đó qua vẻ mặt sinh động của chị ấy.”
Chị ta quyến rũ đến nhói tim. Người ta sẽ chết đứ đừ, hoặc chí ít linh cảm được cái chết của mình, ngay từ khoảnh khắc nhìn thấy chị ta. Nói một cách thẳng thừng, đó lẽ ra là một phẩm chất không được ưa thích ở chị ta. Tôi rất kỳ thị với sự quyến rũ qua tập luyện. Nhưng ở đây, nó không gò ép hay giả tạo, một đặc tính bẩm sinh có thể khiến chị ta bị ganh ghét, giống như chiều cao hay màu mắt của chị ta. Nó chỉ là một tố chất tình cờ rơi đúng vào một vóc người khả ái với xác suất cực kỳ thấp.
Ông Weeks nấn ná ngoài cửa một cách kín đáo, chờ cho đến khi bố tôi nhìn tới.
“Về bữa tối, thưa ngài?”
“Ồ phải”, bố tôi nói, “dọn bàn cho năm người, tất nhiên.”
Ông còn biết nói gì khác, còn ai nói được, cho dù cuộc sống của ông đang bị đe dọa?
Rồi ông quay lại và thấy tôi đang nhìn ông. Ánh mắt chúng tôi hiểu thấu nhau.
Rốt cuộc, chúng tôi đã có những vị khách ăn tối. Chỉ cách đây mấy phút, ai có thể biết được điều đó?
“Tôi nghĩ”, ông đi đến chỗ bình rượu, nói một cách khô khan, “mình sẽ uống một trong những ly martini này của các vị đây. Nhưng là ly đúp.”
Tôi hiểu ngay tức thì.
Louise nhận xét một cách tỉnh táo. “Anh có chắc chúng ta không quấy quả chuyện gì không? Cả hai trông có vẻ bơ phờ và... ờ, kích động.”
“Chúng cháu vừa lái xe một đoạn đường dài”, tôi đáp.
“Cháu kiếm đâu ra cái áo khoác kỳ cục đó vậy?”
Tôi nhìn xuống và nuốt khan, không biết trả lời thế nào vào lúc đó.
Bố tôi giải cứu kịp thời. “Áo mượn đấy”, ông nói nhanh. “Trên xe khá lạnh.”
“Con sẽ lên gác thay ra”, tôi nói. “Cô có muốn lên dặm lại phấn không, mademoiselle*? Cô Louise?”
Mademoiselle (tiếng Pháp): Quý cô.
“Ở tuổi cô chẳng cần tô điểm nhiều làm gì”, Louise trả lời, “và kết quả thường là con số không tròn trĩnh. Hai người đi đi.”
Vừa lên đến nơi, Lisetta liền quay sang tôi thổ lộ. “Tôi rất biết ơn vì cô đã rủ tôi lên đây. Cô - nói thế nào nhỉ? - đã cứu mạng tôi. Cô có…” Chị ta huơ một ngón tay bất lực trong không khí. “... Tôi có thể mượn không? Đó là một từ tiếng Anh mà tôi chưa biết. Tôi gặp chút tai nạn trong xe ô tô. Tôi không muốn nhắc đến nó trước mặt Tony...”
Chị ta giơ một cẳng chân tuyệt đẹp, kéo chiếc váy đen lên tới tận hông ở bên chân đó.
“À, nịt bít tất.”
“Elastique”*, chị ta gật đầu. “Tôi phải làm những gì có thể cho đến khi tìm được đồ sơ cứu. Tôi khá là ingénieuse* nhanh trí đấy.”
Elastique (tiếng Pháp): Vải chun.
Ingénieuse (tiếng Pháp): Nhanh trí.
Ngay dưới đầu gối là một chiếc đồng hồ đeo tay viền kim cương lấp lánh, như một bông hồng trên bắp chân chị ta. Sợi dây buộc bằng lụa đen được kéo căng hết cỡ để giữ cho chiếc tất lụa phẳng phiu không một nếp nhăn.
“Tôi tháo nó ra ở đây, buộc vào kia. Nhưng nếu có người hỏi giờ thì...” Chị ta nhún vai với vẻ luống cuống hài hước.
Đột ngột vạt váy lại được thả xuống sàn, chị ta đứng thẳng lên, bước nhanh lại chỗ tôi trong sự lo lắng thấy rõ.
“Cô làm sao thế, mademoiselle Jean? Trông cô trắng bệch, cô ốm à? Để tôi gọi người nhé?”
“Không”, tôi yếu ớt nói. “Tôi ổn...”
“Nào, ngồi xuống đây một lúc.” Chị ta choàng tay đỡ lấy tôi với vẻ lo âu và dìu tôi tới một chiếc ghế. “Cô có nước hoa không? Để tôi xức trán cho cô.”
“Không, cảm ơn, tôi sẽ ổn thôi.” Tôi nở nụ cười biết ơn. “Tôi rất mừng vì chị đã lên đây với tôi.” Tôi nhìn quanh, không chắc chắn lắm. “Căn phòng này không làm chị sợ chứ? Nó không có cái gì...”
“Căn phòng rất đáng yêu.” Chị ta nhỏ nhẹ nói, vuốt vuốt tóc tôi trấn an.
“Tôi sẽ thay đồ thật nhanh”, tôi cúi xuống chiếc giày. “Ta không nên bắt họ đợi.” Tôi biết chị ta đang đứng im lặng nhìn xuống tôi, dù tôi không ngước mắt lên. “Kể cho tôi nghe, mademoiselle”, tôi nài nỉ. “Trong lúc tôi thay đồ, hãy kể cho tôi về Bucharest, Paris hay nhà hát của chị. Hãy nói thật to và nhanh vào. Ôi, xin chị đừng ngừng nói!” Bỗng dưng tôi quay ngoắt đi ôm lấy mặt và òa khóc nức nở như một đứa trẻ hoảng sợ.
Chúng tôi xuống dưới nhà hơi muộn.
“Bố đã uống ly đúp của mình chưa?” Tôi đến gần ông. “Giờ đến lượt con. Một ly ba.”
Chúng tôi tiễn những vị khách ra cửa, nhìn họ lên xe đi khuất, đứng trong khung cửa, ông một bên và tôi một bên. Chúng tôi nhìn mãi cho đến khi cái vệt sáng thuôn dài trong đêm tối mà nó để lại biến mất. Chỉ còn những vì sao. Sau đó, chúng tôi đóng cửa, còn lại hai người chúng tôi với nhau. Không, không chỉ có chúng tôi. Tôi ước giá mà chỉ có chúng tôi thôi, nhưng ở cùng chúng tôi còn có thứ kia nữa.
Chúng tôi cùng đi về phía cầu thang, vẫn cách nhau một chiều rộng cánh cửa, ông một bên, tôi một bên. Tôi không biết tại sao, như thể chúng tôi sợ đến gần nhau vậy.
Tôi lẳng lặng đi lên gác, còn ông đi vào trong, tới chỗ tủ rượu. Tôi nghe tiếng ông mở tủ.
Một lúc sau, tôi nghe thấy ông đi lên, vào phòng và đóng cửa lại.
Không lâu sau đó, tôi ra khỏi phòng mình, qua phòng ông và gõ cửa.
“Vào đi, Jean. Vào đi.” Tôi nghe giọng ông nhuốm vẻ uể oải xa vắng.
Ông khoác áo choàng ngoài bộ đồ ngủ, đang ngồi trên mép giường. Mép giường bên kia, quay lưng lại với tôi. Có một chai brandy trên chiếc bàn nhỏ đầu giường và một ly rượu đặt giữa lòng bàn tay ông, không được cầm giữ, tựa như ông đang ước lượng sức nặng của nó, hoặc là đã có kết quả.
Ông nói mà không quay đầu lại nhìn tôi, “Con rất sốc phải không?” Rồi không đợi tôi trả lời, “Bố biết, bố cũng vậy.”
Tôi ngồi chếch xuống mé giường bên kia, nhìn về phía ông. “Người bạn Rumani của cô Lou, cô ấy đeo một chiếc đồng hồ ở đầu gối.” Tôi đã không thể nhớ tên chị ta, nó đã theo chị ta ra khỏi cửa.
Ông dốc cạn ly rượu, như thể chặn trước kẻ nào định cướp nó khỏi tay mình. “Cú lừa hoàn hảo”, ông nói, khẽ ho. “Hết sức chu đáo và tỉ mỉ.”
Tôi vuốt phẳng chỗ khăn phủ giường gần bàn tay. “Chỉ còn thiếu người môi giới.”
Ly rượu lại được rót đầy. “Con phải cho phép có sai số nhỏ chứ. Bố đã bặt tin về Walt từ nhiều tháng nay. Những ngày học đòi chơi cổ phiếu của bố đã qua từ đời nào. Nhưng ai biết được điều đó trừ con và bố? Hay là bố đang lấy đi cái cọc cuối cùng mà con có thể...?”
“Bố chẳng lấy đi cái gì hết, vì con chẳng có gì.”
“Nhưng còn chiếc đồng hồ kim cương ở chân, Jean”, ông tiếp tục bằng giọng nghèn nghẹt.
Lại có kẻ nào đó định cướp ly brandy của ông, ông lại gạt hắn ra và uống cạn.
“Ai biết được điều đó, kể cả bố và con?” Tôi dịu giọng. “Kể cả cô Louise, ngồi cùng xe với cô ấy, cũng không biết.”
Ông không trả lời, tôi thoáng thấy hối tiếc vì đã nói ra. Song nếu tôi không nói, ông cũng sẽ nghĩ như thế mà thôi, vậy thì có gì khác?
