Đứng Vững Đến Cùng

Lượt đọc: 1290 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1.

❊ ❊ ❊

Ma-ri-na Rúp-xô-va, hay như tên ghi trong hộ chiếu là An-na Run-ke, xuống bến tàu điện cuối cúng. Đi qua ba dãy phố, chị rẽ vào một ngõ nhỏ ở gần ngoại ô Brúc-xen. Những dãy nhà cũ xây bằng đá hộc, xám xịt cổ kính chen chúc nhau với các mái nhọn hình tháp nhô cao, dáng dấp giống như bàn tay những con chiên ngoan đạo đang thành kính cầu nguyện giữa bầu trời tháng Mười hai âm u. Ngõ phố vắng vẻ, chỉ còn thấy lờ mờ, mặt đường lát đá vuông vắn nhãn bóng. Chiếc xe hòm màu cỏ úa, to lớn nặng nề phủ bạt kín đang đỗ ở góc hiệu bánh mỳ che khuất gần hết nửa ngõ phố.

Liếc mắt nhìn chiếc xe lạ, Ma-ri-na nhẩm tính như vậy là ba ngày nay nó thường xuyên xuất hiện đúng vào lúc chập choạn tối này. Chẳng có gì đáng nghi ngờ cả-xe nào chả là xe.

Ma-ri-na rảo bước trở về căn phòng nhỏ của chị mà nửa tháng trước đây, sau khi hoàn toàn tình cờ và thần kỳ thoát khỏi cuộc bủa vây của bọn Giét-ta-pô. Chị đã phải chuyển đến Brúc-xen và đã được bố trí ở tại căn phòng thuê với giá phải chăng trong khu nhà lớn này. Đúng là những ngày thật nặng nề. Tất cả cơ quan báo chí, đài phát thanh địch đều làm rùm beng về thắng lợi dứt khoát sắp đạt được của sức mạnh quân sự Đức. Những chiếc loa tâm lý chiến không ngừng đưa tin về bước tiến như vũ bão của quân đội quốc trưởng đang tiến gần đến chân tường điện Crem-li và buổi lễ duyệt binh của những người chiến thắng sẽ được tổ chức ngay tại Hồng trường, đúng bào ngày lễ truyền thống của Cộng sản Bôn-sê-vích, mồng Bảy tháng Mười một năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt. Và cũng chính hôm mồng Bảy tháng Mười một mưa phùn lạnh lão ấy, Ma-ri-na đã chuyển được va-li đựng điện đài tới căn phòng nhỏ ở tầng bốn này một cách an toàn. Nhưng trong lòng chị lại ngổn ngang trăm mối vừa buồn rầu day dứt, vừa lo lắng đau xót. Ngay hôm ấy, sau khi thu xếp xong, bất chấp cả nguyên tắc bảo mật, chị đã khóa chặt cửa lại không kịp cởi áo khoác ngoài, liền bật máy thu. Ngón tau chị run run hồi hộp vặn chiếc núm tìm làn sóng đài phát thanh Mát-xcơ-va thân thuộc. Ở đấy đang có gì lạ? Liệu có gì bất hạnh xảy ra? Ai đang làm chủ ở đấy? Và chị đã không kìm được dòng nước mắt tự nhiên ứa ra khi từ trong máy khe khẽ vang lên giọng nói xiết bao thân thương quen thuộc của nữ phát thanh viên đang đọc bản tin cuối cùng trong ngày. Ma-ri-na còn nghe được phần cuối bản tin, qua đó chị cũng biết được cuộc diễu binh đã diễn ra trên Hồng trường, nhưng không phải là của chúng nó mà là cuộc diễu binh của Hồng quân. Hơn nữa lại còn nghe được một đoạn cuối bài diễn văn của Sta-lin… lòng nhẹ nhõm và thanh thản, chị cảm thấy dường như mình đang được ở nhà, đang đứng trên ngã tư phố A-rơ-bát, đang gặp những người thân yêu… Mát-xcơ-va vẫn còn đó, Mát-xcơ-va vẫn nguyên vẹn, vẫn đứng vững.

