Cun-ga cùng làm việc với Ga-li-a đến tận tối. Té ra việc tiếp nhận xe mới không đơn giản như anh tưởng. Tuy là người đã hiểu biết tường tận cấu tạo của xe nhưng đôi khi anh cũng ngượng ngùng khi bị Ga-li-a nhắc cần chú ý tới những bộ phận hoặc chi tiết máy móc mà anh không phát hiện ra.
Cun-ga cảm thấy mệt nhoài, nhưng không dám để lộ ra. Khi ca tối kết thúc, Ga-li-a đề nghị được đưa Cun-ga đến nhà bà mẹ một người bạn chiến đấu của anh ở trong thành phố để chuyển quà và thư.
-Không xa lắm đâu,-cô nói, sau khi đọc địa chỉ trên thư,-độ nửa giờ tàu điện. Tôi cũng ở gần khu này đấy.
-Để tôi xin phép trung tá đã,-Cun-ga đồng ý.
Nhưng họ không tìm thấy Xô-rô-kin trong phòng giám đốc. Anh đang họp ở Thành uỷ. Người thư ký văn phòng giám đốc trao cho Cun-ga mẩu giấy của Xô-rô-kin viết dặn anh hết ca hãy đến tìm trung tá ở khách sạn vì ở đấy đang còn một giường dành cho cho anh.
-Thôi ta đi đi,-Ga-li-a và Cun-ga đành theo cô.
Họ đến vừa kịp chuyến tàu điện. Toa tàu chật ních người, dồn họ sát vào nhau và Cun-ga cảm thấy ngượng khi phải tựa sát vào Ga-li-a như vậy. Chặt đến nỗi anh như ôm choàng lấy cô.
Đã lâu lắm rồi, qua những năm tháng chiến tranh nặng nề, hầu như anh đã quên mất cảm giác vui vui khi đi tàu điện và giờ đây chỉ thấy khó chịu trong cảnh ngột ngạt chen chúc, và nhất là phải đứng sát vào vai cô gái như thế này. Không biết cô có hiểu cho hay lại nghĩ xấu về anh. Bao nhiêu lần anh định tìm cách nói chuyện với Ga-li-a nhưng đều không được. Không hiểu tại sao, Ga-li-a chỉ trả lời nhát gừng và qua giọng nói không thể đoán được cô giận dỗi hay ngượng ngùng.
Tàu thưa người dần sau mỗi chặng dừng. Và cuối cùng, khi hai người bước xuống bến thì Ga-li-a bỗng hoạt bát và vui vẻ hẳn lên. Cun-ga thầm trách mình đã quên khấy đi, không đỡ tay cô gái khi bước xuống bậc tàu và anh cảm thấy tiếc vì bỏ lỡ mất cơ hội tỏ phép lịch sự này. Họ im lặng đi dọc theo đường phố vắng, hai bên trồng cây xanh tốt. Thỉnh thoảng vang lên tiếng chó sủa sau các dãy hàng rào im lìm trong bóng trăng lờ mờ. Trăng đã lên cao. Những lớp băng mỏng đầu mùa vỡ tan, lạo xạo dưới chân. Cun-ga bước đi, cố nén hồi hộp. Ánh trăng mờ đục soi các ngôi nhà nhấp nhô, phủ lớp tuyết mỏng tạo nên cảm giác mờ ảo, hư hư thực thực, bí ẩn. Vẫn còn những nhà có ánh đèn bắt qua cửa sổ.
-Sắp đến chưa?-Cun-ga hỏi.
-Sắp rồi! Một quãng nữa thôi.
-Cô biết rõ nhà họ rồi chứ?
-Không, chỉ biết phố thôi,-Ga-li-a đáp và hỏi luôn. Nhà số mấy?
Cun-ga nói ngay số nhà mà không cần phải xem lại phong bì nữa.
Trong sân nhà, một phụ nữ đang rút quần áo trên dây phơi.
-Bà chủ ơi!-Cun-ga cất tiếng gọi.-Đây có phải là nhà bác Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na không ạ?
-Đúng đấy.-Người đàn bà lên tiếng và quay nhìn hai người khách lạ.
-Vậy thì bác có khách đây!-Cun-ga nói giọng thân mật hơn.
-Mời anh chị vào!-Bà Mác-pha đi làm chưa về,-người phụ nữ nói tiếp và chăm chú nhìn kỹ khách.
-Thế bà ấy sắp về chưa chị?-Ga-li-a hỏi.
-Đáng ra là phải về từ lâu rồi, có lẽ là bận việc gì đột xuất đấy. Công việc ở đây vẫn thế đấy,-Chị vừa nói vừa bước lại đón khách.
-Chị là Li-đa. Xin lỗi, chị là Li-đa-ve-ta Mi-cla-sô-va phải không?
-Vâng, tôi đây… Còn anh là ai vậy?