Đầu ông lại hơi chuyển động, như một cái gật đầu với trần nhà.
“Nó làm con bàng hoàng. Giống như mọi thứ đột nhiên xoay nửa vòng trên trục của chúng, khiến con phải học cách di chuyển rón rén. Bố muốn thế giới của bố ngăn nắp và cân bằng, không nghiêng ngả.”
Cái nút bần kêu lục cục.
“Bố sẽ làm một việc mình đã không làm trong hai mươi năm. Bố sẽ uống rượu trên giường và sẽ uống đến khi ngủ thiếp đi.”
Tôi vươn tay vỗ vỗ lưng ông tỏ vẻ thấu hiểu. Rồi tôi đứng dậy. “Tốt hơn con nên đi. Con không thể ở trong phòng bố cả đêm được.”
“Ở bên đó con sẽ ổn chứ?” Ông hỏi.
“Ở đó hay ở đây, nó vẫn đi theo bố. Bất kể địa điểm nào.”
“Con nói đúng. Những cái phụ thuộc vào địa điểm là những cái dễ lẩn trốn hơn.”
Tôi đi ra mở cửa.
Ông không nhìn theo, vẫn ngồi với đôi vai chùng xuống. “Chúng ta sẽ quen với chuyện đó”, ông nói. “Con có thể quen với gần như mọi thứ, kể cả hạt thủy tinh chọc vào xương sống con. Chúng ta sẽ tìm ra cách chung sống với nó.”
Ông giơ ly rượu lên và nhìn nó.
“Nhưng tối nay không vui lắm, đúng không?”
“Tối nay không vui lắm”, tôi tán thành với vẻ hài hước và đóng cửa lại.
Sáng ra, ông xuống dưới nhà trước tôi. Tôi vẫn mang những quầng thâm dưới mắt, dấu ấn của đêm qua. Nhưng giờ đã là buổi sáng, mặt trời đang hun đốt tất cả, đặc biệt là những hạt bụi nhấp nháy trên trời.
Món dưa hấu đã đợi sẵn ông trên lớp đá bào, với thư từ của ông đặt bên cạnh. Nhưng ông không ngồi ở bàn. Tôi tìm thấy ông trong căn phòng khác, đang cầm điện thoại áp vào một bên tai.
Chắc là ông đang nghe, ông không nói lời nào.
Ông quay sang và thấy tôi. Khi tôi định đi ra thì ông hất đầu ra hiệu bảo tôi qua đây.
“Cái còn lại cũng đã xuất hiện”, ông nói nhỏ với tôi. “Walt Myers đang ở đầu dây bên kia. Ông ta gọi… Không, Walt, tiếp tục đi, tôi chỉ nói vài câu với Jean thôi.”
Mặt trời lạnh đi vài phần. Nếu có cái gọi là nắng buốt thì chính là đây. Nó bắc thành một tấm ván màu xám từ bệ cửa sổ xuống sàn nhà.
Thấy tôi định quay đi, ông vội vươn bàn tay còn tự do ra giữ tôi lại, với sự khẩn thiết như nài nỉ. “Không, chờ đã, đừng đi. Bố muốn con ở cạnh.”
Có cái gì đó xót xa trong cử chỉ yếu ớt ấy đâm thẳng vào tim tôi. Ông muốn tôi ở cạnh, một tiếng kêu bản năng của cô đơn, của bất lực, của hoang mang, lại là ông chứ không phải ai khác. Phải rồi, cái trục của thế giới chúng tôi sống đã đảo nghiêng.
Tôi đứng bên cạnh ông, ông quàng một cánh tay qua vai giữ lấy tôi. Và trong lúc đứng dựa vào ông, tôi có thể cảm thấy tim ông đập nhanh hơn bình thường. Không phải vì những điều Myers đang nói với ông, mà vì đó là Myers.
“Cổ phiếu gộp của tôi”, ông thở bên tai tôi. “Tôi còn không nhớ mình có...”
Ông lại lắng nghe.
Rồi ông nói, “Có chuyện gì đó đã xảy ra sau giờ đóng cửa hôm qua, bản thân ông ta cũng không biết là chuyện gì. Chúng đang lao dốc không phanh...”
Ông nghe tiếp.
“Ông ta muốn biết mình có nên bán tống bán tháo khi chúng vẫn còn chút giá trị không.”
Ông vẫn nhìn tôi. Nhưng tôi biết không phải ông đang nghĩ đến tôi. Tôi biết ông cũng không nghĩ đến điều Myers đang nói. Tôi biết ông đang nghĩ đến gì. Ông mang ánh mắt xa vắng, nửa lo sợ, nửa bực dọc. Ông không hiểu nổi. Ông không hiểu làm sao người này lại ở đầu dây bên kia, vào đúng lúc này.
“Có quan trọng không?” Tôi hỏi.
“Nó không phải vấn đề nếu con sở hữu vài trăm. Nhưng khi chúng lên tới năm hay mười ngàn, thì một phần rất nhỏ cũng có thể…”
Ông dừng lại, rồi nói tiếp, “Quá muộn rồi. Đã hết lãi. Giờ nó đã chìm, dưới giá mua của chúng ta.”
Myers hẳn đang gào hết cỡ giọng, ống nghe phát ra tiếng rào rạo.
“Ông ta muốn biết chúng ta có nên vớt vát những gì còn có thể không, chấp nhận bán lỗ. Ông ta rất muốn biết.” Ông nói vào điện thoại, “Tôi nghe thấy, Walt, tôi có nghe. Tôi hiểu anh đang nói gì. Không cần lặp lại. Không phải thế.” Rồi lại quay sang tôi, “Bố chỉ nghĩ đến việc chúng ta đã được báo trước về cú điện thoại này tối hôm qua, trước khi ông ta biết mình sẽ gọi.”
Đó cũng là tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến. “Tốt hơn bố hãy nói gì đó với ông ta”, tôi tuyệt vọng đáp.
Ông tiếp tục nói với tôi, “Hắn đã nói gì nhỉ? Chính xác hắn đã nói những gì?” Rồi ông tự nhắc lại, “‘Về với người môi giới và việc mua cổ phiếu của ông’... ‘Người môi giới và việc mua cổ phiếu của ông’.”
Cánh tay ông đột ngột rời khỏi vai tôi. Ông đang nói vào điện thoại, nhanh, rõ ràng, khẩn trương, “Hiện tôi còn bao nhiêu, Walt? Không, cổ phiếu ấy.” Ông rút chiếc bút chì trong túi ra và viết một con số lên lề một tờ báo cũ để gần điện thoại. Con số có bốn chữ số. “Được rồi. Nhân đôi lên. Mua cho tôi số lượng tương đương. Mua cho tôi thêm...”
Điện thoại kêu tách một cái. Hẳn đó là tiếng hét chói tai ở đầu dây bên kia.
“Mua, tôi bảo. Mua. Giờ anh mới là người không nghe rõ lời tôi đấy. M-u-a. Mua.”
Điện thoại kêu xào xạo, trong những nghịch âm chói tai.
“Mua”, ông cương quyết lặp lại. “Đó là lệnh của tôi.” Đoạn ông gác máy.
Ông không mỉm cười, cũng không vui vẻ cho lắm. “Sẽ chịu lỗ gấp đôi”, ông nói, “chỉ để chứng minh câu nói chết tiệt kia là sai. Bố hy vọng nó hạ xuống năm. Bố hy vọng nó hạ xuống không. Bố hy vọng nó nổ tung trước mặt chúng ta.”
“Món dưa hấu đang đợi bố đó”, tôi nói.
Chúng tôi đi vào phòng ăn và ngồi xuống bàn. Ở đây tràn ngập ánh nắng, nhưng tôi ước mình đã mặc cái gì đó ấm hơn. Tôi kéo chiếc áo len sát vào vai hơn.
Chúng tôi cùng chọc thìa vào miếng dưa, rồi để nó găm vào đó, như thể nó bị mắc vào quá nhanh. Ông bắt đầu mở những bức thư. Tôi ngồi kéo qua kéo lại cán thìa, như thể đang cố rút nó ra.
“Con xem này”, ông nói.
Địa chỉ được viết rất ẩu, bằng mực. Thậm chí tên chúng tôi còn sai, chỗ đáng ra là chữ i lại viết thành e, và góc trên bên trái cũng viết xấu chẳng kém. “J. Tompkins.”
Không có gì bên trong, không giấy, không báo. Chỉ có tiền. Năm tờ bạc. Ông cầm ngược phong bì lên và lắc, chúng rơi ào xuống mặt bàn.
Tôi không dám chạm vào chúng. Tôi thậm chí còn nhích ra xa, như thể chúng đe dọa tôi. Đúng là như thế.
“Số tiền bố đã để dưới bình thuốc lá”, ông nói. “Dấu bưu điện là nửa đêm. Hẳn là hắn đã bỏ vào hòm thư ngay khi phát hiện ra nó.”
“Và ông ta đang xem mục tuyển dụng trước khi chúng ta bước vào.”
Nhận thấy để số tiền trên bàn khiến tôi hoảng sợ, ông bèn nhặt lên nhét bừa vào ví. Cử chỉ có vẻ tùy tiện, nhưng bàn tay ông lại hơi vụng về, lóng ngóng như thể chúng không hoàn toàn vững vàng.
“Cái bẫy không có tác dụng”, tôi nói. “Ông ta không sập bẫy. Không thể mua được ông ta.”
