Giữa Những Hiệp Sĩ Đen

Lượt đọc: 226 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Sự Hoạt Động Không Ngừng Của Đôm-rai-tơ

❊ ❊ ❊

— Tôi không phải là người chuông chúc tụng, ngài Đôm-rai-tơ ạ! Nhất là khi chỉ có hai người. Việc nâng cốc chúc tụng xã giao có thể làm giảm bớt sự thân mật... Nhưng hôm nay, một cách ngoại lệ, tôi muốn nâng cốc chúc mừng ngài. Nói giản đơn là tôi thán phục trí sáng tạo và khả năng hoạt động của ngài. — Nun-ke nói và nghiêng người để chạm cốc với Đôm-rai-tơ trong bữa ăn chiều. Quả là suốt ba ngày qua kể từ lúc tới trường Đôm-rai-tơ chưa hề được nghỉ ngơi. Đúng bảy giờ sáng hắn dậy. Nửa tiếng đồng hồ sau hắn tập thể dục và tắm rửa, uống một tách cà phê không đường với bít-cốt tầm nước chanh từ tối hôm trước. Hắn hoàn thành việc đó nhanh chóng và luôn luôn xem đồng hồ để không phạm quá một giây cho công việc khác. Bảy rưỡi hắn bước ra khỏi khu nhà ở và trong vòng bốn tiếng đồng hồ hắn đi qua một chục phòng nơi các học viên sống để thân chinh xem giờ học, trang phục và bữa sáng của họ, rồi đi tham quan từng buổi giảng dạy theo tổ. Việc đó mất khá nhiều thời gian, vì tổ có ba người. Hơn nữa hắn không kiểm tra chiếu lệ, mà đi sâu từng chi tiết của các học viên. Trong các môn đánh vật, tấn công và tước vũ khí, hắn để lộ sự thành thục đặc biệt trong các ngón đánh.        Từ các lớp học hắn đến phòng vũ-khí, nơi các tổ viên học cách phá hoặc đặt mìn. Họ phải chứng minh cách đặt mìn dưới cầu, đường ray tàu hỏa, hoặc dưới các ghế ngồi, bàn ăn vv,.. Trong phòng của nhà tu cũ không thiếu những mô hình. Đôm-rai-tơ không ngại ngần tự mình chui vào một mô hình để kiểm tra cách đặt mìn của học viên ra sao, tranh cãi với các giáo viên giảng dạy, đôi khi còn bày ra những đề nghị phi lý và say sưa khẳng định ý kiến mình là đúng chỉ để kiểm tra trình độ giáo viên của các lớp biệt kích. San đó hắn tới phòng hắn được trang bị trong nhà thờ cũ nối với phòng vũ khí bằng một hành lang dài không có cửa sổ. Kỹ thuật giết người dạy tại đây. Những hình nhân trông như người thật, dùng làm bia bắn. Chúng chuyển động trên các trục quay như người sống di động, lúc đi tới, lúc thụt lui, rồi bất thần tạt ngang dọc qua các hẻm nhỏ... Các học viên chỉ được bắn một lần vào các hẻm nhỏ có hình nhân lướt nhanh như chớp đó. Sau phát nổ, Đôm- rai-tơ và giáo viên cùng kiểm tra xem viên đạn xuyên vào đâu. Họ đòi hỏi các học viên ngay phát dầu tiên phải trúng vào đầu và ngực. Rất đấng tiếc là Đôm-rai-tơ cũng không phải là nhà thiện xạ, nên bằng mọi cách hắn tránh trực tiếp giới thiệu môn bắn súng. Kiến thức nghề nghiệp kiểu giết người này hắn kém, bù vào đó hắn tìm cách chửi mắng bọn học viên bằng nhưng câu có chọn lọc... nếu một ai đó bắn không trúng đích. Phòng bên phải trường bắn là kho dụng cụ mật, hiện đang được một bức tường đá vây quanh. Ở đây các học viên tiếp thu kỹ thuật giết người hiện đại nhất của Mỹ. Các dụng cụ mới nhất là chiếc găng tay điện và máy phun kín. Một chiếc mô-tơ bé tí xíu loại giảm thanh đặc biệt nằm gọn dưới đáy túi quần truyền lên bề mặt chiếc găng tay một dòng điện... Chỉ cần đặt tay đeo găng lên vai một người nào đó là đủ để họ ngất lịm, đôi khi trong một thời gian rất lâu nữa. Còn máy phun thì được đặt vào túi áo khoác. Đầu nhọn của nó ló lên như chiếc mùỉ-soa trắng bình thường của những người hay làm đỏm. Chỉ có điều chiếc khăn tay ấy được nối liền trong chiếc ống máng dẫn vào túi áo bên dưới. Trong lúc nói chuyện với khách chỉ cần ta kín đáo bấm chiếc nút cuối ống là một loại chất lỏng được phun ra vài tia nhỏ vào mặt đối phương và người đó cũng ngất lịm như bị dòng điện của chiếc găng tay vậy. Thứ «vũ khí này» họ không thể thử được trên các hình nhẫn. Vì vậy họ đành thí nghiệm trên các sinh vật sống... và những học viên không hoàn thành được nhiệm vụ của mình, những điệp viên bị thương tật hoặc ốm đau vì công tác và sau đó là những người đã rời khỏi hàng ngũ với những lý do này, khác. Thay vào số tiền trợ cắp đã hứa, họ, những người thuộc mấy loại trên, phải trở lại trường để đóng vai trò người phục vụ và vật thí nghiệm có khi vĩnh viễn... Xác của ho được chôn trong nghĩa địa của nhà tu. Đúng mười một giờ rưỡi Đôm-rai-tơ trở lại phòng mình để ăn trưa. Cũng như bữa sáng, bữa trưa của hắn không bao giờ thay đổi: thịt cừu nấu chín để lạnh với mọi thứ cay và dấm, vài miếng pho mát, rượu ngọt và nửa quả chanh to. Lúc nào hắn cũng ăn một mình. Từ mười hai đến mười ba giờ không ai được quấy rầy hắn.

