Bét-tơ đã bị Se-vi-la làm cho mê đắm. Chính ra không phải vì nàng mê thành phố mà vì nơi ở mới dã chinh phục nàng. Hãy tương tượng mà xem thay cho dãy nhà hộp tầm thường ở Béc-lin tự nhiên nàng trở thành bà chủ của cả một tòa lâu đài xinh xắn nằm giữa vườn cây xanh và các bông hoa đẹp lộng lẫy ở sân trong. Các cột nhà được nối liền với nhau bằng các vòm cuốn, vây quanh là một đài phun nước đang phun rào rào xuống chiếc hồ nhỏ lát đá hoa, nước trong vắt nhìn thấy tận đáy.
— Một thiên đường thu gọn của chúng ta đấy! — Jô-dép nói khi đựa nàng lên chiếc sân giải trí rộng mát có hàng cột thon thả đẹp đẽ chạy dài trên bức tường vây quanh.
— Ô! — Bet-tơ không tìm được lời để diễn tả những cảm xúc tràn ngập lòng mình.
— Em có thể cảm ơn người Mo-rơ vì cái công trình kỳ diệu này. Cho đến nay dân Tây Ban Nha vẫn ưa chuộng sử dụng kiều nhà Pa-ti-ô, ngay cả những tòa nhà mới họ cũng vẫn xậy dựng theo kiều cũ đó.
— Thế nhà nào cũng có đài phun nước hở mình ? — Bét-tơ ngờ vực hỏi, đã tưởn của hiếm ngoại lệ đó chỉ riêng nhà mình mới có.
— Phần lớn các nhà đều có — Jô-dép mỉm cười. Nhưng em yêu quý, em đừng buồn làm gì, không phải là đài nào cũng đều hoạt động được đâu. Em thử tường tượng mà xem những đài phun nước này đều do ống dẫn nước từ thời hoàng đế Xê-da1, khi Se-vi-la còn là thuộc địa của La Mã cung cấp nước.
— Trời, có biết bao điều mới lạ...
— Ồ, ở Se-vi-la thì em tha hồ ngắm nghía thường ngoạn những di tích lịch sử! Gret-ta sẽ phải ghen tị đến chết khi em khoe với cô ta, vì cô ta cứ tưởng anh mang em đi đầy không bằng. Se-vi-la là một viện bảo tàng đầy đủ nhất. Thảo nào người Tây Ban Nha thường nói: Ai chưa đến Se-vi-la người đó chưa thấy gì hết.
— Em thấy anh đã thật sự trở thành người Tây Ban Nha rồi đấy !
— Không hẳn thế, nhưng nếu anh không nắm vững ngôn ngữ và mọi vấn đề thì anh cũng không làm nên trò trống gì đâu. —Ồ, lại cái công việc của anh! Em cảm thấy là em khó quen được với cái tên mới Phran Nun-ke của em đâu! À, còn việc giao dịch thư từ của em ? Em không viết thư được cho bạn bè thân thích của em sao ?
— Thư từ sẽ đến một địa chỉ khác. Em đừng lo, anh đã lưu tâm cả rồi.
— Dù sao em cũng muốn anh giải thích để công ty của anh là thế nào ? Chúng buôn bán cái gì thế ?
— Điều này thuộc về nguyên tắc bí mật nội bộ, em yêu ạ! Có những trường hợp ta phải hành động như một người máy ấy. Em đừng giày vò bộ óc và vầng trán đẹp đẽ của em về điều đó làm gì. Và như vậy cùng đã khối việc cho em rồi. Cần phải sửa soạn lại cửa nhà cho xứng với tiếng là một thương gia giàu có phong lưu bậc nhất. Phải giao thiệp càng rộng, càng tốt là công việc của anh. Rồi chúng ta sẽ tiếp xúc rộng rãi với xã hội bên ngoài và tổ chức những buổi tiếp khách nữa... Nào, em yêu quý, em đã bằng lòng chưa ?
Bét-tơ áp đầu vào vai chồng.
— Anh không nhớ em lắm phải không, Sê-phỉ ? Anh không khao khát chúng ta được sống cho chúng ta trong một thời gian ngắn ư ? Anh còn nhớ cuộc hành trình của chúng mình sau hôn lễ không ?
Trong trí nhớ của Jô-dép Nun-ke sống lại cuộc hành trình đến nước Ý. Lúc bấy giờ họ phải sử dụng tiền rất dè dặt và bắt buộc phải ở trong một khách sạn hạng hai lúc nào cũng có mùi nhà bếp, và hai tuần một lần phải tự thay vỏ chăn gối.