Ông phe phẩy cái phong bì. “Đó là thông điệp mà chúng ta nhận được”, ông tán thành.
Ông vò nát nó trong một tay rồi ném đi.
“Hoặc có lẽ hắn thông minh hơn mức giá năm trăm đô la của cái bẫy”, ông nói, chiếu ánh mắt điềm tĩnh vào tôi. “Có thể sự tinh khôn của hắn thuộc dạng dài hơi, không thích tiền nóng, mà phải để nó lãi mẹ đẻ lãi con.”
Ông gõ gõ lên bàn. “Khi năm trăm đô la được chấp nhận, cần gì đưa ra một nghìn? Nhưng nếu năm trăm bị từ chối, con có thể làm gì khác ngoài đưa ra một nghìn? Và con số cứ thế tăng lên. Bố chỉ nói ví dụ thế thôi.”
Nhưng khi nhìn ông, khi nghe cách mà ông nói, tôi có thể thấy bản thân ông không tin vào điều đó nữa. Ông nói vậy chỉ vì tôi. Hoặc có thể chỉ vì ông. Nhưng tôi biết không ai trong chúng tôi tin, kể cả ông có khẳng định.
Myers gọi lại vào lúc xế chiều, khi bố không có nhà. Tôi nói sẽ bảo ông gọi lại cho ông ta ngay khi ông về. Ở nhà riêng, nếu ông ta không còn ở văn phòng. Ông ta muốn tôi chuyển lời nhắn, nhưng tôi không nhận. Tôi sợ phải nghe nó. Tôi vội vã cúp máy trước khi ông ta kịp bắt đầu. Ông ta nói năng gần như lộn xộn, có vẻ rất căng thẳng.
Ông ta gọi thêm ba lần nữa, không chịu chờ, mỗi lần cách nhau mười lăm phút. Tôi để người hầu nghe điện. Tôi biết ông ta sẽ không trao thông tin cho họ.
Sau đó, ông ta bỏ cuộc. Đằng nào thị trường giao dịch lúc đó cũng đã đóng cửa.
Khi bố về vào giờ ăn tối, tôi kể lại chuyện Myers đã điên cuồng tìm cách liên lạc với ông ra sao. “Ông ta lùng sục khắp nơi, lật tung cả thành phố. Ấy vậy mà không thấy tăm hơi bố đâu, ông ta bảo thế.”
“Bố biết. Bố cố tình lánh mặt cả ngày. Bố muốn cho nó toàn bộ lợi thế nó cần.”
“Giờ về nhà rồi, bố có định gọi lại cho ông ta không?” Tôi hỏi.
“Không, bố không đủ can đảm, bố sợ.” Và tôi biết ông không nói đến tiền nong hay lỗ lãi.
Đúng lúc đó, điện thoại bất thần reo. Chúng tôi giật bắn mình như bị dòng điện chạy qua người.
“Ông ta gọi”, ông nói. Ánh mắt chúng tôi nhìn sang nhau. “Thật là địa ngục, bố không thể chịu đựng thêm chuyện này nữa.”
Ông vào nghe máy, còn tôi đi hướng khác, nơi tôi không thể nghe được gì, đi xa nhất có thể.
Tôi chờ mãi, nhưng ông không cho gọi tôi hoặc đến tìm tôi. Cuối cùng hết chịu nổi, tôi quay lại chỗ ông.
Cuộc gọi đã kết thúc. Ông đang cúi xuống rót cho mình một ly brandy nữa, giống như tối qua. Gương mặt ông trắng nhợt, gần như sáp. Dường như ông rất khó khăn mới đứng thẳng được lên, rất khó khăn để rời khỏi góc tủ.
“Giá giảm thêm một phần tư điểm sau khi ông ta thực hiện lệnh của bố”, ông kể, “sau đó chững lại, dao động một lúc, cuối cùng bắt đầu tăng. Có thể là do lệnh đặt mua của bố, bố không biết nữa. Kể từ đó, nó tăng đều đặn, mỗi lúc một nhanh. Nửa giờ trước khi đóng cửa, nó đã chạm điểm khi mới bắt đầu hạ. Vào lúc ba giờ, khi giao dịch kết thúc, nó đã tăng thêm hai điểm một phần tám, và rất có khả năng tăng mạnh hơn vào ngày mai.”
Ông uống cạn ly rượu và ho, nhưng mặt vẫn trắng bệch.
“Chúng ta đã có hai mươi hai ngàn đô la, tính đến ba giờ chiều nay. Và ngày mai có thể lên bốn mươi hoặc năm mươi.”
Nhưng mặt ông vẫn trắng.
“Đây”, ông nói, “con có muốn một ly không?”
Hẳn là mặt tôi cũng trắng bệch.
Có lẽ đây mới là cái bẫy, tôi sợ hãi nghĩ. Không phải mánh khóe năm trăm đô la giấu dưới bình thuốc lá.
Nhưng nếu thế thì mẩu pho mát nằm ở mặt bên kia, con chuột và miếng mồi đã đổi chỗ cho nhau.
Khoảng hai, ba ngày sau, Eileen đến. Signe nói có người chờ gặp tôi trong sảnh dưới nhà, không biết rõ là vì chuyện gì. Tôi đi xuống mà không hỏi cặn kẽ danh tính vị khách. Dù gì tôi vẫn sẽ xuống, ngay cả đã biết, nhưng tôi ắt sẽ tránh được cơn rùng mình mà sự xuất hiện bất ngờ của cô gây nên. Không phải do cô, bản thân cô, mà do nơi mà cô xuất phát, người mà cô dính líu. Bởi giờ đây, trong tâm trí tôi, cô vĩnh viễn đi liền với nó, mặc kệ chuyện đó có công bằng hay không.
Chính xác thì tôi bắt gặp cô đang đứng khép nép nơi bức tường dưới đó - hình như cô luôn bám vào tường, hơn là dám đứng chính giữa, trong mọi cuộc nói chuyện - bên cạnh cái đi-văng nhỏ, nhưng quá nhút nhát để ngồi xuống chờ tôi, mặc dù đó chính là mục đích cô đến. Trên cánh tay vắt chiếc khăn choàng lông thú mà tôi nhận ra là của mình, bàn tay xách một chiếc túi giấy phồng phồng mà xem hình dạng thì hẳn là chiếc mũ của tôi.
Tôi nói từ lưng chừng cầu thang, “Ồ, Eileen, chào chị”, và tiếp tục đi xuống từ điểm dừng ngắn ngủi khi mới trông thấy cô.
“Tôi không có ý làm phiền cô, cô Jean”, cô nói run run. “Tôi không biết mình có nên cứ để chúng ở đây cho cô hay...”
Tại sao cô không làm thế? Tôi tự hỏi.
“Cô để những thứ này ở nhà chúng tôi tối hôm nọ và... nếu có thể, tôi muốn lấy lại đồ của mình.”
Tôi đã quên mất là mình cầm chúng. Nhưng cô ta thực sự muốn đòi lại hay đó chỉ là cái cớ để gặp trực tiếp tôi? Lại là một trong những cái nhãn hai mặt ấy, mặt nào trái, mặt nào phải? Giờ bất cứ chuyện gì nhỏ nhặt nhất cũng liên quan đến những người này, không thể chịu nổi. Bố nói đúng, thật như địa ngục.
“Nếu biết trước thì tôi đã mang xuống luôn cho chị rồi.” Sau đó tôi hỏi cô điều tôi thực sự thắc mắc, “Vừa rồi chị có nói với Signe chị là ai không?”
“Không”, cô xấu hổ thú nhận. “Tôi chỉ yêu cầu được gặp cô. Tôi sợ rằng cô... có thể không muốn nhìn thấy tôi. Và tôi rất muốn lấy lại đồ...”
“Nhưng họ cũng sẽ đưa cho chị thôi mà.”
“Tôi không biết điều đó, cô Jean.” Cô khúm núm. “Tôi tưởng họ phải được sự cho phép của cô. Hoặc họ không biết thứ tôi nói đến. Họ có thể đưa nhầm cho tôi thứ gì đó tốt, của cô.”
Mặt nào là trái? Mặt nào là phải?
Nhưng thôi, cứ cho là cô đã dùng thủ đoạn để gặp tôi đi, giờ cô gặp rồi đó, sao nữa? Cô muốn gì? Động cơ sẽ để lộ bản chất, hoặc sự việc xảy ra là tự nhiên, không được tính toán.
Tôi sai một cô hầu lên lấy đồ, miêu tả và chỉ dẫn chính xác cho cô ấy nơi tìm chúng.
Có một sự chờ đợi đầy gượng gạo, không ai trong chúng tôi nói nửa câu.
Cô hầu trở xuống, mang theo chiếc áo khoác mềm rũ và chiếc mũ nồi, mũi cô này hếch lên trước chúng để tỏ vẻ với Eileen. Cô ấy đưa chúng cho Eileen với sống lưng ưỡn ra, như cố không ở quá gần chúng. Đó là một trong những thái độ trưởng giả khoa trương nhất tôi từng thấy và tôi không mấy ưa. Xét cho cùng, tôi đã khoác những thứ đó lên người mà bản thân không hề có cảm giác khinh thường. Chỉ có nỗi sợ hãi nhuốm màu mê tín, nhưng khinh thường thì không.
Tôi đợi đến khi chỉ còn lại hai người. “Nghe này”, tôi nói, “chị có thích chiếc mũ hay chiếc khăn choàng lông thú không? Chị có muốn giữ chúng lại cho mình không? Tôi không cần lấy lại chúng.”