Hắn đang tìm hứng thú trong công việc phức tạp nhất là lớp A. Thật ra thì lớp này không có buồng học nào cả. Các điệp viên tương lai học tai phòng ở của họ. Các giảng viên đến từng phòng của từng người trong giờ học. Đôm-rai-tơ tập trung mọi chú ý cho những người sắp kết thúc chương trình, sắp được tung vào địa điểm hoạt động. Các điệp viên lớp A học về các điều kiện sống, các đặc điểm dân tộc và đặc điểm khác về kinh tế; văn hóa, xã hội. Tóm lại học tỉ mỉ toàn diện sao cho người mới đến không xa lạ với môi trường mới và hoàn toàn thích ứng với mọi diều kiện sinh hoạt của nhân dân nơi đó. Trong thời gian gần đây một trong những nội dung quan trọng của môn «hiểu biết địa phương» đòi hỏi phải thường xuyên đọc các báo địa phương Nga. Các tờ báo lớn thì họ nhận theo đường công khai. Còn các báo địa phương và đặc biệt là báo riêng của nhà máy và các trường đại học thì có khó khăn hơn. Những loại đó phải xoay xở bất hợp pháp qua các khách du lịch. Đôm-rai-tơ đã thuyết cho Nun-ke một mẻ ngay lần đầu hắn tới trường. — Các báo của nhà máy và các trường đại học là nguồn tin không bao giờ cạn và rất thu hút chúng ta. Cần phải cố gắng sao cho nhà trường nhận được thường xuyên, càng nhiều càng tốt. Quan trọng là ở chỗ được đọc thường xuyên loại đó. Một tin tức riêng, hay một bài phóng sự cơ thí không mang nhiều ý nghĩa, nhưng nếu ta tổng hợp lại các mối liên hệ của các nguồn tin nhận được hôm qua, hôm nay, và ngày mai, ngày kia... ta có thể biết được là nhà máy đó sản xuất các mặt hàng gì, nó có mấy xưởng, và xưởng nào chịu trách nhiệm làm gì... — Ngài nói chí lí quá, — Nun-ke vội tán thành.— Quả là từ trước đến nay tôi không đánh giá đúng mức loại nguồn tin này. Thế mà chính ra tôi phải vui mừng chớp lấy khả năng đó trước tiên... Ngài có biết trường hợp của nhà báo I-a-cốp Bec-tôn không ? — Tôi không nhớ việc ấy, tuy có thoáng nghe... — Đó là một người Đức chống phát-xít. Ngay trước chiến tranh hắn nhảy sang Thụy Sĩ và cho xuất bản ở đó một quyển sách. Nội dung của nó tố cáo Hít-le đang chuẩn bị một cuộc chiến tranh đẫm máu. Để chứng minh cho lời tố cáo ấy, tay nhà báo đã kể rõ số quân đoàn của chúng tôi với sự hiểu biết chính xác, hơn nữa còn vạch ra những sơ đồ về sự phân bổ quân đội của Quốc trưởng không sai từng chi tiết. Theo lệnh Quốc trưởng, chúng tôi những người tình báo, đã bắt cóc I-a-cốp Bec-tôn mang về Đức. Tất nhiên sau đó là những cực hình tra tấn... Chúng tôi đòi hắn phải vạch mặt những kẻ phản bội đã tiết lộ các bí mật quân sự kia. Và ngài hãy tưởng tượng xem... thủ phạm lại chính là các từ báo của chúng tôi. — Đó, ngài thấy chưa... mà lúc đó Sở kiểm duyệt của các ngài đã rao riết làm việc ấy rồi đấy. Nhưng nói chung thì người Đức các ngài tinh tế và thận trọng hơn dân Xla-vơ nhiều. Ngay hôm sau Nun-ke ra chỉ thị cho cả mạng lưới điệp viên phải nghiên cứu các báo của xí nghiệp và cơ quan ngôn luận địa phương Nga là việc mà từ trước chưa được coi trọng, và đưa vào chương trình huấn luyện lớp A coi như một môn đặc biệt. Đôm-rai-tơ thăm riêng từng học