Những ngôi sao đầu tiên xuất hiện, nhấp nháy trên bầu trời dần tối. Chúng tắt và hiện theo đúng một chu kỳ nghiêm ngặt từ bao đời nay. Nó trở thành quen thuộc đối với anh. Anh vẫn nằm im ngắm nhìn màn đêm, dòng suy nghĩ về cái quá khứ trẻ thơ không những không bị đứt đi mà trái lại, càng chặt chẽ hơn, càng nối tiếp vững chắc hơn với tương lai, mặc dầu tương lai lúc này càng trở nên mờ ảo và không chắc chắn.
Đra-tun vẫn nằm im nhìn mãi ngôi sao mỗi lúc một nhiều hơn trên bầu trời và có cảm giác như đang sống lại với trận không chiến ban chiều. Anh nhớ rõ từng chi tiết, cố phân tích từng nguyên nhân, từng diễn biến chính. Anh nhìn vào trận đánh vừa qua với con mắt của một viên quan tòa nghiêm khắc. Tại sao lại như vậy được?
Anh cứ ngẫm nghĩ về cái giây phút cuối cùng của chiếc máy bay chiến đấu của phi đội anh. Chẳng ai trong họ có lỗi cả. Những suy nghĩ đó dần dần thu gọn lại và hiện ra hình ảnh cái tai họa của chiếc máy bay ném bom do anh chỉ huy. Anh lim dim mắt tựa như đang ngồi trong buồng lái chật hẹp, quen thuộc, tay cầm cần lái, mắt không rời bảng điện chi chít nút điều khiển và tự nhiên mấy ngón tay anh bỗng dưng cựa quậy như đang điều khiển vậy.
… Trung úy phi công Va-xi-li Đra-tun nghiêng cánh từ phía mặt trời lặn, lần cuối cùng quyết định lao máy bay xuống quốc lộ Lê-nin-grát nơi ngổn ngang những chiếc xe tăng, những xe tải, xe bọc thép đang bốc cháy hoặc đang nối đuôi nhau chạy thục mạng, vừa chạy vừa bắn tung tóe.
Bên phải và bên trái đội hình hành quân dài dằng dặc của đội quân Hitler, đến bờ sông Pliu-xa còn có thêm hai chiếc phóng pháo và ba chiếc máy bay yểm trợ vừa cất cánh sau khi có lệnh báo động. Từ trên cao nhìn rất rõ pháo ra đã nã khá trúng vào đội hình đó. Song những tên Hitler lì lợm ấy, có vẻ như không hề biết gì đến tổn thất, vẫn cứ nối nhau như không hề biết gì đến tổn thất, vẫn cứ nối nhau lạnh lùng tiến về phía sông Pliu-xa, vật cản thiên nhiên cuối cùng trước thành phố Lu-ga. Nơi mà chúng đã cảm thấy, chỉ một sải tay nữa là sờ nắn được Lê-nin-grát!…
-Đội trưởng, đếm được 18 xe đang bốc cháy!-tiếng phi công hoa tiêu vang lên trong tai nghe.
Đra-tun ngước nhìn khuôn mặt mệt mỏi của anh ta và giơ ngón tay cái lên, mỉm cười.
-Quay về.
Anh còn định nói thêm điều gì đó nữa nhưng bỗng vang lên giọng nói lo lắng của phi công-điện đài viên:
-Bọn Đức bên phải: Chúng đang chặn đường. Chín chiếc “Mê-xê-rét”, Bọn “I-un-ke” bay trên cao!…
Bộ ba tiêm kích mang ngôi sao đỏ tăng tốc lao vào đón đánh bọn quạ đen Đức. Từ đài chỉ huy mặt đất vang lên mệnh lệnh: Biên đội oanh tạc quay về ngay! Đra-tun hiểu rất rõ tâm trạng của trung đoàn trưởng của mình: thủ trưởng rất quý từng chiếc máy bay. Chiến tranh chỉ vừa mới bắt đầu mà khu trục oanh tạc có thể đếm trên đầu ngón tay.
Va-xi-li tăng tốc và chui tọt vào đám mây lớn gần đấy-biết sao được, rút lui là phải như vậy! Anh lái máy bay về hướng mặt trời lặn để cho bọn đuổi theo bị chói mắt. Bọn Đức vòng nhanh lại. Những chiếc khu trục oanh tạc nặng nề này không thể bay nhanh hơn được nữa. Đến gần khu vực hồ Đen, máy bay của Đra-tun bị bảy chiếc “Mê-xe-rét” chặn đánh. Đối với chúng chiếc khu trục hạng nặng này quả là miếng mồi béo bở.
Trận đánh, nếu có thể gọi như vậy, thật ngắn ngủi và độc ác. Cho đến giờ trong tai anh vẫn còn âm vang tiếng reo vui của trung sĩ thông tin.
-Đồng chí chỉ huy! Một con quạ bị rụng rồi…
Nhưng anh chưa kịp ngoái lại nhìn thì đã thấy một chùm lửa lớn của chiếc máy bay Đức lao xuống và mất hút. Một phút sau họ lại hạ được chiếc nữa. Trận đánh anh hùng kết thúc ở đây. Thật ra thì chiếc khu trục oanh tạc của anh không làm sao xoay xở được trước năm chiếc máy bay Đức đang quây chặt lấy anh. Chỉ trong ít phút các thành viên đội bay của anh lần lượt hi sinh hết, đầu tiên là phi công xạ thủ, trước khi chết còn kịp kêu “vĩnh biệt”. Sau đó đến hoa tiêu ngất xỉu đập đầu vào cần lái… Đra-tun không làm sao cứu được.