Cô vội vàng đặt cả hai thứ xuống đi-văng. Xem ra đến cả việc muốn cho cô cái gì đó cũng khiến cô phát hoảng. “Ôi không, thưa cô, tôi... Rất cám ơn cô, tôi rất cảm kích, nhưng tôi không thể... Tôi không thể làm thế.”
“Tại sao?” Tôi hỏi dồn. “Sao lại không? Sao chị không thể nhận?”
“Ôi, tôi không biết, thưa cô...” Cô lùi lại một bước, rất hợp với lời biện bạch thụt lùi của mình.
“Nhưng chị phải biết chứ”, tôi khăng khăng. “Tôi sẽ không bao giờ mặc lại chúng nữa.” Tôi không thể, tôi không có khả năng. Chúng được ngâm trong nỗi sợ hãi, chúng đã nhuộm màu của nó, mang mùi vị của nó, dấu ấn của nó. Tôi không bao giờ có thể nhìn lại chúng nữa. “Vậy sao chị không lấy đi?”
“Tôi không thể.” Cô lùi xa hơn. “Như thế chẳng khác nào lợi dụng...” Cô không nói hết.
“Lợi dụng cái gì?”
Tôi không khai thác được cô. Nhưng không cần, tự tôi suy luận được. Không tỏ lòng biết ơn vì món quà, không hối tiếc về việc nhận chúng, đó là điều nằm trong dự đoán. Phần thưởng này không được bình thường, chúng gây ra sự xấu hổ. Khổ sở, rủi ro, tai họa, rắc rối, một trong những từ đó là từ ẩn tàng. Một trong những từ đó là từ đúng.
Tôi đi cùng cô ra cửa. Cô dừng lại ở đó và quay sang tôi, như thể cuối cùng buộc phải nói điều mà bản thân muốn nói từ đầu, nhưng không đủ dũng khí, mãi đến lúc này khi không còn thời gian nữa.
Động cơ. Động cơ của chuyến viếng thăm sắp lộ ra.
“Tạm biệt, cô Jean. Và... chúc cô mọi điều tốt đẹp.”
Nói như chia tay lần cuối? Là sao?
Cô muốn nói điều gì hơn thế. Tôi rất muốn hợp sức với cô để moi nó ra, nhưng không thể hiện ra mặt.
Cuối cùng cô thì thào trong sự táo bạo hấp tấp, “Cô đừng đến đó nữa. Cố gắng đừng đến nữa.” Ngay sau đó cô run lẩy bẩy lùi thêm một bước, cứ như sắp bị quở mắng đến nơi.
“Ồ?” Là tất cả những gì tôi thốt ra.
“Vì bản thân hai người, cô và ông Reid”, cô rên rỉ thảm thương.
Lần này tôi không nói được gì.
“Nó chỉ dẫn đến kết cục tồi tệ thôi”, cô lẩm bẩm chua xót.
Cô không ở ngay trước mặt tôi ngoài cửa nữa, nên tôi đành đóng cửa lại. Cô đã lao qua các bậc thang xuống lối đi.
Có động cơ. Và lại là hai mặt. Mặt nào là phải? Mặt nào là trái? Xảo trá hay thành thật? Đó là mồi nhử theo chiều trái ngược, nhằm dụ chúng tôi say máu hơn bằng cách làm giảm nhuệ khí chúng tôi? Hay đó là sự năn nỉ thực lòng, xuất phát từ trái tim thuần hậu của cô? Hay cô chỉ là người trung gian thật thà và vô tư cho một miếng mồi được chuẩn bị công phu từ một kẻ khác, chuyển cho chúng tôi qua cô?
Tôi đứng đó, áp chặt hai tay lên đầu như muốn nghiền nát nó ra. Chuyện này thật không chịu đựng nối, nó biến cuộc sống thành một mê cung cùng quẫn. Sợ hãi, sợ hãi, ở khắp nơi xung quanh đều là nỗi sợ hãi. Những lối ra nằm ở những rào chắn thực tại, những rào chắn nằm ở những lối ra thực tại. Anh không biết phải chọn cái nào, anh cứ đi loanh quanh trong tuyệt vọng, cho đến khi gục xuống vì kiệt sức.
Từ trên sảnh, cô hầu chăm chú theo dõi tôi.
“Cô ta làm cô đau đầu à?”
“Đau toàn thân”, tôi nói, “từ đầu đến chân.”
Tôi đi qua những món đồ Eileen để lại trên đi-văng. “Mang những thứ này đi”, tôi bảo. “Vứt đâu thì vứt, tôi muốn chúng biến khỏi tầm mắt của mình.”
Cô ấy hăm hở bổ nhào vào chúng và loáng một cái, chúng đã biến mất.
“Thế là kết thúc”, tôi tự nhủ. Giờ đã xong, chấm dứt. Sợi dây kết nối đã đứt. Không còn lí do gì để chúng tôi đến đó nữa, không còn điều gì kéo họ đến chỗ chúng tôi nữa. Không gì ngoài sự điên rồ của chúng tôi.
Hừ, tưởng chúng tôi ngu ngốc lắm sao!
Tôi thấy bố ngồi trong xe, đang đợi tôi trước cửa, vào mấy ngày sau đó. Tôi không biết là nhiều hay ít ngày. Tôi cho là đủ để tranh đấu, để cưỡng lại nó. Tám hay mười hay mười hai, hoặc có thể tròn hai tuần.
Tôi có thể khẳng định ông đang đợi tôi, bởi hai điều: Ông đang ngồi cạnh ghế lái chứ không phải sau vô lăng, và cách ông nhìn về hướng cửa khi tôi bước ra.
Tôi tự hỏi tại sao ông có thể ngồi nhìn tôi đầy trông đợi như thế trong suốt thời gian tôi đi xuống các bậc thềm.
Tôi bước đến bên cạnh xe và đứng yên ở đó.
Ông không lảng tránh. “Jean”, ông bất chợt nói, “bố định đến đó.”
Không cần phải nói trắng ra, tôi đã biết “đó” là nơi nào.
“Con có muốn đi cùng bố không?”
“Họ thậm chí đã lấy đi cái cớ duy nhất. Cô ta đã đem trả đồ cho con sau đó một, hai ngày, bố biết mà.”
“Bố biết, nhưng Jean ạ, chúng ta là con người. Bố sẽ đi không cần lí do, bố không có cái cớ nào cả.”
“Chỉ... Chỉ vì tò mò không đâu ư? Chỉ để thử ông ấy nữa sao?” Một trong số ít lần trong cuộc đời, tôi thấy thất vọng về ông.
“Ờ, bố vì công việc”, ông tiếp tục.
“Vậy thì bố có một cái cớ...”
“Không giống nhau. Phải thú thật là bố đang không trung thực với bản thân. Nếu bố tìm hắn vì một lí do tầm thường ngụy tạo, rằng bố không tin vào chính mình, chỉ để thử hắn, thì bố có thể nói rằng mình đang lấy cớ. Nhưng bố sắp tìm đến hắn về một chuyện rất quan trọng, đó không còn là cái cớ nữa. Trong trường hợp này, lí do ấy rất hệ trọng với bố. Nó không nằm ở hắn, không phải việc hắn có thể hay không thể làm được gì với nó. Bố không biết liệu con có hiểu ý bố hay không.”
“Con nghĩ là con hiểu ý bố”, tôi nói, rồi buồn bã bổ sung, “nhưng bố vẫn sẽ đi.”
“Jean, bố hết cách rồi. Bố không biết làm gì khác. Bố không biết trông cậy vào ai nữa.”
“Con đã nghĩ bố có vẻ bồn chồn trong bữa ăn tối nay
“Tối nay? Nó đã diễn ra nhiều ngày rồi...”
Tôi mở cửa xe. “Con sẽ chở bố đi”, tôi nói.
“Con không phải đi cùng nếu con không muốn.”
“Con không muốn đến đó.” Tôi ngồi vào ghế. “Nhung con muốn đi bất cứ nơi nào bố đi. Và nếu đó là nơi bố sắp đến, thì con sẽ đến đó cùng bố.”
Tôi đóng cửa xe và nổ máy. “Lần đi này còn khó cưỡng lại hơn cả lần đi trước đấy, bố ạ.”
“Bố biết mà, Jean”, ông đáp một cách rã rời.
Xe chạy được một lúc.
“Không phải chuyện cổ phiếu nữa chứ ạ?”
“Không, đó là trò hạ lưu.” Ông không nói gì thêm một lúc lâu. Rồi, khi chúng tôi gần đến nơi, “Có một cuộc đình công ở duyên hải, con biết chứ.”
“Con biết.”
“Bố có một lô hàng lụa thô, trị giá lên hàng nghìn. Nó bị kẹt ỏ Honolulu mấy tháng nay. Không thể dỡ hàng ở Frisco. Bố nhận được đề nghị mua lại từ một tay lái buôn ở Iceland, dưới giá gốc đáng kể, còn nói chi đến lời lãi. Vụ này hoặc bố tranh thủ bán được đồng nào hay đồng nấy hoặc mất tất cả. Tình hình trì trệ không biết bao giờ mới thông. Bố đã soạn bức điện chấp nhận đề nghị, nó đang nằm trong túi bố đây.”
Tôi đạp phanh, chúng tôi đã đến nơi.
Ông bước xuống xe.
“Con có nghĩ bố thật ngây ngô không, Jean?”
“Bố chỉ đang hành động như một người bình thường, bất cứ ai trong chúng ta đều có thể như thế.”
Ông đi vào.