viên sắp tốt nghiệp của lớp A. Hắn vặn hỏi từng người như vặn thừng, và đòi phải thuộc lòng tên cha mọi người lãnh đạo khu vực, địa phương, phải biết mọi chi tiết nổi bật của từng người, thời gian của các cuộc hội nghị, những buổi nói chuyện quan trọng, chương trình của các rạp chiểu bóng, nhà hát và cứ thế tiếp tục truy cứu, vặn hỏi. Hắn tỏ ra cực kỳ chú ý đến mọi hoại động nghiệp dư. Nun-ke nhận thấy hắn quan tâm một cách thú vị đến những người tỏ ra có năng khiếu đối với âm nhạc, nghệ thuật sân khấu và văn học. Ngày hôm đó hắn đã bỏ ra trọn một tiếng đồng hồ để nghe những bài thơ vô vị của tay thi sĩ quèn ở buồng hai mươi tám. — Tôi không ngờ ngài lại ưa thích thơ ca và văn học đến thé!— Nun-ke nói với vẻ ngạc nhiên không giấu nổi. — Thư ca ư ? À, ngài muốn nói đến nhân vật ở buồng hai mươi tám phải không? — Đôm-rai-tơ cười vẻ khoái chí. — Hắn là nhà thơ thì cũng như ngài là người truyền đạo vay. — Thế thì ngài phí bằng ấy thời gian vô ích với hắn làm gì? Đôm-rai-tơ vỗ vai Nun-ke vẻ đàn anh. — Cho đến tháng 5 năm 1945 chúng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh bằng vũ khí. Lúc đó chúng ta cần đến đại bác, tên lửa và tàu bay. Còn bây giờ ta đang chuẩn bị cuộc chiến tranh tâm lý, tư tưởng... Đây là một cuộc chiến tranh loại khác và vũ khí của nó cũng hoàn toàn khác, quan trọng là triết học, hội họa, âm nhạc, văn hoc, nghệ thuật và thơ ca. Tôi cam đoan với ngài là người nào tổ chức được một trung tâm văn học theo chiều hướng của chúng ta thì người đó có giá trị chẳng kém gì một điệp viên phá hoại bậc nhất. Vì vậy mà tôi đã nghe các tác phẩm của anh ta... quả là chán chết đi được! Ta hãy đi nhanh lên thôi, tôi thấy khát đến 'cháy cổ họng rồi.

Cho đến tối Đôm-rai-tơ mới uống bran-dy thôi. Nhưng Nun-kê chưa bao giờ thấy hắn say. Tối hôm ấy hắn uống khá nhiều và mặt chỉ đỏ hơn lúc thường một chút, đang uống Nun-ke ngạc nhiên thấy hắn đẩy chiếc cốc vừa rót đầy sang bên. — Ta hãy ra sân bay xem nhóm nhảy dù đi! Tôi muốn đầu óc được thoải mái đôi chút. — Còn những một tiếng rưỡi nữa mới đến giờ... Ngài đã ra lệnh chuẩn bị cho buổi tối cơ mà. — Thỏi được, ta đi xem bản đồ vậy. Nun-ke mở chiếc khóa tinh xảo của két sắt, lôi ra một chiếc bản đồ gẩp làm bốn. Trên tấm bản đồ đó là phần nước Nga ở châu Âu được đánh dấu bằng các vòng tròn, hình vuông và hình tam giác. Hắn trải tấm bản đồ ra bàn. Đôm-rai-tơ chăm chú nghiên cứu khá lâu, rồi tỏ ý thất vọng — Ít qua! Ít đến nực cười! Khả năng của trường ta chỉ có thế này thôi ư ? — Đó là tối đa rồi đấy! Nhưng nào phải chỉ có một mình chúng ta. Ngoài ra còn có hàng tá các tổ chức khác hoạt động. — Ít quá! Ít quá! Trời ạ. Ít đến nhức đầu cơ đấy! Đôm-rai-tơ vừa lầm bầm nhắc đi nhắc lại câu trên, vừa xem tiếp bản đồ. — Nếu chỉ xem riêng của trường ta. Nhưng ngài đã nói là bản danh sách mạng lưới tình báo Đức cũ đã có trong tay các ngài. Như vậy thì... — Cái mạng lưới tình háo đó không tồn tại, ngài Nun-ke ạ! Trong thực tế nó như không có. Và nếu có một điệp viên nào lọt lưới nối liên lạc với chúng ta, thì