Mi-cla-sốp cởi áo ngoài và bỏ mũ ra. Phê-đô Gô-lơ-vli-ép đang nhóm lò, tằn tiện bỏ từng mẩu củi nhỏ vào bếp. Bếp lửa cháy bùng bùng, reo vui, ấm áp. Nước trong ấm nhôm cũng bắt đầu reo. Những người lính ngái ngủ ngồi quanh bàn khoan khoái uống từng ngụm nước trắng trong ca nhôm.
-Đội trưởng uống chút nước nóng cho ấm chứ?-Phê-dô hỏi, ngước đôi mắt hơi hiếng nhìn Mi-cla-sốp.
Họ dịch lại nhường chỗ cho anh. Mi-cla-sốp ngồi xuống cạnh bàn, ấp ca nước nóng trong lòng bàn tay, chậm rãi nhấm nháp từng ngụm, cảm thấy hơi ấm tỏa lan khắp người. Trong chiếc lều chật chội mọi sự bố trí hầu như được tính toán từng cen-ti-mét một. Hai dãy giường gỗ được kê sát vách, giữa đặt chiếc bếp lò gò bằng sắt mỏng, cạnh đó là chiếc bàn gỗ tạp tróc sơn nham nhở. “Cứ như trong tàu ngầm ấy.-Phê-đô đã có lần nhận xét khi họ sắp đặt chỗ ở trong lều.-Chẳng khác gì buồng thủy thủ… Chỉ khác là có thêm cái bếp lò!”.
“Bếp lò-đó là sức sống!”-Mi-kha-in Bum béo phị đã có lần nói như vậy. Ý kiến anh ta đã thể hiện được tâm trạng của mọi người trong đội bởi vì trước đây họ thường đóng quân trong các ngôi nhà gạch trống trải không đủ hệ thống sưởi ấm khi tiết thu lạnh lẽo hay mùa đông giá rét, do đó khi được sống trong túp lều ghép bằng ván này tuy chật chội nhưng lại là một tổ ấm dễ chịu hơn cả vì có thêm cái bếp lò đặt ngay giữa.
Nhưng không dễ gì quen ngay với điều kiện sinh hoạt mới. Những này đầu ai cũng muốn tranh thủ ngồi chen nhau quanh bếp lò để sưởi ấm, để hong khô quần áo, bít tất, xà cạp, giày và ủng lúc nào cũng ướt sũng. Mi-cla-sốp đành phải lên thời gian biểu quy định lần lượt từng tổ được sưởi bên bếp lò.
Cuộc sống trên mặt băng luôn mang lại cho họ những lo âu và nguy hiểm mới. Thật chẳng dễ chịu gì khi quanh mình lúc nào cũng có tiếng bom đạn réo nổ có lúc hầu như ngay sát cạnh và mỗi lần như vậy mặt băng dưới chân cứ chao đảo như muốn sụt xuống và chẳng may băng vỡ ra thì còn gì là đời nữa.
“Tàu ngầm phải có lúc nổi lúc lặn chớ-Phê-dô dí dỏm nhận xét như vậy sau một trận ném bom của quân Đức. Còn tàu chúng ta cũng vậy, cứ chao đảo trên băng”.
-Sao lại chao đảo?-có người thắc mắc, chưa hiểu.
-Nổi trên băng, chao đảo,-Phê-dô chanh chua nhắc lại. Lều chúng ta tựa như khoang thủy thủ chỉ có khác là hơn được cái bếp lò. Nhưng rồi nó có thể chìm nghỉm đi trong băng bất cứ lúc nào. Thế các cậu cho rằng nơi nào ít nguy hiểm hơn. Ở thành phố bị phong tỏa hay ở đây?
Cửa lều xịch mở rồi đóng sập ngay lại. A-lếch-xăng Ban-mút ùa vào đột ngột, mang cả làn hơi lạnh vào theo. Anh vừa được bầu làm bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản. Đôi má ửng hồng, bụi tuyết bám đầy ủng, khuôn mặt sạm nắng gió như già thêm dưới chiếc mũ lông lù xù trùm kín đầu. Tuyết bám cả trên cặp lông mày rậm. Anh xắn tay áo tháo ủng, rồi rút trong túi ca-pốt tờ báo mới nhận.
-Này, đọc đi. Quân ta đang phản công đấy!