Tôi ngồi lại trong xe.
Ông trở ra.
Chúng tôi phóng đi. Tôi không hỏi gì ông. Một lúc sau, ông lấy trong túi áo ra bức điện để trống, lật mặt sau và viết bằng bút chì một lời nhắn mới cho người đại lí của ông ở Honolulu. Tôi không thể không nhìn sáu chữ đó, chúng được viết hoa: “Bảo hắn cút xuống địa ngục.”
Trong vòng chưa đầy hai tư giờ, đích thân Tổng thống ra tay can thiệp, mọi chuyện được phân xử và giải quyết ngay trong ngày. Việc bốc dỡ hàng được tái khởi động lần đầu tiên trong sáu tháng. Những cố vấn thân cận nhất cũng không hề biết ý định của ông ta là gì, báo chí viết.
Bằng vận may bất ngờ ấy, lô hàng của chúng tôi đến San Francisco sớm hơn tất cả các đối thủ. Bố tôi thu về gấp đôi số vốn ban đầu. Một cuốc xe ngắn đến khu nhà tập thể tồi tàn, leo mấy bậc cầu thang, đã đem lại lợi nhuận hai trăm nghìn đô la. Ông nói với tôi chính xác những chi tiết đó.
Tôi ngồi ngoài xe đợi ông, điếu thuốc trong tay, chiếc áo choàng màu lam nhạt khoác hờ trên vai. Tôi sẽ không bao giờ lên đó lần nữa, tôi không biết vì sao. Tôi sẽ không bao giờ hỏi ông lần nữa, tôi không biết vì sao. Ông sẽ lại trở xuống, lần nào cũng kể cho tôi những mẩu chuyện vụn vặt. Tôi luôn mong ước ông đừng kể thì hơn, con tim tôi sẽ thắt lại.
“Hắn biết bà nội con mất năm bố mười bốn tuổi.”
Chính tôi cũng không biết khi ấy ông bao nhiêu tuổi.
“Hắn biết chính bộ kimono và tấm áo choàng lụa tuyệt đẹp của bà đã thôi thúc bố tham gia ngành xuất nhập khẩu lụa khi trưởng thành.”
“Thật sao?”
“Ừ, chính bố còn không nhớ cho đến tận bây giờ.”
Con tim tôi thắt lại, từng phần của nó quặn lại khôn nguôi.
Tôi ngồi ngoài xe đợi ông, chiếc áo choàng màu nâu đỏ khoác hờ trên vai. Tôi không bao giờ lên đó nữa. Tôi không bao giờ hỏi ông nữa. Ông kể cho tôi những mẩu chuyện vụn vặt. Tôi luôn mong ước ông đừng kể thì hơn.
“Con có nhớ buổi tối tất cả chúng ta cùng đến hộp đêm Embassy mừng sinh nhật cô Louise Ordway không? Chúng ta đã đi một cách rất miễn cưỡng. Nhớ đôi giày mới làm chân con bỏng rát sau khi khiêu vũ, nên con đã tháo chúng ra và để dưới gầm bàn cho đôi chân được nghỉ ngơi? Những người khiêu vũ khác đã đá chúng lăn khắp phòng, con không bao giờ lấy lại được đôi giày đó, Tony đã phải bế con ra xe với đôi chân mang tất, con nhớ không?”
“Ông ta... biết chuyện đó?”
“Đôi giày hiện được bày nơi cửa sổ một cửa hàng lạc xoong trong khu cầm đồ, số 21 đường Norfolk. Từ ngoài đường không thể nhìn thấy chúng. Chúng ở sau một cây đàn banjo cũ khổng lồ.”
Ngày hôm sau, tôi lái xe đến đó và bước ra. Tôi chỉ nhìn thấy được cây đàn banjo, không thấy gì khác.
Tôi đi vào cửa hàng.
“Ông có một đôi sandal dạ tiệc của nhỏ màu vàng kim ở cửa sổ. Cho tôi xem chúng được không?”
“Theo như tôi biết thì không có, thưa cô. Có lẽ cô đã nhầm.” Chủ cửa hàng đi tới cửa sổ và tìm kiếm từ bên trong, tôi theo sát ông ta.
Từ bên trong cũng không thể thấy chúng. Chỉ có mặt sau cây đàn banjo và một mớ hôn độn những đồ lặt vặt. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm.
Ông ta thục tay vào khua khoắng trong đống đồ, chỉ để không lỡ mất cơ hội bán được hàng, và đôi giày hiện ra.
Ông ta gãi đầu, miệng há hốc. “Tôi không biết là mình có chúng đấy”, ông ta kinh ngạc.
Tôi ngồi xuống mang thử. Gót 4A đóng vào khuôn giày 2A, cỡ số ba. Bàn chân tôi ngày xưa nhỏ khủng khiếp, giống bàn chân bó của người Trung Quốc. Chúng vừa như in.
Tôi đá đôi giày ra một cách kích động, đến nỗi chúng lộn mấy vòng trong không khí. Rồi tôi chạy khỏi cửa hàng đó mãi mãi.
Tôi ngồi đợi ông, chiếc áo choàng màu mận chín khoác hờ trên vai. Tôi không bao giờ lên đó nữa. Tôi không bao giờ hỏi ông...
“Con có nhớ tập thư tình bố viết cho mẹ hồi bố đang theo đuổi bà ấy không? Không, con không biết đâu.”
“Bố từng kể cho con nghe về chúng. Khi mẹ đi học ở Thụy Sĩ. Mẹ luôn mang theo chúng, buộc chúng bằng một sợi ruy băng, kể cả sau khi mẹ cưới bố. Sau khi mẹ con mất, đến lượt bố giữ chúng...”
“Bố không nhớ chúng nằm ở đâu nữa, bao nhiêu năm qua rồi. Bố và hắn ta... nói về bà ấy, bố không hiểu sao đề tài đó lại xuất hiện nữa. Hắn bảo bố là chúng đang ở trong một hộp ký gửi an toàn tại ngân hàng an ninh quốc gia. Hẳn là bố đã gửi chúng vào đó mười bảy năm trước. Hắn bảo sợi ruy băng ấy màu xanh lam. Hắn nói có tổng cộng bốn mươi tám bức thư. Bà ấy đi gần một năm và bố đã viết mỗi tuần một lá... Bố phải đến đó xem...”
Tôi đưa tay bịt tai lại. Ông đang cầm lái nên chiếc xe vẫn chạy thẳng.
“Chiếc vòng cổ nạm đá quý và kim cương bố tặng bà ấy cũng nằm ở đó. Giờ thì bố nhớ rồi. Hắn nói có mười viên kim cương, nhưng chỉ có chín viên đá quý. Một viên đã bị mất, chúng ta chưa bao giờ thay... Bố phải đến đó một chuyến”, ông lại nói.
Để làm gì? Sợi ruy băng sẽ có màu xanh lam. Sẽ có bốn tám bức thư. Một viên đá quý sẽ bị mất.
“Con có biết số của chiếc hộp an toàn không?”
Tôi nghĩ ông đang hỏi tôi để tiếp tục mạch chuyện.
“Không, bố có biết không?”
“Không”, ông đáp.
Rồi ông nói, “Hắn bảo là 1805.”
Tôi gọi điện cho người gác hầm của ngân hàng vào sáng hôm sau.
“Tôi là Jean Reid. Anh có thể cho tôi số của hộp ký gửi an toàn của chúng tôi không?”
“Tôi xin lỗi, cô Reid”, người gác hầm nói. “Tôi sẽ gọi lại cho cô sau, chủ tài khoản ở đây phải được nhận dạng trước khi tôi có thể cung cấp bất cứ thông tin nào.”
Tôi chờ, một lúc lâu sau anh ta mới gọi lại.
“Chỉ để đảm bảo an toàn thôi”, anh ta nói. “Con số mà cô hỏi là 1805, một-tám-không-năm.”
Tôi ngồi đợi ông, chiếc áo choàng màu nâu vàng khoác hờ trên vai. Tôi không bao giờ lên đó, cũng không bao giờ hỏi. Ông không kể chuyện cho tôi nghe nữa. Tôi mừng vì ông không kể...
Tôi ngồi đợi ông, chiếc áo choàng màu xanh lục khoác hờ trên vai...
Tôi ngồi đợi ông, chiếc áo choàng màu đen khoác hờ trên vai, như tôi đã ngồi đây bao nhiêu lần trước, bao nhiêu lần mà giờ đây tôi không còn đếm được, trước cùng một cánh cửa ấy, cùng khu nhà ấy. Con đường trải dài hút mắt phía trước tôi, hai mép đường xiên xiên thu hẹp rồi chụm vào nhau. Những ngôi nhà chạy dọc theo nó ngắn dần lại cho đến khi chúng như chìm vào lòng đất. Mọi thứ trông đều tăm tối, như thể có một đám bụi than được thổi qua rồi nhẹ nhàng miết vào.
Trên cao là những ngôi sao, dường như thu nhỏ rồi lại nở ra, như những lỗ chân lông sống kì dị trên nền trời. Chúng là một phần của nó. Chúng chính là nó.
Dưới đất là tôi, ngồi bất động trong một chiếc xe. Tôi không nhúc nhích trong nhiều phút. Thỉnh thoảng tôi thấy một làn khói mỏng trôi qua trên kính chắn gió và dập dờn chìm vào bóng tối bên kia đường. Làn khói đó là từ tôi. Có một lần, tôi nghĩ mình đã lật cổ tay và bụm lấy chúng, đưa chúng lại gần bảng điều khiển, nhưng giờ tôi không nhớ đó là lần nào. Kể cả khi ấy, chắc tôi cũng không biết, tôi làm thế chỉ vì thói quen.
