Trung tá Tê-lê-va-rốp lấy tấm bản đồ trong tủ sắt ra. Mới đây tấm bản đồ này còn trong tay viên trung tá I-ô-gan Phơ-ran-xơ Lây-man, phó cục trưởng thứ nhất cục quân báo cụm quân “Noóc-đơ”. Ông trải tấm bản đồ lên bàn.
Ông cầm chiếc bút chì đỏ trong lọ gỗ đặt trên bàn và vân vê trong tay. Sau đó ông mở quyển vở khá dày, lần đọc từng trang cần thiết và tỏ vẻ hài lòng. Ông đánh dấu chữ thập đỏ sẫm lên những ký hiệu riêng của Lây-man. Mỗi dẫu chữ thập tương ứng cho một tiên điệp viên bị loại trừ.
Từ lâu này. Ôi! Chẳng biết là bao nhiêu lâu rồi Tê-lê-va-rốp chưa từng có cái cảm giác sung sướng vì công việc kết quả như vậy. Các tài liệu của “bộ chỉ huy-014” cục quân báo Đức đã chứng minh cho sự đúng đắn, chính xác về các nguồn tin mà cơ quan an ninh Lê-nin-grát đã thu thập được, nó đã mở thêm hướng hoạt động cho họ để giành thắng lợi mới trong cuộc đọ sức bí mật này. Ngay cả trước khi ban tham mưu mặt trận chưa có trong tay chiếc cặp của trung tá Lây-man, với bản danh sách tỉ mỉ thì cơ quan an ninh chũng ta đã nắm chắc được một bộ phận lớn, và làm mất hiệu lực-một bộ phận khác đang bị ban đặc biệt theo dõi, phát hiện. Tuy nhiên chưa thể khẳng định được rằng sẽ không còn những hang ổ nguy hiểm cài cắm sâu hơn mà chúng ta chưa phát hiện kịp, chưa nắm được chúng.
Tê-lê-va-rốp nhìn tấm bản đồ và thầm suy nghĩ:
-Thế là hầu như khắp khu vực này đều có nấm độc… Trong thành phố cũng vậy, ở ngoại ô, ở Lu-ga, ở Cra-xnô-gơ-va-đây-cơ và cả tít tận Kin-xi-péc nữa… Phía bắc thành phố lên tới cả Vư-boóc-ghe cũng có điệp viên của chúng. Chỉ có quân cảng Crôn-xtát là sạch sẽ. Không có một ký hiệu nào! Cơ quan phản gián hạm đội Ban-tích làm ăn khác đấy. Khá lắm, anh em Ban-tích cừ thật.
Trung úy trực ban đột ngột vào phòng trung tá. Anh còn trẻ dáng người cân đối.
-Báo cáo đồng chí trung tá, nhóm dã chiến đã lên xe.
-Được, được, tôi ra ngay đây.
Trung tá Tê-lê-va-rốp cẩn thận gấp tấm bản đồ ghi màng lưới điệp viên Đức, cất vào tủ sắt. Ông rút trong tập phích của Lây-man, một tấm phích nhỏ đã ngả màu vàng có ghi dòng chữ “Điệp viên 015”.
Bên trái tờ phích dán tấm ảnh một phụ nữ trẻ, xinh xắn, nét mặt tươi tỉnh. Một dòng chữ Đức rành rọt: Họ Miu-le, tên Mác-ta Liu-da, năm sinh 1911.
Ông ghi địa chỉ, ký hiệu loại máy thu phát vô tuyến, độ dài sóng, cột mã, giờ phát sóng rồi nhìn kỹ vào tấm ảnh của “nữ sinh viên Vin-ma” một kẻ tình nghi đã bị bắt giữ trướchiến sĩ ngàu chiến tranh xảy ra một tháng và đã trốn thoát. Có mối liên hệ nào giữa “nàng sinh viên Vin-ma” hồi ấy với Mác-ta Liu-da Miu-le hiện này không?