chúng ta cũng không phải là những kẻ điên rồ tự đâm đầu vào bẫy như trường hợp vừa rồi của Slit-xen. — Tôi e đó là sự phóng đại, ngài Đôm-rai-tơ ạ! Khi rút ra khỏi nước Nga chúng tôi đã chú ý để lại một mạng lưới điệp viên rộng rãi và được ngụy trang kỹ. Như vậy... — Không còn gì cả, ngài hãy tin thế! Chủng tôi rất đỗi vui mừng khi bản danh sách đó lọt vào tay chúng tôi, Ngài còn nhớ chứ ? Chỉ nửa năm sau thì cả bản danh sách đó đã có thế vứt vào sọt rác. Mạng lưới tình báo cũ của cắc ngài ngày nay chỉ còn là... Một phần tư đến trình diện ở cơ quan phản gián Nga và khai tất cả những gì chúng biết. Phần còn lại thì bị bắt gọn. Bởi nếu đầu dây đã bị nắm thì cả cuộn dây sẽ sổ tung thôi... Còn vài tên có lẽ thoát khỏi bị bắt thì lại lẩn như chuột sợ mèo và hy vọng mọi người sẽ quên mình đi, ngữ ấy thì còn trông mong gì... ở cái nước Nga này. Tất cả phải làm lại từ đầu. Ngay từ đầu. Đôm-rai-tơ bực dọc đẩy tấm bản đồ sang bên và đi lại trong phòng. — Hãy để cái này sang ngày mai. Ta cần phải tìm ra một giải pháp gì đó... À, Vô-rô-nốp và Slit-xen đâu nhỉ? Hôm nay tôi chẳng thấy mặt họ đâu cả. Họ rong chơi à? Đó, ngài hãy xem xem! Rồi tôi sẽ viết cho người đỡ đầu của chúng ta. Tôi tin chắc rằng các tin tức của tôi sẽ làm họ vừa lòng. — Tôi gọi điện cho Slit-xen nhé, ngài không phản đối chứ? Đôm-rai-tơ phát cáu. — Cần phải làm cho cấp dưới hiểu rằng tự họ phải đến trình diện. Chứ không phải ngài cứ theo đuôi họ. — Có lẽ Phret đang ở sân bay, còn Vô-rô-nốp thì còn bận với cái viên giáo sĩ của mình. Tôi đi kiểm tra xem.. Vô-rô-nốp đặt tên «A-men» cho tổ những người giáo phái được giao cho lão phụ trách. — Sao lại là «A-men» — Đôm-rai-tơ ngớ ra khi nghe cái tên đó. — A-men có nghĩa là «hết», — Vô-rô-nốp nheo mắt tinh nghịch có lẽ để che giấu nỗi buồn vô tình chen vào giọng nói của mình. — Tôi đã quá bảy mươi mốt tuổi. Tôi hy vọng việc dạy dỗ các giáo sĩ lần này là nhiệm vụ tình báo cuối cùng của tôi... Hay là «A-men». Đôm-rai-tơ rất thích tính hài hước, nên hắn cười với vẻ khoái chá. — Tôi chỉ yêu cầu một điều thôi, ngài Vô-rô-nốp ạ! Ngài đừng tập cho các linh mục tương lai cái tật nghiện rượu! Chỉ còn thiếu điều họ chưa tan trong rượu trong khi chúng tôi chưa hãm được ngài đấy ! — Ngài Đôm-rai-tơ rất kính mến! Tôi không biết là hiện nay ra sao. Nhưng tôi nhớ rõ là những kẻ chăn chiên trên đất Nga thời trước cách mạng thì cả lũ đều mê tín dị đoan và nghiện rượu. Ngài có thắp đuốc cũng không tìm ra được một cha cố nào không nốc một vài chai nhân ngày đặt tên, ngày sinh nhật, đám cưới, đám tang, lễ thập tự nước, mồng sáu tháng giêng, cuối hội hóa trang, lễ thịt, lễ thánh tam vị nhất thể, tối trước tuần chay lớn, tuần chay bé, lễ Pê-te Pan, lúc này, lúc no, lại lúc khác... Tóm lại không có ngày nào các cha cố không uống. Và tôi tin giờ đây tình trạng đó không thay đổi. Bởi vì đó không phải là chuyện nước Nga mới hay cũ mà là một nước Nga cổ truyền, một nước có truyền thống uống rượu khi vui vẻ cũng như lúc than khóc... Như hồng y giáo chủ Vô-lô-đi-mia đã nói «A-men».