-Bạn chiến đấu của anh ấy đây…
-Anh Cun-ga phải không?-Li-đa-ve-ta thở một hơi dài như trút đi sự căng thẳng bị nén lại từ nãy tới giờ,-Chả lẽ lại là anh?
-Chính hắn đấy.-Cun-ga nói đùa giọng vui hẳn lên.
-Ôi, anh I-go nhà tôi nói rất nhiều về anh!… Sao lại đứng đây thế này. Mời anh chị vào nhà đi. Chúng tôi cũng đang chờ anh đấy nhưng cứ tưởng là phải dăm ba hôm nữa anh mới tới được. Cậu Phê-dô con trai bà chủ nhà có biên thư bảo như vậy… Bà chủ chắc sẽ vui lắm đấy.
-Chị để tôi đỡ quần áo cho,-Ga-li-a đề nghị.
-Cảm ơn cô, xin mời vào nhà đi… Anh chị từ ga đến thẳng đây à?
-Từ tàu điện chứ không phải tàu hoả… Cun-ga vừa nói vừa vào hành lang.
Căn phòng nhỏ vừa vặn, sáng sủa, ấm áp và gọn gàng, Li-đa-ve-ta bỏ đống quần áo lên chiếc bàn phủ khăn, thoang thoảng mùi xà phòng thơm man mát. Cun-ga đặt chiếc bọc xuống và đứng lên bàn chờ đợi. Một chú bé khoảng ba tuổi đang đùa với con mèo con lông vằn, dừng tay, dương đôi mắt ngây thơ nhìn những người khách lạ.
-Cháu bé xinh quá,-Ga-li-a nói và ngồi xuống cạnh cậu bé,-tên cháu là gì?
-An-đrây,-chú bé lí nhí đáp.
-Tên cháu đẹp lắm!
-Cháu giống ai?-Cun-ga cúi xuống hỏi chú bé,-bố hay mẹ?
-Bố,-Vừa đáp cậu bé vừa tụt khỏi giường, chạy tới chiếc tủ và đưa tay chỉ vào tấm ảnh treo gần chiếc gương lớn,-Bố cháu đấy,-Chú xem, bố cháu đấy!
Cun-ga nhận ngay ra I-go Mi-cla-sốp. Anh mặc bộ quân phục nhưng không mặc áo khoác. Cun-ga vui mừng nhận thấy bạn mình cũng đã được thưởng huân chương Sao Đỏ.
Anh bước đến bên tủ và cầm lấy tấm ảnh xem cho rõ hơn. Khi còn ở Lê-nin-grát anh đã biết tin bạn được thưởng huân chương. Họ không thể gặp nhau để chúc mừng được mặc dầu đóng quân không xa nhau mấy.
Từ trong ảnh, Mi-cla-sốp đang nhìn anh mỉm cười như muốn hỏi: “Thế nào, chàng thượng sĩ?”, “Đâu vẫn vào đấy”.-Cun-ga cũng thầm đáp lại, rồi lật tấm ảnh xem dòng chữ ghi ở mặt sau: “… tháng Chạp 1941, Mát-xcơ-va”. Anh hơi ngạc nhiên: Mát-xcơ-va. Tại sao lại là Mát-xcơ-va. Cậu ấy chiến đấu ở Lê-nin-grát cơ mà. Bộ đội phòng không thường ít di chuyển hơn là lính tăng này chứ. Thế mà cậu ta lại chuyển về tận thủ đô cơ đấy,-Cun-ga thầm hỏi và nhìn kỹ ngày chụp-tháng Chạp. Bây giờ là cuối tháng tư. Gần nửa năm rồi. Trên tủ còn một số tấm ảnh khác nữa. I-go đang đeo găng, tấm này chụp lúc anh đang trẻ, trông chẳng khác gì cậu thiếu niên. “Có lẽ tấm này chụp trước khi nhập ngũ,-Cun-ga nghĩ,-“Một con chim ưng non”. Và đôi mắt anh dừng lại ở tấm ảnh anh yêu thích nhất, đó là đội quyền Anh quân khu Lê-nin-grát chụp trong bộ quần áo trình diện. Cun-ga cầm lấy tấm ảnh. Những hình ảnh thân thương và xa xôi, hôm ấy là một ngày tháng Năm nắng đẹp, mọi người chụp sau một buổi tập cuối cùng trước khi thi đấu. Cun-ga đứng hàng thứ hai, sau huấn luyện viên A-na-tô-li Dôm-béc. Quanh ông là các đấu thủ của quân khu Lê-nin-grát như: I-go-na-tốp, A-sốt Vác-ca-đi-an, Vô-lô-đi-a Trê-nốp…
Từ dưới bếp thoảng lên mùi khoai tây rán và mùi thịt hộp. Li-đa-ve-ta đang vội vã chuẩn bị bữa ăn tối. Cun-ga trầm ngâm đứng bên tủ suy nghĩ về những ngày trước chiến tranh tuy mới năm ngoái thôi.