Mấy cánh tay cùng chìa ra tranh nhau tờ báo. Mọi người dồn chỗ nhường cho Ban-mút và rót nước nóng cho anh. Mặt anh rạng rõ và có vẻ long trọng như trong ngày lễ thánh. Đúng ra là anh đã giật được tờ báo này trong tay cậu bạn làm việc trên ban tham mưu trung đoàn. Hầu như chẳng còn ai chú ý đến anh, mà chỉ xúm lại quanh tờ báo mới. Họ vội vã đọc lướt những tin tối qua và sáng nay đã thoáng nghe trên đài-quân ta đang giữ vững và tấn công lại trên mặt trận quanh Mát-xcơ-va.
-Gô-lô-vli-ép, cậu đọc to lên,-Mi-cla-sốp vừa nói vừa trao tờ báo cho anh ta và vừa chỉ vào chỗ đăng tin Gri-gô-ri Cun-ga được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ-Cậu có giọng phát thanh viên. Còn tôi sẽ đánh dấu trên bản đồ.
Tấm bản đồ địa lý giáo khoa toàn châu Âu đã rách mép mà họ kiếm được khi còn ở “vùng đất lớn” được gắn chặt vào tấm ván mỏng ngăn vách. Qua đó, các chiến sĩ đội đèn pha có thể hình dung tình hình chiến sự bởi những mũi tên xanh đỏ chi chít. Hai tuần trước đây các vạch đỏ đã dần dần chuyển về phía tây về vùng Rô-xtốp trên sông Đông và thành phố vừa được các đơn vị của mặt trận phía Nam giải phóng đã đánh dấu bằng màu đỏ nhỏ xíu. Tiếp đến, ngày 9 tháng Mười hai, mọi người lại đón mừng tin chiến thắng ở đông nam Lê-nin-grát nơi quân đoàn của tướng Mê-re-xcốp sau mười ngày đêm chiến đấu anh dũng đã giải phóng hoàn toàn khu vực Tri-vin. Chiều hôm qua và sáng nay đài phát thanh Mát-xcơ-va lại vui mừng truyền đi tin chiến thắng mới ở mặt trận ngoại vi Mát-xcơ-va.
-Đến ngày mười sáu tháng Mười hai (1941) quân ta vẫn còn phải chiến đấu phòng ngự trên một trận tuyến kéo dài, kìm chân những mũi tấn công mạnh của địch và đã bắt đầu mở những trận phản công khu vực ở các hướng I-rin-xcơ, thành phố Đơ-vê-nhi và Na-rô Phô-min-cơ. Gô-lô-vli-ép hắng giọng, vẻ xúc động.-Theo những tin tức chưa đầy đủ, các đơn vị bộ binh chúng ta đã phá hủy và thu được 777 xe tăng, 534 xe vận tải, 188 đại bác, 119 súng cối và 224 đại liên. Các loại súng bộ binh cá nhân không thống kê được. Về sinh lực địch, quân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 55 nghìn 170 tên. Số liệu này chưa đầy đủ vì chưa tính được những thiệt hại của quân địch do bộ đội xe tăng và không quân ta gây nên.
Những khuôn mặt gầy rộc, đen sạm nắng gió và thiếu ngủ của các chiến sĩ rạng rỡ những nụ cười. Từ lâu nay hầu như họ đã quên mất tiếng cười của mình. Họ đã chờ đợi những tin tức tốt lành này bao lâu nay rồi!
-“Ngay sáu tháng Mười hai năm bốn mốt, bộ đội mặt trận phía Tây, sau khi đã làm kiệt sức quân địch trong những trận phản công trước đấy cũng đã bắt đầu mở những cuộc tấn công mới vào hai bên sườn quân địch. Ngay trong trận phản công đầu tiên nhiều sinh lực địch đã bị tiêu diệt và buộc chúng phải vội vã tháo chạy vất bỏ lại nhiều vũ khí cùng các phương tiện kỹ thuật khác.
Gô-lô-vli-ép lần lượt đọc tên các làng mạc, thị trấn thành phố mới được giải phóng. Mi-cla-sốp chồm người về phía trước lắng nghe như nuốt từng lời vì anh cảm thấy mỗi tên làng, tên thành phố thân yêu ấy đều gắn với trái tim anh. Cuộc chiến đấu đã dần dần chuyển khỏi ngoại vi Mát-xcơ-va yêu quý của anh!…
-Sau khi chuyển sang phản công,-Gô-lô-vli-ép vẫn sang sảng giọng phấn chấn,-các đơn vị bộ đội ta đã giải phóng hơn một trăm làng mạc và thị trấn khỏi sự chiếm đóng của quân thù…