Cuối câu kết thúc, Vô-rô-nốp chuyên sang hát và vòm nhà phát run lên vì cái giọng trầm ầm ầm như sấm dậy của lão ta. Đôm-rai-tơ bịt tai lại. — Một nhân vật ngộ đấy! Hắn đã làm việc với các ngài lâu chưa? — Hai chục năm nay! — Từ đó về trước? — Chung tôi có nỗi ngờ vực vững chắc là ngay từ đại chiến thế giới thứ hai ông ta đã có quan hệ với tình báo Anh và vì vậy mới chuồn sang Anh sau cách mạng Nga. — Rồi sao lại sang với các ngài? — Một tay lưu vong «trắng» ở Pa-ri đã cho xuất bản những tạp hồi ký của hắn, trong đó có nhắc đến công lao của hắn là người đã được tình báo Nga dùng để đánh lừa một bạn đồng nghiệp tình báo Anh của mình. Vô-rô-nốp bị hất ra sau việc đó. Và vì vậy mới đề nghị sang làm việc cho chúng ta. — Như vậy thì trong đầu lão già không thiếu những ký ức đâu! — Tôi cùng tin thế! Ông ta có thể cho ra những tập hồi ký mà tập nào cũng thú vị như nhau. Ông ta đã trải qua ba cơ quan tình báo với tất cả mọi bí quyết của nó. — Chính điều đó... — Đôm-rai-tơ lắc đầu. — Ngài nghi ngờ Vô-rô-nốp ư? Tôi xin lấy tính mạng để bảo đảm là ông ta phục vụ chung ta trung thành và tận tụy. Ông ấy không có nơi đi về và đã già. — Chính điều ấy làm tôi lo lắng. — Về tiền phụ cấp hưu trí phải không? — Tiền phụ cấp hưu nào — Đôm-rai-tơ ngạc nhiên. — Có lẽ ngài nghĩ đến số tiền bảo hiểm trong những hợp đồng ư? Thôi đi, cứ đẻ lão ta tự ru mình vào hy vọng đó trong lúc còn sử dụng được lão ta cho một công việc nào đó. Sau đó... nào, sau đó rồi sẽ xem sao! Tôi phản đối việc người ta mất thì giờ với những dạng người như thế này. Người nào biết được nhiều điều là người nguy hiểm. Ngài hãy chú ý hiện tượng tâm lý sau đây: người tình báo viên giữ quá nhiều bí mật trong mình và càng nhiều bao nhiêu thì áp suất nội tâm càng lớn bấy nhiêu. — Xin lỗi ngài, nhưng tôi không thấy được rằng điều đó có nguy hiểm gì cho chúng ta? — Những người như Vô-rô-nốp luôn luôn sống một cuộc sống hai mặt: một cuộc sống nội tâm họ giấu giếm tất cả mọi người, đôi khi cả với chính họ nữa. Và một cuộc sống bên ngoài thể hiện ở mọi cử động của họ và thống trị cả cuộc sống nội tâm của họ nữa. Một tình báo viên trước hết phải trầm tĩnh... Nhưng đến khi về già thì cái áp suất nội tâm kia không còn bị các điều kiện bên ngoài đè nén nữa, nên như bị vỡ đê vậy, nó tuôn ra tất cả mọi ngõ ngách những gì bị chất chứa, bị che giấu qua bao tháng năm... Ngài đã đọc các bản hồi ký của các tình báo viên chưa? Ai cũng muốn đền bù những tháng năm phải câm lặng, điều có thể nói được họ dốc cạn... và như thế sẽ lộ bí mật những việc không nên lộ... — Tôi chưa thật hiểu ý ngài ? — Tôi không ngờ ngài lại khờ khạo non nớt đến thế, ngài Nun-ke ạ! — Nếu tôi không lầm thì báo chí của các ngài cũng lên tiếng phản đối việc xâm phạm đến quyền sống con người — Chúng tôi cũng không có ý định xâm phạm bất cứ quyền sống của ai cả... Cái chết của một lão già là một hiện tượng tự nhiên nhất. — Ngài nói là ... Ngài nghĩ rằng... — Nun-ke lường lự không biết rằng mình hiểu cấp trên có đúng không. — Chúng ta chỉ thúc đẩy tiến trình các sự kiện đúng lúc, hợp với lô-gich mà thôi... người già là phải chết! — Thế đấy! — lời nói tắt ngấm trong miệng Nun-ke và hắn cảm thấy sống lưng nổi da gà. Bởi vì chính bản thân hắn cũng nằm trong thế lực của Đôm-rai-tơ. Mặc dù hắn đang sổng ở tuổi trung niên đẹp nhất, bỗng nhiên hắn thấy chân trời như thu hẹp lại. Và cái ngày mà có lẽ cũng một câu chuyện tương tự như thế này người ta nhắc đến tên hắn... đến Giô-dep Nun-ke... Và bây giờ, lúc đi tơi chỗ Vô-rô-nốp, hắn nhớ lại tất cả những lời Đôm-rai-tơ nói, một cái gì như lòng thương hại nổi dậy trong tim hắn. Không có lẽ tới mỗi lúc nào đó Đôm-rai-tơ đặt một cái dấu bằng giữa Vô-rô-nốp và hắn !