Chiếc máy bay bị thương nặng, không còn tuân theo tay lái nữa. Động cơ bên phải bốc cháy, những lưỡi lửa vàng lan tỏa ra trên cánh. Nó mất thăng bằng lúng liếng và hạ độ cao. Nhưng Đra-tun vẫn hi vọng và cố tìm cách cứu nó, cố lái về sân bay gần nhất. Hoặc cùng lắm thì bay qua cánh rừng kia, hạ khẩn cấp xuống cánh đồng sau nó. Động cơ bên trái cũng bắt đầu rung lên. Khói ùa vào buồng lái, nhiệt độ trong ca-bin tăng lên nhanh chóng. Ống dẫn dầu bị hỏng!-anh thoáng nghĩ-Động cơ sẽ cháy ngay bây giờ. Không thể bay thêm được nữa!-Anh liế mắt nhìn xuống dưới-mặt đất rất gần, nhảy dù rất nguy hiểm.
Nghiến chặt răng, Đra-tun tìm cách kéo dài thêm sự sống của chiếc máy bay đã nặng chình chịch cố lướt tới cánh đồng lúa mạnh trơ trọi phía xa xa. Động cơ bên trái tắt hẳn. Tuy nhiên, mặt đất cũng đã sát ngay dưới cánh. Những giây phút cuối cùng ấy in rõ trong trí nhớ anh. Khi động cơ vừa tắt thì, một chiếc “Mê-xe” đã rít ngay trên chiếc khu trục nặng nề nổ súng. Trong giây lát đó, Đra-tun không thể hiểu nổi, chiếc máy bay đã lết xuống như thế nào. Anh chỉ còn nhớ, nó nặng nề trườn bụng ngay trên cánh đồng lúa mạch để lại một vệt đất đen sâu nhẵn phía sau…
Chỉ một lát sau bọn bộ binh cơ giới Đức đã phóng mô-tô cùng mấy chiếc xe tải chở lính tới. Một vài quả mìn đã nổ quanh máy bay. Không còn thì giờ để suy nghĩ xử trí. Chỉ có hai cách giải quyết-hoặc bị bắt làm tù binh hoặc phải cố chạy về bên mình. Anh chọn cách thứ hai.
Vụt nhảy ra khỏi chiếc máy bay bị thương, anh lao về phía rừng thông, vừa chạy vừa rút súng lục. Anh đã đánh lừa được bọn lính mô-tô, chúng phóng thẳng ra cánh đồng. Anh đã lọt được vào khu rừng thông rậm. Nấp sau một cây thông lớn, anh giơ súng ngắm “mười lăm phát đạn-anh thầm nghĩ,-ít nhất cũng năm bảy thằng. Phát cuối cùng, thứ mười sáu, sẽ dành cho mình… không để chúng bắt sống”.
Đra-tun bắn liền hai phát vào chiếc xe gần nhất. Tên mặc quân phục sĩ quan đang phóng xe ngã vật ra sau. Bọn lính điên cuồng nổ súng về phía anh. Đạn chiu chíu trên đầu. Chúng chững lại đổi hướng. Lợi dụng khoảnh khắc đó, anh quay người chạy thục mạng vào rừng. Súng vẫn vang lên xối xả sau lưng anh. Bọn lính phải bỏ xe, chạy bộ vào rừng.
Vừa thở dốc, anh nhằm thẳng hướng trước mặt, lao đầu chạy miết không còn kể gì bụi gai hay cây lớn, anh cứ chạy chừng nào còn nhấc nổi đôi chân đã rã rời, cho đến lúc chân hẫng trong đám rong rêu, bì bõm nước bòn đặc quánh, anh mới biết đã bị lạc đến một đầm lầy. Anh hoang mang dừng lại, nhìn quanh. Ba phía là rừng thông dày đặc, trước mặt là một đầm lầy mọc đầu lau sậy… Anh ớn lạnh bởi ý nghĩ: Giờ đây chẳng còn lối thoát nào khác-hoặc là chết chìm trong đầm lầy này, hoặc là chết trong tay bọn phát-xít.
Từ phía sau vẳng tới tiếng la hét, những mệnh lệnh tiếng Đức vang lên. Anh định bước sang một bên nhưng toàn thân bị lún ngập tới thắt lưng. “Sa lầy rồi”-anh kinh hoàng thốt lên. Bọn Đức đang tiến gần về phía anh. Đra-tun đành nhoài lên mấy bước. Vẫn chỉ tới thắt lưng. Anh không nghĩ tới việc lội lên bờ. Để làm gì? Đầm lầy có thể cứu anh, miễn là đừng vào hồ lầy sâu hơn.
Anh lội mỗi lúc một xa dần và bỗng sụt xuống một hồ lầy ngập đến cổ. Ann níu được một bụi lau dầy và ẩn luồn vào đấy. Thời giạn lặng lẽ trôi qua nhưng vẫn không thấy một tên Đức nào xuất hiện. Tiếng kêu la xa dần, có lẽ bọn chúng đã đi về hướng khác, hoặc có thể chúng chưa quen với những khu rừng Nga rậm rạp, chúng không muốn lùng sục sâu, cũng có thể chúng đinh ninh người phi công Nga đã chết chìm trong đầm lầy.
Đra-tun vẫn chờ đợi căng thẳng, khổ sở vì đàn muỗi đói, sợ gây ra sóng trên mặt đầm lầy, anh khe khẽ dùng răng cắn một càng sậy nhỏ và vươn một tay lên xua đàn muỗi.