Nhưng ngoài lần đó ra, tôi không hề nhúc nhích. Tôi ngồi đợi trong bất động.
Bỗng nhiên tôi trông thấy ông ở cửa, chắc ông đã ở đó một, hai phút trước khi tôi phát hiện ra. Vì ông đứng yên, ông không phải chỉ vừa dừng bước. Những đường nét của người ông đã nhòa đi vì đứng không mục đích, như thế nếu người ta đứng quá lâu một chỗ, trong môi trường gọi là đêm như thế này, người ta bắt đầu bị nó hấp thu, mòn dần đi ở những gò cạnh.
Tôi mở cửa xe cho ông, đỡ cho ông phải tự mở. Dường như ông không thấy hành động của tôi, hoặc nếu có, ông cũng không biết để làm gì. Ông không động đậy.
Cuối cùng, ông loạng choạng bước đi. Và ông đi sai hướng, nó sẽ dẫn ông ra xa tôi nếu ông cứ đi theo nó.
“Bố”, tôi gọi. “Con ở bên này, con ở đây.”
Trong một thoáng, tôi gần như nghĩ mắt ông gặp vấn đề. Hoặc ở đó quá tối mà ông thì lạ đường hoặc...
Rồi ông chập chững quay lại và đi về phía tôi. Tôi nhận ra không phải là mặt ông. Gương mặt ông bị làm sao đó. Toàn bộ khuôn mặt. Như thể đã có một vụ nổ ngay phía trước nó cách đây một phút. Và lực đẩy, sức ép phẳng, sự tẩy trắng khủng khiếp mà nó nhận phải vẫn chưa tan đi. Hoặc gần như là có một cái gì đó vẫn đang thắp sáng nó, khiến nó mang ánh xanh xao của lân quang, như một trong những hình phản chiếu của ánh nước qua tấm gương.
Ông không tìm được chỗ cửa mở. Tôi thấy ông mò mẫm dọc cạnh trên cánh cửa bằng đôi tay run rẩy và thất bại, dù nó ở ngay trước mặt ông.
“Bố ốm à?” Tôi hỏi. “Có chuyện gì vậy?”
“Giúp bố lên xe” ông nói.
Tôi kéo ông vào, ông ngồi phịch xuống cạnh tôi. Cả khung ô tô hơi chao đảo, một sự suy sụp quá chung cuộc, quá dứt khoát, quá ngặt nghèo.
Tôi thấy ông loay hoay với cái cổ áo, tôi nhanh chóng mở nó ra cho ông và tháo cà vạt của ông.
“Ổn rồi”, ông thì thầm với vẻ khó nhọc. “Đừng để ý.”
Tôi rút khăn tay của ông ra, thấm lên trán ông.
“Trông bố như một bóng ma ấy”, tôi nói.
“Đúng vậy”, ông thở mạnh. “Bố chính là ma.”
Đột nhiên, mặt ông đổ về phía trước, úp vào vô lăng. Ông ngồi sau vô lăng vì tôi đã di chuyển sang bên kia để cho ông ngồi cạnh tôi. Mặt gác giữa những nan vô lăng, ông như đang nhìn chằm chằm qua chúng xuống sàn xe. Hai bàn tay chậm chạp đặt lên hai bên vành vô lăng, giống như ông đang lái xe, trong tư thế u mê và rũ rượi như thế, cùng cái nhìn chòng chọc xuống dưới sàn.
Cơ thể ông rung lên một, hai lần, nhưng không có âm thanh nào phát ra và không có giọt nước mắt nào rơi xuống. Chắc đã lâu lắm rồi ông không khóc, ông không còn biết cách khóc như nào nữa.
Tôi choàng tay qua người ông, ôm lấy vai ông một lúc. Lúc này, cả hai chúng tôi cùng đổ về phía trước như nhau.
“Không có gì đâu”, ông nói. “Con đừng bận tâm.”
Ông ngồi thẳng lên trở lại.
“Ông ấy đã nói gì sao?”
Ông lắc đầu và nói, “Không...” Rồi sau đó là một khoảng lặng dài, là khúc rời rạc của một lời nói dối.
“Chắc chắn là có. Bố hoàn toàn bình thường khi đi vào đó, bố không có biểu hiện như bây giờ.”
Một cảm giác điên loạn bắt đầu dâng lên trong tôi. Một nỗi hoảng sợ đầy kích động, bắt nguồn từ ông.
“Ông ấy đã làm gì bố? Cho con biết đi!”
Tôi nắm lấy hai ve áo ông và bắt đầu lắc ông như một đứa bé vòi quấy. Tôi bắt đầu khóc, với cơn giận dữ bất lực vì không được biết.
“Cho con biết. Bố phải cho con biết, con có quyền được biết.”
“Không”, ông nói, “không phải chuyện này.”
“Con có quyền. Con là Jean! Nhìn con đi. Trả lời con đi. Ông ấy đã nói gì mà khiến bố ra nông nỗi này, khiến bố cư xử như thế này.”
“Không”, ông kiệt sức trả lời, “bố không thể nói với con.” Ông ngả đầu ra lưng ghế và nhìn lên trời, vẻ mặt trống rỗng.
“Vậy thì con sẽ lên hỏi! Con sẽ bắt ông ấy phải nói, nếu bố không nói.”
Cửa xe mở ra và đóng lại, tôi đã xuống xe.
Ông ngẩng phắt đầu dậy. Và trong nỗi hoảng sợ thất thần càng kích thích tôi đi nhanh hơn, ông hét lên gay gắt sau lưng tôi, “Không, Jean, không! Đừng đến gần hắn! Vì Chúa, đừng lên đó! Bố không muốn con biết, bố không muốn con biết!”
Tôi lao qua cửa, vừa khóc vừa chạy lên cầu thang, tiếng nức nở của tôi hòa nhịp với những bước chân. Tôi khóc trong niềm căm phẫn và thách thức mang tính che chở trước bất cứ cái gì đã làm ra chuyện này với ông. Tôi đã quên cả sợ hãi, tôi chạy lên gặp nó và vật lộn với nó.
Tôi đã đến cửa, cánh cửa ấy. Tôi đập ầm ầm vào nó, rồi vặn nắm đấm cửa và tự mở, trước khi ông ta kịp trả lời có hoặc không, hoặc đuổi đi hay mời vào. Tôi không chờ, tôi không xin phép để được vào, tôi xông vào.
Ông ta từ từ ngẩng đầu nhìn tôi, đó là cử động duy nhất của ông ta. Cử động ngẩng lên rất nhẹ của mái đầu; bàn tay đỡ một bên đầu cho tới thái dương, như đang chìm trong sầu muộn, giữ nguyên tư thế cũ, vẫn khum khum theo hình mái đầu đặt lên, nhưng không đỡ gì khác ngoài khoảng trống.
Ông ta không lên tiếng. Cái bóng của bàn tay ngửa lên cắt qua phần dưới gương mặt, tạo thành một vệt tối lởm chởm, như thể chỗ đó không được cạo râu.
“Ông đã làm gì bố tôi?” Tôi hầm hầm hỏi. “Ông đã nói gì với ông ấy?”
Ông ta không lên tiếng.
Tôi đóng cánh cửa lại sau lưng. “Chuyện gì vừa xảy ra ở đây?”
Cuối cùng bàn tay ông ta thả xuống, cái bóng biến khỏi gương mặt.
“Đừng hỏi tôi điều đó. Cô đi đi, đi với ông ấy. Đưa ông ấy về nhà ngay đi”, ông ta vỗ về, cách mà người ta thường nói với một đứa trẻ khi nó đương hờn khóc.
Giọng tôi càng the thé, “Tôi không thể. Tôi không thể nhìn bố tôi như thế. Ông đã làm gì đó với ông ấy ở đây. Ông phải cho tôi biết, phải cho tôi biết, phải cho tôi biết!”
Ông ta đã đứng lên khỏi ghế, nhưng tôi không biết vì nhút nhát cố thủ trước cơn thịnh nộ của tôi hay là dấu hiệu cương quyết muốn đuổi cô tôi. “Tôi không làm gì ông ta cả.”
“Có. Nhất định là ông. Còn ai khác nữa? Trước khi bước vào căn phòng này, ông ấy không như thế, và khi ông ấy đi ra...”
Ông ta không nói năng gì, chỉ đứng sau chiếc ghế, tay nắm chặt lưng ghế.
“Tôi là con gái ông ấy. Tôi có quyền được biết. Làm sao ông có thể nhìn tôi đứng trong bộ dạng này trước mắt mình? Ông có còn là người không?”
Ông ta không lên tiếng.
Đột nhiên, tôi quỳ sụp trước mặt ông ta và túm lấy áo khoác ông ta.
“Đứng lên. Đứng lên đi, cô bé.”
“Chỉ lần này thôi. Chỉ lần này nữa thôi. Tôi không thể đứng nhìn bố như thế được.”
Ồng ta cố gỡ hai tay tôi ra, nhưng không thô bạo. “Cô không biết mình đang đòi hỏi điều gì đâu.”
Tôi không đứng lên, ông ta không thể bắt tôi đứng dậy. Đôi tay ông ta lay vai tôi một cách bất lực.
“Cho đến khi tôi nói cho cô, cô không sẽ không hiểu rằng thà mình không biết còn hơn.”
Tôi giật áo ông ta, cảm thấy cơ mặt mình co rút trong sự khẩn khoản.
