Trên bậu cửa sổ căn phòng, Mi-cla-sốp đặt một bình thủy tinh đựng đầy nước cắm mấy nhánh liễu mang từ rừng về tuần trước, chúng đã đâm mấy chồi xanh tí xíu, dấu hiệu của mùa xuân. Vào những giờ nghỉ ngắn ngủi, anh thường ra ngắm nghĩa và nhận biết những mầm lá non vừa xuất hiện. Trong thư gửi về cho vợ, anh kể về mấy nhánh liễu của mình. Li-đa báo rằng, trên cửa sổ căn phòng của hai mẹ con cũng có một chai nước để cắm hoa và những nụ tử đinh hương đang nở rộ, những chồi lá đầu tiên đã nhú; cậu con trai An-đriu-sas đã tự mình thay nước và bảo rằng, cậu ta cũng có hoa “giống như bố”.
I-go Mi-cla-sốp đọc lại bức thư gần đây nhất của vợ, nhìn vào tờ giấy vở học sinh, trên đó Li-đa cầm tay cho con viết chữ “bố”, anh áp chặt lá thư bên má như cảm thấy bàn tay trẻ thơ đang ve vuốt và thì thầm gì đó, rồi cất thư vào va-li:
-Hẹn gặp lại, những người thân yêu của tôi…
Còn khi nào gặp lại, và nói chung liệu có còn được gặp nhau nữa không thì cả I-go lẫn vợ anh hầu như không ai biết trước được. Chương trình huấn luyện đã xong, chỉ còn vài ba hôm nữa là đến “cuộc hành trình vào một nơi xa lạ”-như anh thầm đoán. Hôm qua một vị tướng đã gặp anh, đã căn dặn khá lâu và tỉ mỉ với hàng loạt những câu hỏi khác nhau, rồi sau đó hài lòng với những câu trả lời, ông vui vẻ bắt tay và chúc anh gặp nhiều điều tốt lành.
Đại úy Liu-sen-cô xuất hiện bên ngưỡng cửa. Anh mặc chiếc ca-pốt khiến dáng người có vẻ cân đối nhẹ nhõm hơn. Trên gương mặt tròn trĩnh, màu râu nhẵn nhụi của Liu-sen-cô có vẻ đăm chiêu lo lắng. Trong cặp mắt màu sẫm của anh không ánh lên cái vẻ khô khan, thấu suốt và nghiêm khắc của một nhà sư phạm như mọi khi, mà là cái nhìn ấm áp tựa như ở đó ánh nắng xuân đã làm tan đi những vụn băng. Những tháng qua anh đã chỉ huy việc huấn luyện I-go, và như I-go có cảm giác, anh hay bắt bẻ và có vẻ quá ư cầu kỳ trong việc kiểm tra sự thực hiện tất cả các mục trong chương trình học tập. Đặc biệt Liu-sen-cô tỏ ra hết sức nghiêm khắc trong những buổi học tập cuối cùng, khi tập dượt các cuộc “hỏi cung tại cơ quan Giét-ta-pô”. Anh ta đề ra hàng lô những câu hỏi hắc búa và đòi phải trả lời tức khắc. Nhưng giờ đây, tất cả đã lùi về phía sau, việc huấn luyện đã kết thúc. “Câu chuyện huyền thoại” đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng nhưng vẫn khá đơn giản và tự nhiên. Người ta không đổi tên I-go Mi-cla-sốp vẫn cứ là Mi-cla-sốp. Bởi vì như vậy sẽ dễ dàng bắt liên lạc với ông cậu rể phản bội mà trong những tháng gần đây đã leo cao thêm trên bậc thang danh vọng mới và đang giữ một chức vụ quan trọng trong cơ quan tuyên truyền của Hit-le. Trên tờ báo phát-xít xuất bản bằng tiếng Nga “Tiếng nói người Nga” thường xuất hiện những bài báo dài của y. Theo như câu chuyện được dựng lên, thì Mi-cla-sốp sẽ bị đội tuần tra bắt vì tội say rượu, càn quấy, trong người không có giấy tờ gì và đã chống lại nên bị đưa ra xét xử tại tòa án quân sự, bị tuyên án tước hết mọi huân chương, giáng chức xuống hàng “binh bét” và điều ra tiền tuyến đưa vào tiểu đoàn phạm binh… Nơi hành động sẽ là quán bia trên quảng trường Pu-skin, bên cạnh hiệu thuốc.