Ma-ri-na bất giác mỉm cười nhớ lại buổi phát thanh tường thuật ngày lễ tháng Mười một hôm ấy và bên tai chị vẫn còn vang vọng giọng nói hào hùng phấn khởi và trang trọng của người phát thanh viên Mát-xcơ-va. Còn gì vui bằng suốt một năm ròng rã sống ở đây chị không được nghe lấy một câu tiếng Nga nào cả. Đâu đâu cũng chỉ là tiếng Pháp thánh thót và cái thứ tiếng Đức đáng ghét. Nếu muốn nghe trộm đài Mát-xcơ-va thì chỉ được phép các bản tin bằng tiếng Pháp và Đức. Tuyệt đối không được nghe bằng tiếng Nga. Nguyên tắc nghiêm ngặt này là điều bắt buộc đối với tất cả các nhân viên tình báo khi sống ở xa Tổ quốc. Cuộc sống đã rèn cho Ma-ri-na quen suy nghĩ qua tiếng Đức hoặc tiếng Pháp và để khỏi quên tiếng mẹ đẻ thân yêu, đêm đêm chị thường tự cho phép mình trùm kín chăn khe khẽ đọc một vài bài thơ của Pu-skin mà chị đã học từ thời phổ thông.

Van-te Lan-gren đến An-véc-pen đột ngột và đúng vào lúc gay cấn nhất. Trước đây Ma-ri-na chưa được gặp cũng như chưa hề biết anh nhưng mới đây chỉ được báo tin là sẽ có “một đồng chí” của ta đến gặp chị. Van-te với chiếc va-li đựng điện đài và pin dự trữ, đưa vé tàu cho chị và hướng dẫn ga phải chuyển để đi đường vòng đến Brúc-xen, thủ đô Bỉ.

Xuống ga Brúc-xen, Ma-ri-na đến ngay trung tâm thành phố tìm quán cà phê nhỏ gần nhà băng quôc gia như họ hẹn gặp nhau, Van-te trao hộ chiếu mới cho Ma-ri-na mang tên An-na Run-ca, một ít tiền và địa chỉ thuê phòng.

-Bây giờ chị đi thẳng, qua ngã tư thì rẽ trái,-Van-te nói khẽ khi hai người rời quán giải khát.-Ở đó có hiệu uốn tóc nữ khá lắm. Chị phải làm lại tóc, phải cải dạng mái tóc đi. Nên nhuộc lại màu khác.

-Vâng, tôi sẽ làm ngay.-Ma-ri-na đáp.

-Chưa hết đâu. Chị nên nghĩ cách nào đó thay đổi đặc điểm trên mặt nữa.-Van-te vừa nói vừa ngắm khuôn mặt chị làm Ma-ri-na hơi ngượng.-Nên tạo một nốt ruồi hay hạt cơm nhỏ ở đâu đấy. Tóm lại chị phải có gì đổi khác so với lúc ở đấy.

Anh không nói rõ là như lúc ở An-véc-pen nhưng thế cũng đủ hiểu. Ma-ri-na muốn đi cạnh người chỉ huy mới của mình một lúc nữa, nhưng anh đã chào tạm biệt và quay đi ngay.

Tên họ thật của Van-te là gì, dĩ nhiên Ma-ri-na không biết được. Nhưng không hiểu sao chị có cảm giác là, ở bên ấy, ở nước Nga quê hương, anh có tên gọi thật giản dị và đáng yêu-Va-nhia và anh sinh ra, lớn lên nơi nào đó ở vùng U-ran. Song hỏi Van-te thì không muốn vì chị biết công việc của họ phải hết sức thận trọng, họ không được phép tò mò tới những việc không liên quan và thật ra nếu có cố hỏi thì anh ta cũng chỉ cười xòa lảng tránh bằng một câu đùa vui khác thôi.

Những cuộc tiếp xúc của họ thường nhanh gọn, ngắn ngủi đến mức những người xung quanh không hề nghĩ rằng họ quen biết nhau. Trong những buổi gặp như vậy, Van-te chỉ kín đáo trao cho chị bao diêm hoặc một vài thứ gì đó bên trong có cuộn tổ sâu một vài tờ giấy mỏng dính chưa đựng nội dung một bức điện, một báo cáo khẩn cấp nào đấy. Ma-ri-na phải mã hóa nó và chuyển ngay về Trung tâm. Nếu có mệnh lệnh hoặc các yêu cầu của Trung tâm thì Ma-ri-na lại chuyển cho Van-te.