“Tôi xin cô. Tôi đã bảo cả hai đừng đến đây. Ngay từ đầu...”
“Điều đó không quan trọng. Tôi không muốn nghe. Ông ấy đã đến.” Giọng tôi khàn đặc. “Giờ hãy nói đi, cho tôi biết đi, đó là gì?”
Ông ta thở dài đầu hàng. Tôi cảm thấy mình đang được đỡ dậy. Chúng tôi đứng đối diện nhau.
“Ông ấy đến hỏi tôi một câu. Và tôi đã trả lời.”
“Không phải, không thể chỉ có thế...” Tôi ngập ngừng.
Rồi ông ta nói thêm, “Đầy đủ hơn tôi dự định.”
Ồng ta dịch sang bên một chút, như để tránh tôi. Tôi dịch sang theo, lại đối diện với ông ta.
“Là gì? Là chuyện gì?”
“Một câu hỏi về việc kinh doanh, như mọi câu hỏi trước đây của ông ấy.”
“Tôi biết. Bố đã nói với tôi trước khi đi. Nhưng chưa đủ. Câu hỏi đó là gì? Câu trả lời là gì?”
“Ông ấy hỏi tôi về một thương vụ dài kỳ nằm trong dự liệu. Ông ấy muốn biết mình nên theo vụ đó hay bỏ qua nó.”
Ông ta ngừng lời.
Nếu đôi tay tôi không vươn ra túm lấy ông ta, hẳn ông ta đã cảm thấy một tác động tinh thần dữ dội không kém. Chính tôi cũng cảm thấy vậy.
Giọng ông ta hạ thấp hơn, “Tôi đã thấy hình ảnh của vụ làm ăn đó. Tôi bảo ông ấy dù chọn cách nào cũng không quan trọng. Ông ấy hỏi sao có thể như thế. Ông ấy không thỏa mãn với câu trả lời, ông ấy dồn ép tôi. Tôi nhắc lại với ông ấy rằng hãy để tôi yên, đừng hỏi gì thêm về chuyện đó. Ông ấy bỏ ngoài tai, ông ấy rất cố chấp.
Ông ấy là người thông minh hơn tôi rất nhiều. Ông ấy đã muốn cái gì là sẽ biết cách đạt được nó. Ồng ấy bảo tôi nói lại từ đầu cho ông ấy nghe, và khi làm thế, tôi đã nói quá nhiều, tôi đã nói ra phần mà mình không muốn nói.”
Ông ta thở dài mệt mỏi.
“Vậy thì hãy nói cho tôi, như đã nói với ông ấy. Bây giờ ông không thể dừng lại được. Ông đã đi quá xa.”
“Ồng ấy hỏi, ‘Nhưng thương vụ này sẽ cho ra hai kết quả khác nhau chứ?’ Tôi đã trả lời bất cẩn, ‘Có. Trong sáu tháng nữa.’ Ông ấy gật đầu. ‘Phải mất ít nhất chừng đó thời gian để hoàn thành. Tôi biết, tôi nhận ra rồi. Nhưng cái nào có lợi cho tôi hơn? Đó là điều tôi muốn biết.”‘
Ông ta lại thở sâu. Tôi không thở nổi.
“Tôi đáp, ‘Không cái nào cả.’
Ông ấy nói, ‘Không thể như thế. Nếu có hai kết quả, chúng không thể giống hệt nhau. Phải có một cái có lợi cho tôi, một cái không.’
Tôi đáp, ‘Không cái nào cả.’
Ông ấy nói, ‘Nếu cả hai đều có lợi cho tôi, ít nhất phải có cái nhiều cái ít, dù chỉ hơn nhau một sợi tóc. Cho tôi biết là cái nào.’
Tôi đáp, ‘Không cái nào cả. Kể cả cách nhau một sợi tóc. Không có câu trả lời nào khác.’ Ông ấy để ý thấy tôi tỏ ra cộc cằn, bèn quay tôi như quay dế. Và những chữ ông ấy đòi hỏi đã buột ra. ‘Sẽ mất sáu tháng để đạt kết quả. Lúc đó ông đã không còn ở đây nữa.’”
Ông ta nhắm nghiền mắt một lúc.
“Ông ấy liền hiểu ra, sắc mặt ông ấy giống như sắc mặt cô bây giờ. Một sắc mặt tôi chưa từng thấy và tôi hy vọng không bao giờ phải nhìn thấy nó nữa. vẻ mặt của cái chết sắp đến gần, trước khi cơ thể sẵn sàng. Rồi ông ấy bắt đầu mặc cả với tôi, như thể đó là chuyện tôi can thiệp được vậy.
‘Năm?’ Ông ấy nói. ‘Năm tháng kể từ bây giờ?’
Ông ấy đọc ra sự im lặng của tôi.
‘Bốn?’
Tôi không trả lời.
‘Ba?’
Ông ấy nhìn vào mắt tôi.
‘Hai?’
Tôi lắc đầu.
‘Vậy thì một. ít nhất là một!’
Ông ấy đang đòi hòi một thứ nằm ngoài khả năng của tôi.
‘Vậy thì khi nào? Khi nào?’
Bất cứ chuyện gì cũng tốt hơn chứng kiến ông ấy chết dần chết mòn trước mắt tôi vì hoang mang. Bất cứ chuyện gì cũng tốt hơn phải nhìn sự đau đớn bị bóp nghẹt đó. Tôi là con người, chứ không phải gỗ đá. ‘Ba tuần nữa kể từ bây giờ’, tôi nói. ‘Giao điểm giữa ngày mười bốn và mười lăm tháng Sáu. Vào đúng nửa đêm’.
Ông ấy chỉ còn nói được đúng ba từ. ‘Như thế nào?’ Ông ấy hỏi.
‘Ông sẽ chết trong hàm một con sư tử.’”
Đột nhiên, căn phòng trở nên yên tĩnh. Vừa mới đây thôi, nó còn ầm ĩ tiếng nói. Cứ như có một tấm chăn đột ngột chụp lên nó, dập tắt tất cả.
Sự im lặng cứ kéo dài, cho đến khi tôi nghĩ nó sẽ không bao giờ kết thúc. Rồi một giọng nói vang lên. Một giọng nói nhỏ, rất yếu ớt, rất mờ nhạt, rất mỏng manh mà tôi không biết đến từ đâu, song không thể là từ ông ta vì tôi không thấy môi ông ta mấp máy. Nó thút thít ! “Không”, và dừng. Rồi “Không” lần nữa. Và dừng. Rồi “Không” lần thứ ba, sau đó trở về im lặng.
Lúc này, tôi đã ngồi xuống. Hẳn ông ta đã dẫn tôi lại một cái ghế. Đôi tay ông ta nấn ná trên vai tôi, cố tìm cách giúp. Chúng lóng ngóng và nhấp nhô, chúng không thể tìm ra cách. Tôi không thể chỉ cho chúng, dù có muốn. Cuối cùng chúng rời đi.
“Lẽ ra cô không nên đến. Lẽ ra cô không nên hỏi.”
Tôi giương mắt nhìn ông ta mà chẳng trông thấy gì, nghe ông ta mà chẳng nghe thấy gì. Một cách lờ mờ, như chập chờn nhớ về thực tại xung quanh, tôi không biết mình đang làm gì ở đây. Sao mình lại ngồi ở đây? Sao mình lại ở đây?
Tôi bám vào lưng ghế đứng lên, mù lòa quay bên này bên kia, tìm lối ra mà tôi biết ở đâu đó quanh mình.
“Ông ấy đang chờ tôi bên dưới”, tôi nói trệu trạo. “Tôi nên về với ông. Ông chỉ có một mình.”
“Tất cả chúng ta đều chỉ có một mình”, ông ta trả lời nhẹ nhàng. “Tất cả chúng ta.”
Ông ta giúp tôi đi ra cửa, bàn tay lại quanh quất trên vai tôi. Tôi không thể cảm thấy nó thực sự chạm vào mình, chắc là nó cách tôi một quãng, đề phòng nhỡ tôi loạng choạng vấp ngã.
Rồi ông ta mở cửa, tôi đi qua khoảng trống nó tạo ra. Bàn tay khum khum của ông ta bị bỏ lại, lơ lửng trong không khí ngang vai tôi trước khi lùi xa.
Tôi cảm nhận được trời đã tối, nhưng tôi không rõ là bóng tối trong tôi tràn ra bên ngoài hay bóng tối bên ngoài đổ vào. Tôi đi xuyên qua nó một cách chậm chạp, lần theo chiều dài những bức tường bằng hai bàn tay, tay này vượt lên tay kia, như một người bơi nghiêng trên mặt biển dốc.
“Cô có thấy đường đi xuống không?”
“Không”, tôi đáp khẽ. “Nhưng không quan trọng, vì tôi không biết con đường của tôi là đường nào.”
Rồi một lúc sau, từ xa hơn phía sau, ông ta lại lên tiếng, “Đừng tranh đấu, cô bé tội nghiệp. Chẳng thay đổi được gì đâu.”
Tôi nghe thấy giọng ông ta sau lưng, nhưng quá tối. Bóng tối đằng trước, đằng sau, bóng tối ở khắp mọi nơi.
Sau một lúc, một trong hai chúng tôi cử động, trên xe. Tôi không nhớ là ai. Nhưng tôi là người cất tiếng. Tôi đờ đẫn nhìn quanh, như thể mắt tôi đã nhắm đến tận bây giờ. Tôi nói, “Chúng ta ngồi đây bao lâu rồi?”