-Xong rồi chứ?-Liu-sen-cô hỏi.
-Báo cáo, sẵn sàng.-I-go đáp và đưa mắt nhìn lần cuối cùng căn phòng học viên của mình.
-Thôi, ta đi thôi.-Liu-sen-cô liếc nhìn đồng hồ.-Đội tuần tra đã có mặt ngoài quảng trường rồi đấy!
Mấy phút sau, xe hơi đã đưa họ đến phố Gor-ki. Dừng lại bên cửa hành thực phẩm. Liu-sen-cô đặt tay lên vai Mi-cla-sốp:
-Này, I-go. Cậu nhớ là chỉ uống chút ít thôi nhé. Đủ cho đỏ mặt là được. Hiểu không?
Quán bia đón chào Mi-cla-sốp một cách ồn ào, nhộn nhạo. Những làn khói thuốc lá xanh lơ lửng bay quần trong phòng. Khắp các bàn, người ta bàn tán về những tin tức mới nhất từ mặt trận, kể tên những thành phố và làng mạc vừa được giải phóng. I-go gọi một cốc bia, đặt lên bàn chai vốt-ca và bắt đầu “gửi hồn lên chín tầng mây”. Anh kín đáo đổ hết chén này đến chén khác xuống gầm bàn và khoảng chừng hai mươi phút sau, người ta thấy anh chàng i-go lảo đảo đứng dậy, trỏ vào mặt khách ngồi trong quán rượu:
-Này, mày cứ ngồi ở đây mà nốc đẫy bia vào… Tao bảo, mày cứ ở đây mà nốc bia… Còn tao… Tao và các chiến hữu của tao thì đang đổ máu ngoài mặt trận…
Một người mặc thường phục vội can ngăn anh chàng trung sĩ đã ”quá chén”, nhưng I-go lại càng nổi xung hơn:
-Xéo đi, đồ chó đểu… Anh giáng mạnh chiếc cốc xuống sàn,-Tao đã đổ máu, còn mày thì…
Mọi người cố gắng ngăn kẻ gây rối, nhưng vô ích. Mi-cla-sốp túm lấy cổ áo vải bạt của người cảnh sát vừa vào vầ xô anh ta ngã giúi vào tường. Bị xúc phạm, anh kia giơ nắm đấm xông lại chỗ Mi-cla-sốp…
Tiếng náo động trong quán ăn làm đội tuần tra vội chạy tới. Ba chiến sĩ tuần tra vội xông vào can thiệp và lôi xềnh xệch anh chàng trung sĩ “đá quá chén” ra khỏi phòng. Lập tức một đám đông tò mò đã vây quanh vỉa hè. Người ta khéo bố trí sao cho trong số đó có cả bà Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na, người ở cạnh nhà I-go từ hồi anh còn nhỏ. Bà ta kinh ngạc mở to mắt-đã thấy chưa? Làm sao có thể hiểu nổi nhỉ? Hồi giáp tết, I-go đột nhiên xuất hiện ở nhà và như anh khoe, thì tức là từ mặt trận trở về, rồi sau đấy bà thấy người ta đưa xe hơi đến đón anh dù không phải như đón một vị chỉ huy nhưng cũng không kém gì một nhân vật quan trọng. Ai có thể ngờ được! Bây giờ anh ta cũng được những quân nhân cầm súng đưa đi nhưng bằng chiếc ô-tô khác, chiếc ô-tô có lưới sắt trên cửa sổ. Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na thở dài:
-Hừ, còn có thể nói gì về cái ngữ ấy được nữa, một con người biến chất. Trước sau gì thì anh ta cũng chỉ là một gã đánh bốc, thích gây gổ… Nói tóm lại là một ông tướng càn quấy!
Bà ta quyết định rằng nhất địch phải viết thư kể về mọi điều xảy ra mà bầ đã chứng kiên từ đầu đến cuối cho bà mẹ I-go người nữ nghệ sĩ Ôpêra và cho Li-đa, cô vợ khờ khạo của anh ta nữa. Hãy để cho họ biết. I-go của họ là một gã anh hùng rơm, một tay say rượu lỗ mãng…
Bà Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na nán lại chỗ đám đông cho tới khi cánh cửa có lưới sắt đóng lại sau lưng Mi-cla-sốp, rồi mới vào cửa hàng giao nộp phiếu thực phẩm…