Buổi gặp thường lệ hôm nay chị lại nhận được chiếc bao diêm. Cất cẩn thận bao diêm vào túi xách tay đựng vài thứ lặt vặt khác như mẩu sáp môi, lọ nước hoa Pa-ri và ví tiền. Tất cả chỉ có thế vì biết làm sao hơn được trong hoàn cảnh chị phải tiết kiệm tiêu dùng mọi thứ, trừ những thứ thật cần thiết.

Ma-ri-na trở về ngôi nhà cũ kỹ, thong thả bước theo cầu thang lên lầu bốn, vào phòng xong liền đóng chặt ngay cửa lại. Cởi áo khoác, việc đầu tiên của chị là nhóm lò đun nước. Quàng chiếc khăn ấm lên đầu, chị đến giá sách lấy cuốn “Ba người lính ngự lâm” của Đuy-ma và bước lại bàn vừa lần giở trang cần thiêt. Rút mẩu giấy cuộn thuốc lá trong bao diêm ra, chị chăm chú đọc những hàng chữ thẳng tắp, nét chữ cứng cáp rõ ràng và ngồi xuống dịch mã. Từng dãy cột số dần dần hiện ra trên tờ giấy học sinh bình thường.

Soát lại lần nữa bản dịch mã, Ma-ri-na đến bên bếp lửa, dí mẩu giấy thuốc lá vào ngọn lửa đang reo. Trong nháy mắt, mẩu giấy đã biến thành đám tro tàn. Giờ đây, ngoài Ma-ri-na ra, có thể nói trên châu Âu này không còn ai có thể đọc được những dõng chữ số bí hiểm này nữa.

Ma-ri-na vừa nhìn bếp lửa, vừa thầm nghĩ đến người đồng chí bí mật chưa hề quen biết nào đó đã phải mạo hiểm ra sao để lấy những tin quan trọng và giá trị này. Người đó là ai? Chẳng hiểu vì sao bỗng dưng Ma-ri-na lại hình dung rằng nhất định đấy là một con người to lớn, đẹp trai.

Ở Brúc-xen này, khi nhận từ tay Van-te bản tin Ma-ri-na đã để ý ngay đến nét chữ cứng cáp, rõ ràng giống như nét chữ trong các bản tin khi còn ở An-véc-pen. Ở đấy người chuyển tin cho chị là Han-xơ, một người Đức tuổi trung niên dáng chắc nịch và thái độ rất lịch thiệp. Có thể cũng chính là nét chữ của Han-xơ, nhưng Ma-ri-na gạt bỏ ngay giả thiết này vì chính chị đã chứng kiến bọn phát-xít giết anh như thế nào. Có thể nói anh ấy đã hy sinh ngay trước mắt chị và nhờ đó chị đã thoát khỏi cuộc bủa vây của chúng.

Hôm ấy chị đến chỗ hẹn muộn nên phải đi tắc-xi. Gần đến chỗ hẹn ở đài phun nước, Ma-ri-na từ xa đã trông thấy Han-xơ. Anh đứng quay lưng về phía chị, tay cầm tờ báo. Qua cửa kính tắc-xi, Ma-ri-na bỗng thấy hai người đàn ông mặc thường phục và một tên Giét-ta-pô tiến đến sau lưng anh.

Ma-ri-na không nhớ rõ mình đã hét lên như thế nào với lái xe mà chỉ nhớ là chị đã run lên kinh hoàng, líu lưỡi bảo anh ta quay ngay xe lại hướng cũ, chạy thật nhanh thoát khỏi chỗ Han-xơ đang đứng. Người lái xe đứng tuổi sợ hãi, không muốn dính vào chuyện nguy hiểm, thốt lên một lời chửi thề rồi vòng ngay xe lại, rú ga phóng như bay về đường cũ. Khi Ma-ri-na bình thâm lại thì họ đã ở xa trung tâm, đã ra đến ngoại ô An-véc-pen.

-Khóc đủ rồi đấy, người lái xe nói giọng cau có khi thấy Ma-ri-na vẫn thổn thức.-Hãy bình tĩnh lại đi.

Ma-ri-na vừa gật đầu vừa lau nhanh nước mắt. Đợi cho người khách lạ bình tâm hẳn, ông ta mới cho xe đỗ gần bến xe buýt.