“Bố không biết nữa, Jean”, ông đáp.
Tôi ngửa đâu nhìn trời, nheo mắt. “Vẫn đang đêm’, tôi nói, “Nhiều sao thế, chứng tỏ vẫn là đêm. Có cùng là cái đêm chúng ta đến đây không?”
“Bố không biết nữa, Jean”, ông đáp. Giờ đây, những câu trả lời của ông mang vẻ ngoan ngoãn kỳ lạ, như một cậu bé cư xử vô cùng lễ phép, chỉ nói khi cần, và chờ sự hướng dẫn của người lớn trong tất cả những vấn đề cậu không hiểu.
“Con thấy chóng mặt quá”, tôi nói. “Khi con nhìn chúng, chúng bơi vòng vòng và trộn lẫn vào nhau thành những hình tròn đan dệt, như những bánh răng nạm ngọc của một chiếc đồng hồ xoay vòng, và đầu con bơi theo chúng.”
Tôi có thể cảm thấy trong lúc đó, cằm tôi đang chuyển động theo vòng xoay của những bánh răng nhấp nháy, vo vo, cài vào nhau mà tôi nghĩ là mình thấy. Tôi vội vàng gục đầu xuống trở lại, để nó đung đưa, nhìn xuống nơi không có những ngôi sao.
“Bố nghĩ tốt hơn hết chúng ta nên về nhà”, ông nói. “Bố không cảm thấy gì hết, nhưng bố nghĩ chúng ta nên về nhà. Người qua đường sẽ dừng lại nhìn chúng ta cười cợt. Bố không thích họ làm thế.”
Con cũng vậy”, tôi nói, không nhúc nhích cái đầu đang ngoảnh đi.
“Bố nghĩ tốt hơn chúng ta nên về nhà.”
“Nó ở rất xa so với chỗ chúng ta hiện giờ.”
Nhưng chúng ta phải về đó, chúng ta sống ở đó.”
“Con không nghĩ lúc này con nhớ được đường. Con không thể suy nghĩ mạch lạc.”
“Con lái xe được không?” Ông hỏi, nhìn bảng điều khiển một cách bất lực.
“Con không nghĩ vậy. Nếu bố muốn, con sẽ cố, nhưng con không nghĩ con lái được.”
“Người ta cứ nhìn chúng ta như những thằng hề”, ông rên rỉ. “Nhìn kìa, cái cách họ nhìn chúng ta mà không chịu bỏ đi.”
“Họ nghĩ chúng ta say rượu”, tôi nói. “Chúng ta cứ ngả nghiêng vào nhau.”
Tôi cố gắng nắm lấy vành vô lăng bằng một tay. Tôi cố gắng xoay chìa khóa nổ máy bằng tay kia. Chiếc chìa khóa tuột ra, rơi xuống sàn. Bàn tay tôi trượt khỏi vô lăng. Tôi không tài nào bắt nó ở yên trên đó, nó sẽ không ở đúng chỗ.
“Con không làm được”, tôi thì thầm với ông. “Con không thể. Con không biết mình bị làm sao. Hãy để con suy nghĩ một lúc. Con sẽ thử lại.”
“Bố sẽ giúp con”, ông nói. Ông đặt tay lên vành vô lăng. Tôi đặt tay trở lại. Rồi chúng tôi thêm hai bàn tay kia của mình. Giờ chúng tôi đang nắm lấy nó bằng bốn bàn tay, mỗi bên hai cái. Chúng tôi cố xoay nó được một ít. Rồi chúng tôi đều xụi lơ, tức giận, bỏ cuộc.
“Tốt hơn là bắt taxi và để chiếc xe lại đây.”
“Bố có thể ra ngoài gọi taxi không?”
Rồi tôi vội ngăn ông lại. “Không, con không muốn bố đi. Con sợ bố sẽ không quay lại. Hãy nhờ người đàn ông đang nhìn chúng ta.”
“Này anh”, ông nói bằng giọng yếu ớt, “anh gọi giúp chúng tôi một chiếc taxi được không? Gọi nó lại chỗ chúng tôi?”
“Có chuyện gì thế, ông không tự gọi được à?” Người đàn ông chế nhạo.
Không ai có thể giúp ta khi ta sắp chết. Tôi nghĩ một cách cam chịu.
“Chúng tôi không khỏe. Chúng tôi không thể ra khỏi chiếc xe này.”
Nó ở đó chỉ chờ được nhìn thấy, một khi nó lọt vào mắt người đàn ông, anh ta lập tức hiểu ra vấn đề. Vẻ mặt anh biến thành hối lỗi. “Ồ, được thôi. Tôi sẽ gọi.”
Anh ta quay người đi xuống góc đường, rẽ vào đó. Chúng tôi không nhìn thấy anh ta nữa. Nhưng chúng tôi nghe văng vẳng tiếng gọi mất hút dần của anh ta trong gió đêm, một, hai lần, cuối cùng là một tiếng huýt sáo lanh lảnh, chói như kim khí.
“Nhìn cô ấy trắng bệch”, một người phụ nữ đứng gần đó nhận xét. Rồi tiến lại gần hơn, bà ta hỏi thẳng chúng tôi, “Sao thế, hai người gặp tai nạn à?”
Họ đứng rải rác đây đó, không đông, tầm ba hoặc bốn người, vì đã khuya và trời rất tối, cũng chẳng có gì để nhìn, song lại có thể níu giữ bước chân của một, hai người khác dừng lại tò mò quan sát.
“Để họ yên đi”, một người đàn ông đứng cách đó vài bước nói cộc lốc với vẻ thương hại.
Tôi ngước nhìn vào mặt người phụ nữ. “Đúng vậy, xin hãy để chúng tôi yên”, tôi khốn khổ van nài.
Bà ta rút lui về chỗ cũ, không hề bực bội.
Một chiếc taxi chạy đến và đỗ lại ngang với xe chúng tôi. Người đàn ông tìm được nó lấp ló ở bậc lên xuống, một chân rà trong không khí. Anh ta nhảy xuống và giúp chúng tôi bằng cách mở cả hai cửa, cửa taxi và cửa xe chúng tôi. Hai cánh cửa gần như chạm nhau, tạo thành một hành lang khép kín cho chúng tôi bước xuống xe này và lên xe kia. Anh ta cũng giúp chúng tôi trong chuyện đó, đỡ tôi xuống trước, rồi hai chúng tôi cùng hợp sức giúp bố tôi. Chúng tôi nắm cả hai cánh tay ông, anh ta đứng dưới đường, còn tôi ở trong xe taxi.
Rồi tôi đỡ ông ngồi xuống cạnh mình, người tài xế quài tay ra sau đóng cửa cho chúng tôi.
Chiếc xe đỗ ở đó một lúc nữa, tôi tự hỏi tại sao nó không chạy. Rồi nhớ ra mình chưa cho tài xế biết nơi đến. Tôi chồm người tới, nghe thấy tôi dò dẫm tấm kính trượt sau lưng, anh ta quay lại mở giúp, tôi đọc cho anh ta địa chỉ nhà mình.
Người tài xế không choáng váng như chúng tôi, anh ta vẫn có thể lái xe. Chúng tôi phóng đi, bỏ lại sau lưng chiếc xe của chúng tôi và nơi chúng tôi đã ngồi quá lâu.
Lúc này, chúng tôi không trông thấy bầu trời đầy sao nữa. Trần xe ở trên đầu chúng tôi, nếu dịch vào giữa băng ghế thì sẽ không thấy chúng ở bên ngoài, những ngôi nhà dọc hai bên đường đã chặn chúng lại.
Chúng tôi dừng lại một lần, tôi hỏi, “Bố có muốn uống gì đó trên đường, cho đến khi về nhà không? Có một quán bar đằng kia. Tài xế có thể mua về cho chúng ta.”
“Không, lúc này bố e là không. Lần này thì khác, nó chẳng thấm vào đâu. Bố nghĩ sau này nó sẽ có tác dụng. Nhưng bây giờ... bố sợ.”
Tôi đang vòng cả hai tay ôm chặt thân hình co quắp của ông. Đầu ông ở dưới đầu tôi, rũ xuống gần chạm vào lòng tôi.
“Sợ hãi có gì sai trái không, Jean?” Ông lẩm bẩm.
Tôi không biết miệng tôi nói gì với ông, nhưng trái tim tôi nói với ông, là con người thì không ai chịu nổi cảm giác biết mình sắp chết.
Chiếc taxi đỗ lại, rồi quay đầu chạy đi sau khi thả chúng tôi xuống. Chúng tôi đứng một mình trong bóng tối vùng ngoại ô.
Chúng tôi cảm thấy mình đang cất bước, đi về những ô cửa sổ sáng đèn trước mặt. “Hãy dựa vào con”, tôi nói. “Đây là những bậc thềm nhà chúng ta.”
Cuối cùng, chúng tôi đã đi hết các bậc thềm và đứng trước cửa. Chúng xói vào lưng chúng tôi từ trên cao, chúng trút xuống chúng tôi như cơn mưa bạc, chúng tôi không dám quay lại nhìn. Nhưng chỉ cần cánh cửa mở ra, chúng tôi sẽ ở một nơi chúng không thể bám theo, không thể nhìn thấy. Và trong lúc chúng tôi đứng đó cạnh nhau, thu hết sức lực còn lại để giơ một cánh tay lên gõ cửa, ông thở hắt ra, “Chúng ta về nhà rồi, Jean.”
“Chúng ta về nhà rồi, bố ạ.”