Mới đó, thế mà cứ ngỡ là đã bao thế kỷ trôi qua? Trong tấm ảnh là những khuôn mặt trẻ trung, vô tư, yêu đời và đầy tự tin. Cậu Cô-xchi-a vui nhộn hay cười đang nhìn anh với vẻ chế giễu, cặp môi mím chặt. Anh vẫn còn nhớ câu chuyện tiếu lâm của cậu ta về anh chồng già và cô vợ trẻ. Nghe chuyện cậu ấy thì không thể nhịn cười được. Con người vui nhộn ra sao thì chụp ảnh cũng nhộn như vậy. Thế nhưng cậu ấy không còn nữa. Cô-xchi-a đã anh dũng hy sinh trong một trận phản công ở ga Xtra-na. Cậu Vô-lô-đi-a trầm trĩnh cũng không còn nữa. Cậu ấy bị mất tích sau một trận đánh. Nghe nói cậu ấy đã ở lại trận địa sau cùng với ý định mang những người bị thương còn sót lại ra khỏi khu vực bị bao vây. Hôm ấy trời rất tối. Có thể đã bị mìn hoặc một viên đạn lạc nào đó… Còn A-sô thì bị thương nặng. Cậu ấy nổi danh là “một tay Ác-mê-ni láu cá”. Thế nhưng bước vào cuộc chiến tranh cậu ta đã không gặp may…
Li-đa-ve-ta từ trong bếp đi ra, tay bê sanh khoai rán. Vẫn không rời mắt khỏi tấm ảnh, Cun-ga trầm ngâm nói:
-Tôi đang nói chuyện với từng cậu đấy. Tôi nhớ hồi ấy I-go đang chuẩn bị đón chị tới thăm vào đầu tháng Bảy. Lúc ấy không ai trong chúng tôi lại có thể dám nghĩ rằng đấy là những ngày hoà bình cuối cùng… Cun-ga ngừng lại hỏi với giọng bình thường:
-I-go có viết gì cho chị không? Anh ấy hiện đang ở đâu?
Li-đa-ve-ta đặt sanh khoai xuống, tay vẫn không bỏ miếng lót vải im lặng nhìn Cun-ga vẻ trầm ngầm, khó hiểu. Trong giây lát đó, Cun-ga cũng đã kịp nhận thấy khuôn mặt người phụ nữ trẻ trung thoáng đượm buồn, khó nói.
Chẳng nói một lời nào, chị lặng lẽ đến bên tủ lấy trong túi xách ra một bức thư đã nhàu nát đưa cho Cun-ga. Dường như không chịu đựng được hơn nữa, nước mắt bỗng trào ra trên má, chị đưa mu bàn tay chùi vội.
-Đây, bà láng giềng viết cho tôi đấy… Có thể không tin được chăng?
Chị nấc lên. Cứ như vậy chị khóc, hai tay xoắn lấy nhau vẻ bất lực.
-Thế nhưng chị không nhận được tin gì của I-go chứ?
-Chỉ có mấy dòng ngắn ngủi bảo là anh ấy xa mặt trận… Chỉ thế thôi. Không một lá thứ nào cả… Anh ấy chỉ nhắn miệng là đi dự một lớp học nào đó. Hình như là ở Mát-xcơ-va. Sau đấy ít lâu là lá thư của bà láng giềng…
-Có thể bà ta nhầm lẫn thôi.-Cun-ga nói một cách chắc chắn, tựa như chính anh là người biết rõ chuyện này.
-Vậy chị đã biên thư hỏi đơn vị anh ấy chưa?-Ga-li-a bỗng lên tiếng và ngồi xuống cạnh Li-đa-ve-ta.
-Hỏi gì?-Li-đa-ve-ta vẫn nức nở.
-Hỏi đơn vị của anh ấy chứ còn hỏi đâu nữa. Bức thư của anh ấy đâu?
Li-đa-ve-ta rút tuếp bức thư gấp bên cạnh, lá thư cuối cùng của I-go gửi cho chị.
-Đây, hòm thư đây. Và đấy cũng là số hiệu đơn vị. Chị phải viết ngay cho đồng chí chỉ huy đơn vị này, hỏi rõ tin tức về anh ấy.-Ga-li-a quay sang hỏi Cun-ga.-Tôi nói vậy có đúng không?
Cun-ga gật đầu,-Đúng đấy, chị viết cho đồng chí chỉ huy đơn vị đi. Tôi cũng sẽ viết cho đồng chí ấy.
Li-đa-ve-ta tròn mắt nhìn hai người và bỗng trách mình là việc đơn giản như vậy mà chị cũng không nghĩ ra được.