Hồi đó Bét-tơ tỏ ra rất dễ thương và thích nghi với hoàn cảnh. Cô ta cảm thấy những việc đó rất bình thương nhưng Jô- dép cảm thấy bẽ mặt mỗi khi phải hạn chế những thú vui vô tội vạ của mình. Chính ở đó, ở nước Ý, y đã thề rằng sẽ tận dụng mọi khả năng để làm nên danh vọng. Là con cháu của một dòng họ quý tộc Đức đã suy sụp, ngay khi từ nước Ý trở về, y bắt đầu kiên nhẫn khôi phục lại mối quan hệ họ hàng cũ và chẳng bao lâu đã quen thuộc một vài phòng khách thân tình, nơi chủ yếu có những sĩ quan cao cấp hay đến dự những buổi tiếp tân để mơ tưởng bàn bạc về sự trả đòn sau thất bại nhục nhã của cuộc chiến tranh năm 1934. Khi đó chàng, sĩ quan trẻ tuổi Jô-dép đầy tham vọng này đã thu hút sự chú ý của thượng cấp về mình bằng cách thúc giục, cổ vũ về chuyện «ăn miếng, trả miếng» không chậm trễ. Người ta đã quan tâm tới hắn. Chẳng bao lâu đại diện cao cấp của một cơ quan có thế lực đã trực tiếp cho hắn giữ một chức vụ với lương bổng rất cao, ngoài ra còn những quyền lợi khác đến là hấp dặn. Việc này khác với những công tác hành chính sự vụ hoặc bất cứ một công việc nào khác.
Lần này nhiệm vụ của hẳn là phải ốm và đi nghỉ mát một thời gian dài ở Se-vi-la, thành phố cảng lớn có nhà máy sản xuất đạn dược, máy bay và nói chung là những vũ khí quan trọng đang hoạt động. Và thế là Jô-dép Nun-ke, dưới danh nghĩa một thương nhân giàu sang kiểu cách, tao nhã và lịch thiệp đã xuất .hiện ở Sê-vi-la và được mọi người ân cần niềm nở đón tiếp.
— Anh không trả lời ư, Sa-phỉ ?
— Đừng giận, em yêu! Anh cũng vừa nghĩ đến chuyến du lịch sau tuần trăng mật của chúng ta. Khi ấy anh chưa tạo được cho em tất cả những điều anh muốn. Vì vậy mà bây giờ...
— Lúc đó cũng như bây giờ em nghĩ không có gì quý hơn là chúng ta tha thiết yêu nhau. Em đau lòng khí nhận thấy anh đã quên điều chủ yếu đó.
Vẻ trách móc lộ ra trên nét mặt của Bet-tơ. Nàng hy vọng chồng nàng sẽ lập tức xua tan những ghen tuông ngờ vực trong lòng nàng... Họ xa nhau gần nửa năm trước khi nàng tới đây. Trong thời gian đó có trời biết việc gì đã xảy ra với một người đàn ông nhiều tham vọng như chồng nàng...
Nhưng Nun ke đã thỏa mãn với triển vọng về tương lai, nên chỉ âu yếm vuốt má vợ:
— Ồ, em cũng tầm thường như tất cả mọi người đàn bà khác sao! Giờ thì có mọi thứ sang trọng rồi, tình yêu của chúng mình sẽ đơm hoa kết quả, Em còn muốn gì nữa chứ .
Ngay tối hôm đó Nun-ke cùng với vợ đến quảng trường Nu-e-va là nơi đi dạo được mọi ngươi ưa thích nhất.
Bet-tơ ngạc nhiên thấy chồng mình có bao nhiêu là người quen. Đối với một số thì họ vẫy chào từ xa. Còn số khác thì Nun-ke lại gần và giới thiệu vợ mình.
Người ta ngắm nhìn Bet-tơ với vẻ ngưỡng mộ không che giấu, họ tiếp nàng rất nồng nhiệt và ân cần, Cái cảm giác được mọi người ưa thích làm thỏa mãn tính hiếu danh hão huyền của người đàn bà trong nàng, chừng nào đó nàng rất bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Thế nhưng nàng vẫn thấy man mác buồn khi trên đường vế nhà với chồng,
Người vợ trẻ ấy thích được âu yếm bên chồng sau bao nhiêu ngày lẻ loi xa cách, để cảm thấy anh vẫn là của nàng. Nhưng nàng lại cảm thấy tình yêu của chồng không còn nồng nàn như trước...
— Em làm sao thế — Nun-ke ngạc nhiên hỏi vợ.
— Anh hứa với em là ngày mai chỉ có riêng chúng mình thôi đi. — Bét-tơ khẩn khoản thay cho câu trả lời. Các xe-nho-rơ và xe-nho-ri-ta1 nói chuyện ầm ĩ quá. Và em hầu như hơi choáng váng vì sự có mặt quá đông người lạ (!). Lại còn vốn liếng tiếng Tây Ban Nha nghèo nàn của em nữa.
— Em phải học càng nhanh càng tốt. Em biết không, anh đã tìm cho anh được một ông giáo hạng nhất. Người đó là một bác sĩ sinh trưởng ở đây; Ông ta say sưa sưu tầm đồ cổ. Và cũng nói được tiếng Đức, tuy phát âm không được đúng lắm. Anh đã thỏa thuận với ông ta rồi.
— Cảm ơn! — Bet-tơ trả lời khô khan vẻ hờn dỗi...