-Thưa bà, mong bà hiểu cho, tôi cũng là người yêu nước Bỉ thân yêu của tôi. Tôi cũng căm thù bọn phát-xít! Nhưng mong bà thông cảm và tha lỗi cho vì trên vai tôi còn sáu đứa con nhỏ.-ông vừa nói vừa vỗ vỗ bàn tay lên chiếc cổ cháy nắng.-Tôi còn sáu đứa con, bà hiểu chưa?

-Để tôi trả tiền… Ma-ri-na nhìn vào đồng hồ báo số ki-lô-mét và biết ngay rằng mình không đủ tiền trả.

-Thôi, không cần đâu,-người lái xe lầu bầu.-Tốt nhất xin bà hãy quên chiếc xe tôi đi. Bà cứ coi như chưa bao giờ đi tắc-xi cả.

-Xin cảm ơn ông, cảm ơn ông rất nhiều…

Chờ Ma-ri-na xuống khỏi xe, ông ta liền vòng gấp đưa chiếc “Rơ-nô” về hướng cũ.

Ma-ri-na đứng lại bên vệ đường một lúc, đôi mắt vẫn trân trần nhìn thẳng những chị chẳng nhìn thấy gì cả. Trong đầu óc vẫn còn đọng lại rõ ràng hình ảnh kinh hoàng trước đài phun nước. Chị như vẫn nhìn thấy rõ ràng, hai tên mật vụ đã bất ngờ xô Han-xơ ngã ngay vào chiếc xe ô-tô đang phóng tới và chồm lên anh, chạy thẳng. Đây là lần đầu tiên chị chứng kiến vụ giết người Ma-ri-na rợ do bọn phát-xít gây ra trước mắt mình. Thật dã man không thể hiểu nổi.

Trời cuối thu nên ngày chóng tối. Từ phía kênh đào trải dài một dải sáng xanh mờ ảo dọc theo đường lớn, gió biển ấm áp thổi nhẹ vào thành phố. Phía chân trời mặt trăng lấp ló sau đám mây đang cố nhô cao chậm chạp như bóng ma mờ ảo buồn tẻ của một ngày thu tàn.

Ma-ri-na lặng lẽ chậm rãi cất bước dọc theo bờ kênh, nhớ lại một câu đã đọc trong tờ báo cách đây không lâu: “Chiến tranh-là sự điên loạn cao nhất của con người”. Hôm nay chị đã biết thế nào là chiến tranh.

Chị uể oải bước dọc theo bờ kênh, lòng ngổn ngang suy nghĩ. Cuộc sống xếp đặt thật kỳ lạ. Chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên đã cứu chị. Nếu như bà chủ nhà không tự dưng giữ chị lại ở chân cầu thang để huyên thuyên ca cẩm về tư cách bọn thanh niên ngày nay toàn là một bọn hư hỏng. Và nếu không có mấy phút dừng chân bất đắc dĩ đó thì có lẽ Ma-ri-na đã xa vào móng vuốt bọn Giét-ta-pô cùng với Han-xơ rồi.

Chị đi ô-tô buýt về thành phố. Sau đó chị biết rằng một tên khiêu khích đã khai ra Han-xơ ngay cái đêm chị chuyển chiếc va-li đựng điện đài đến căn phòng dự bị.

… Tất cả những hồi ức này cứ dồn dập đến ngay khi chị đang điều khiển điện đài phóng lên không trung những tín hiệu quy ước. Một lát sau, chị đã chuyển tiếp những con số lần lượt từ cột này đến cột khác. Trong những phút giây ngắn ngủi ấy chưa bao giờ chị cảm thấy mình gần gũi Tổ quốc thân yêu như vậy, chưa bao giờ cảm thấy sự đóng góp nhỏ bé của mình vào cuộc chiến tranh vĩ đại lại cụ thể và quan trọng như vậy. Làm xong buổi liên lạc thường kỳ mà Ma-ri-na vẫn thường ví như những “loạt liên thanh”, chị đốt ngay tờ giấy sao điện và cất giấu điện đài.

Chị vui sướng vì buổi liên lạc diễn ra tốt đẹp, người ta tiếp nhận tín hiệu của chị ngay từ “loạt đạn đầu”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.