Điên rồ! Bệnh thần kinh! Sống xa Be-tơ và các con... Cần phải mau chóng chuyển gia đình sang Tây Ban Nha. Dù sao thì việc hắn đến thăm số nhà 15 phố Xa-van-tet không thể bù đắp nổi cho sự ấm cúng của bếp lửa gia đình Đúng, I-da-ben là một ngươi đàn bà tuyệt diệu. Nhưng thời gian gần đây cô ta hay vòi vĩnh đến gần như quá quắt, lại còn cái tính đồng bóng, nóng nảy của cô ấy đôi khi làm hại thân kinh của hẳn. Còn Be-tơ lại biết giữ tính nồng nhiệt trong khuôn khổ. Hắn đang cần đến điều đó, sau những bước phiêu lưu quân sự đơn điệu, cô độc và trống rỗng. Vả lại Han-xơ và Li-dơ cùng không thể thiếu sự dạy dỗ của cha, nhất là Han-xơ. Mẹ nó quá dễ dãi đã ủng hộ khuynh hương hâm mộ môn hội họa của con trai, mà quên rằng cần phải rèn luyện tâm hồn của đứa con trai cho cứng rắn, chứ không phải làm cho mềm yếu đi bằng những mơ mộng hão huyền của niềm vinh quang nghệ thuật. Lần cuối cùng khi hắn về Béc-lin thì các con hắn đã lớn bổng. Chúng đã thừa hưởng được những đặc tính tuyệt diệu của cha lẫn mẹ, chắc chắn chúng sẽ chịu được việc thay đổi khí hậu ở đây. Vợ hắn có lo lắng cũng bằng thừa. Đáng lẽ hắn không nên nói cho vợ nghe về con bé I-ren tàn tật kia mới phải. Dù rằng do tai nạn mà tàn tật, nhưng vợ hắn cứ cho rằng, nếu ở điều kiện khác khí hậu khác... Ồ, một thứ lô-gich của đàn bà, rất đàn bà, dù là một người đàn bà thông minh như vợ hắn! Lúc đầu Be-tơ đã ghen với bà bảo trợ. Cô ta cứ nhắc đi nhắc lại mãi... Thế nhưng cũng đã có lúc hắn gần như điên rồ lao đầu vào chuyện ấy nến hắn không ớn con bé tàn tật và nếu không có sự chống đối thầm lặng của người đàn bà di-gan đánh bật hắn ra... Nhưng xem ra bà ta cũng không làm bộ mãi được. Ít nhất cũng là đối với Gôn-ring nghĩa là Phret Dạo này Phret đến đó quá nhiều. Lẽ dĩ nhiêu điều ấy không xấu, và nó làm giảm bớt aenh hưởng của lão cha cố Au-tô-ni-ô là người càng ngày càng trở nên bướng bỉnh nhiều yêu sách. Đối với Phret càng tốt, nếu nhờ đó có thể quên được cô con gái của Bec-gôn một thời gian... Trước đây anh chàng đòi đi Thụy Sĩ cho kỳ được! Gần đây chuyện đó được im hơi lặng tiếng. Rất hay! Lô-ra Bec-gôn sau cái chết của cha chắc chắn nhận được phần gia tài khá lớn, một phương tiện tốt để giữ người yêu bên mình. Đến lúc đó Phret coi như đã chết trong ngành tình báo. Sau khi cảm thấy nền tảng vững chắc của món hồi môn, anh ta sẽ không bao giờ trở lại nữa... Được, ngườí đàn bà di-gan sẽ là miếng mồi giữ chân anh chàng...        Nun-ke thoát khỏi vẻ tư lự lúc đến cửa phòng của viên tướng già. Nếu viên hiệu trưởng không kìm ắt phải cười vỡ bụng vì bức tranh tĩnh vật có một không hai trước mắt Trên bàn có hai quyển thánh kinh, một quyển dài có trang trí, quyển kia nhỏ hơn, tóm tắt, vừa được gửi từ Niu-Oóc sang, lẫn lộn với các quyển sách cũng in ở USA của các giáo phái khác, là hai chai rượu, một chai rỗng, chai kia vừa mới bắt đầu, cùng với những đĩa chứa xương cá và những mẩu bánh mì ăn dở... Bên bàn là Vô-rô-nốp ngồi đối diện với Prô-tô-pô-pốp. Cả hai đã ngà ngà say. — Ái chà! Ở đây thú quá đi mất! — Nun-ke nói. — Chào ngài! Một cuộc trao đổi thân mật sau bữa cơm chiều nghèo nàn. Thậm chí với đôi chút trí tưởng tượng. Ngài hãy nhìn sự hòa hợp đẹp đẽ này mà xem. Bánh mì là của Chúa Giêsu. Đây là rượu của đất Thánh, còn cá là tương trưng của đạo Thiên Chúa và cuối cùng đây là lời răn của Chúa... — Vô-rô-nốp đặt tay lên quyển Thánh kinh, — tất cả đều cần có cho buổi lễ cả... — Ngài Đôm-rai-tơ muốn hỏi về tổ «A-men». Sáng mai ngài chuẩn bị báo cáo được không? Chỉ thu gọn ở thực chất và số liệu thôi. — Cố nhiên! Chưa bao giờ có chuyện Vô-rô-nốp không hoàn thành được nhiệm vụ của mình, nhất là sau khi đã được nhấm nháp thứ chất lỏng dễ chịu này. — Và lão già dùng móng tay gõ gõ vào cổ chai rượu. — Theo ngài thì bao giờ ta có thể tung quân «A-men» lên đường được? Vô-rô-nốp suy nghĩ rồi đáp: — Bây giờ là hết tháng 10... cứ cho như là tháng 4, tháng 5 năm sau. — Ngài vẫn còn tĩnh đấy chứ? Trong bất cứ trường hợp nào chúng tôi cùng không thể chờ đợi thời gian lâu như vậy được... — Sớm hơn thì chẳng ăn thua gì? — Vô-rô-nốp đứng dậy, bô mặt chuyển sang màu đỏ tía, rồi nói bật ra: — Đôm-rai-tơ ngứa và tôi phải gãi à! — Nhưng ngài hãy hiểu là phải rèn sắt lúc còn nóng chứ ? Bây giờ mới là lúc chúng ta rất cần những người cầm đầu các giáo phái... Cái gì cũng có thời gian tính của nó cả... — Tại sao các ngài không nghĩ đến điều đó từ trước, thưa ngài hiệu trưởng ? Các ngài ném cho tôi những thằng dốt đặc đến nỗi không phân biệt được quyển kinh thánh với quyển kinh tân ước. Vậy mà lại muốn tôi phải làm cho họ hiểu biết trong ba ngày. Những con bò kéo này sẽ trở thành giáo sĩ thế nào được, nếu không có thời gian lâu dài... Và tôi sẽ tung họ lên đường, để rồi lại nhìn họ sa vào lưới chứ ? — Đôm-rai-tơ nói rằng giữa bọn giáo phái cũng có những người sáng tác ra cả các bài tụng kinh và thánh ca cả nhạc lẫn lời. Ngài có chú ý đến điều đó không? — Đây này! Họ cũng gửi cho tôi vài tác phẩm kiểu như thế lúc tối qua. Prô-tô-pô-pốp, ngài thấy thể nào với các tác phẩm này ? — Vô-rô-nốp lật tờ báo đến trang gần cuối và cáu kỉnh đập lên bàn. — Phải, tôi cũng đã đọc. Thật là buồn cười. Còn âm điệu của nó thì chẳng khác nào các bài hát cũ của các cô gái thất tình vừa hát vừa tuôn lệ vậy. Ngài thử nghe xem.

Prô-tô-pô-pốp với tay lấy tờ báo và cất giọng : « Ánh sáng cứu rỗi cháy rực trong lòng tôi, tia mặt trời của bình minh tắt lịm »... Hoặc như đoạn này: « Tim ta hao mòn vì tuôn nước mắt, lòng ta bối rối vực thẳm không cùng... ». Nun-ke không nhịn được cười và điều đó càng chọc tức Vô-rô-nốp. — Phải rồi, đối với ngài thì thú vị đấy ! — Dù sao việc đào tạo cũng cần làm nhanh lên — Nun-ke bỗng đột ngột trở nên nghiêm nghị tiếp. — Bằng bất cứ giá nào! Sáng ngày mai ta sẽ thảo luận thêm ở văn phòng của tôi, ngài hãy báo với Phret. A, Phret ra sân bay lâu chưa ? — Sân bay ư! Anh ta đang ở chỗ Pan-tê-lây-môn với người ở trọ của lão. — Phải, phải, tôi đã biết... lúc nào Phret về ngài hảo đến thẳng chỗ tôi nhé ! Nun-ke đi khỏi. Riêng Phret cũng không vội từ Phi-gie-ra về nhà. Thực tốt biết bao tự mình có thể lái ôtô cho chính mình. Lúc này anh có thể giảm tốc độ để có có thời giờ suy nghĩ về sự kiện lớn bất ngờ của ngày hôm nay. Lúc đầu tất cả đều xảy ra bình thường đúng như kế hoach dã định trước. Một buổi sáng, sau khi có cuộc chạm trán với Nô-ra, hơn một tuần, Đô-man-tô-vích đã từ chối bửa ăn sáng. Anh nói với lão chủ nhà : — Đồ ngốc! Hãy báo với cấp trên của anh cho ta gặp ngay, hoặc ta sẽ nhịn đói cho tới chết, Lão chủ nhà im lặng thu dọn bát đĩa, Đến bữa trưa, vừa nghe tiếng bát đĩa chạm nhau lách cách và mùi thức ăn, anh nuốt nước bọt và tự rủa mình: « Đồ gàn dở, thà cắn lưỡi đi còn hơn làm cái trò ngu ngốc này! Đáng lẽ phải dồn sức trong những ngày nghi và tỏ rõ cho họ biết mình kiên tâm như thế nào thì mày lại nhảy cẫng lên như con rối bị giật dây vậy! Bây giờ đã trót thì phải trét ông cụ non ạ !... » — Cơm trưa! Chủ nhà gọi cộc lốc. — Cút đi! — Đô-man-tô-vích củng cộc lốc không kém. Anh quay mặt vào tường cố nén cơn thèm ăn của chiếc dạ dày rỗng và hút thuốc liên tục. Và anh chợp mắt được một lúc. Nếu không có tiếng động cơ ôtô gần đâu đây vang vọng vào tai hẳn anh còn ngủ nữa. Lại Nô-ra tới ư ? Lúc này thì dù có phải là cô ta đến, anh cũng vui, bởi anh đã chán ngấy cái cảnh ăn đợi nằm chờ này rồi. Anh bật dậy và đi tới cửa sổ. Anh không trông thấy người mới tới. Nhưng tiếng bước chân vang lên ngoài hàng hiên và buồng bên chứng tỏ người vừa tới là đàn ông. Nên vờ ngủ nữa ư ? Điều đó thì anh thừa khả năng để có đủ thời gian đối phó với vi khách bất ngờ này. Đô-man-tô-vích vội nằm xuống, chỉ chừa một kẽ mắt, để nhìn mặt người mới tới, nhưng khi cửa mở thì anh bật ngay dậy. — Xô-mốp! Té ra ngài cũng ở đây à ? — Như ngài thấy đấy. Có điều tôi bây giờ là Phret Sun. — Tuyệt! Thật là tuyệt diệu !— Đô-man-tô-vích xúc động nắm chắc tay Phret. Một cái, siết tay ấm áp và chặt chẽ... Phret cảm thấy như có ẩn ý gì trong đó. — Tôi rất vui được gặp lại ngài! — Phret nói. — Nhưng không bằng tôi, ngài Xô-mốp ạ ! — Tôi nhắc lại Phret Sun mới là tên thật của tôi. — Ngài tha lỗi, nhưng có lẽ chúng ta ngồi xuống chứ? — Lẽ dĩ nhiên, đáng tiếc hôm nay tôi đón không phải với tư cách thăm hỏi ban bè mà với tính chất công việc sự vụ. — Thật ư ? Thế ra người ta bắt đầu nhớ tới tôi phải không ? Nào, tôi phải làm những gì đây ? — Tôi cố nhiệm vụ làm quen với tiểu sử của ngài... — Thệ thì với tư cách một người quen cũ ngài có thể cho tôi biết được ai cần đến tôi và vào mục đích gì chăng? — Rất đáng tiếc là chỉ tôi có thể hỏi, còn ngài trả lời mà thôi. — Nếu như tôi không muốn nói thì sao ? — Tôi không khuyên ngài nên làm điều đó. Như vậy chỉ càng làm cho tình thế của ngài thêm khó khăn mà thôi. Ngài không có hoàn cảnh để tự vệ... — Vậy mà tôi rất vui mừng khi gặp lại: ngài ! — Tôi cũng rất vui... — Ngài định lấy khẩu cung à ? — Đâu có, chỉ những số liệu mẫu bình thường thôi. Chắc là ngài đã nộp bản lý lịch tự thuật cho Hai-ghen-đôp rồi, phải không ? Bỏ cái thủ tục đó đi ấy mà... — Thôi được, tôi chịu nạp mình, nhưng chỉ với một điều kiện. — Tôi bắt buộc phải nhắc lại lần nữa. Tôi khuyên ngài không nên đặt điều kiện trong tình thế của ngài. — Vậy ta có thể gọi là một đề nghị nhỏ được chứ ? — Nên lời đề nghị đó có thể chấp nhận đựợc, — Phret do dự đáp. — Rất nhỏ ! — Tôi nghe đây. — Tôi muốn rằng con nộm giữ dưa này, — Đô-man- tô-vích hất đầu về phía lão chủ nhà, — đừng có đứng há hốc mồm ra trong lúc này, hắn làm tôi chắn ngấy đến nỗi chỉ muốn bóp họng hắn trong giấc ngủ thôi! Một nụ cười nhao báng thoáng trên nét mặt lão chủ. — Ồ, đây có phải là một đề nghị to tát gì. Pan-ja, anh có thể lui ra và ở gần đâu đây một lát — Thưa vâng, nếu ngài cần đến tôi... — Tôi sẽ gọi khi nào cần. Đô-man-tô-vích vui vẻ nháy mắt, khi lão già bước ra ngoài. — Nào, bây giờ thì ngài bắt đầu đi, ngài đặt máy ghi âm ở đâu ? TÔI CÓ cần phải ngồi dịch lại gần máy không? — Ngài ngồi sao cho thoải mái thì thôi, vì đây là rnột dụng cụ rất đỗi tinh vi... — Tôi sinh ra ở nước công hòa Đức vùng sông... Khi cuốn băng đầu tiên đã hết, Phret đặt cuộn băng thứ hai, thì Đô-man-tô-vích dùng mẩu diêm cháy dở viểt lên vỏ bao thuổc lá «Cho tôi tờ giấy». Phret ngạc nhiên nhìn anh ta và lẳng lặng xé tờ giấy trên quyền sổ tay đặt lên bàn, cùng với cây bút chì, đồng thời anh vặn máy ghi âm. Đô-man-tô-vích tiếp tục nói và viết lên từ giấy: «Sác-lơ Đich-ken không hoàn thành được quyển tiểu thuyết mang tên «Bí mật của Et-vin Bu-rơ» của mình». Phret gần như run lên, anh chộp vội lấy bút và viết: «Ác-xa-cốp quả quyết rằng... » Đó là những câu mật hiệu đã được truyền đạt ở Bec-lin. Đô-man-tô-vích và Gri-gô-ri nhìn nhau với ánh mắt rạng rỡ...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Yuri Dold-mikhajlik

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.