— Bực bội vô ích em yêu quý ạ! Rõ ràng anh không thể dành thì giờ cho chúng ta được. Em đừng quên rằng anh còn có nhiêm vụ khác nữa.
— Em hiểu — người vợ trẻ gật đầu nhẫn nhục !
Không, cuộc sống của Bet-tơ không hình thành theo ý muốn của nàng. Chồng nàng chỉ có mặt ở nhà vào hai bữa cơm trong ngày, nhưng cũng chẳng thường xuyên. Nếu không bận rộn với công việc trang trí nhà cửa chắc nàng không biết dùng thì giờ để làm gì ?
Lúc đầu Ê-mi-li-ô người thầy giáo bất đắc dĩ làm cho Bet-tơ chán ngấy vì cái kiểu cách câu nệ cổ lỗ sĩ của ông ta, mỗi lần gặp mặt nàng đâm bối rối khó xử. Nhưng người đàn ông đứng tuổi ấy đã khéo léo dẫn dắt những ý nghĩ và chiều theo những cảm xúc của nàng một cách hết sức tế nhị. Còn kiến thức của ông ta thì vô tận. Đến nỗi chẳng bao lâu ông trở thành người hướng đạo và một cố vấn không thể thiếu của Bet-tơ.
Khi đã sắp xếp xong việc trang bị lại ngôi nhà, Bet-tơ rất vui lòng đi tham quan thành phố với bác sĩ. Và nàng đã hấp thụ được ở ông ta óc thẩm mỹ độc đáo. Vì đôn Ê-mi-li-a hiểu biết tất cả những di tích lịch sử, ông kể rất hấp dẫn. Những lúc như thế đến hòn đá trong câu chuyện ông nói cũng trở nên sinh động. Và những con người quá cố thì dường như sống lại làm nhộn nhịp những căn phòng của các tòa lâu đài cổ. Trên tường thành đổ nát của thành phố lại nổi lên rõ nét « chiến lũy vàng » hai mươi góc Tô-rê del Ô-rô2 và hai mươi sáu chiếc tháp nhìn ra Gu-a-đan-quy-vi-rơ và đúng như xưa kia những chiếc tàu chất đầy châu báu của những người đã tìm ra châu Mỹ.
----------------
1. Tiếng Tây Ban Nha: Senor và Senorita: Chỉ đàn ông và các cô gái.
2. Phát âm: Tô-re đel Ô-rô.
❀ ❀ ❀
Chẳng bao lâu Bet-tơ đã khá thành thạo và có thể làm hướng đạo cho người khác. Một hôm vào chủ nhặt, lúc Nan-ke-rỗi rãi nàng quyết định thử lại những kiến thức vừa học được của mình.
— Ồ, anh thân yêu! Sẽ thú vị biết bao, nếu chúng ta lại đi tham quan lần nữa lâu đài An-ca-da, lâu đài San Ten-mo thư viện Cô-lum-bô, nhà hội đồng thành phố, trường đại học, sở giao dịch và nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh.
— Anh van em, em không định đưa anh đi hết những nơi đó đấy chứ ? Thú thật ở Se-vi-la chỉ có đấu trường nơi tổ chức chọi bò là hấp dẫn anh hơn cả. Theo anh biết thì sau Ma-đrit, đấu trường này thuộc loại lớn thứ hai trong toàn cõi Tây Ban Nha, và đấy mới là đặc điểm thú vị chứ không phải là những toà lâu đài đã tàn tạ vì thời gian đâu! Nhất định chúng ta sẽ đi xem chọi bò một lần em nhé. Anh đã xem một lần rồi, quả là một điều thú vi khó quên.
— Nhưng lâu đài An-ca-da là do người Mo-rơ xây dựng, kia mà! Anh thử đoán xem vào lúc nào nào ? Họ bắt đầu xây từ đầu thế kỷ thứ XII kia anh ạ. Còn nhà hội đồng thành phố A-hun-ta-men-đô, mà anh có vẻ coi thường đó lại được xây dựng vào thế kỷ XV theo kiểu đầu thời kỳ Phục Hưng đấy. Và thư viện Cô-lum-bô do con ông ta thiết lập, ngoài số sách nhiều vô kể còn có đến gần hai nghìn bản thảo cũ rất giá trị nữa. Còn nhà thờ Đức Mẹ thực tế đã làm em say sưa về kích thước và vẻ đẹp của nó. Nó cao chọc trời và anh có biết nó được xây trên nền cũ cùa một nhà thờ Hồi giáo mà vẫn giữ nguyên tháp cao của nhà thờ cũ không ? Tháp chuông cao nổi tiếng « La hi-ran-đa » ấy mà. Đúng là sau đó người ta cũng có sửa chữa và xây thêm đôi chút. Vậy ít nhất chúng ta cũng đến nhà thờ Đức Mẹ nhé! Lúc em nghe nói đến chiếc đàn ống với năm nghìn ống của nó... hoặc lúc nói về thần An-tan của Mu-ri-lô mà năm 1812 Vương hầu Oen-linh-tơn muốn mua bức vẽ đó với số vàng đủ che kín bức phông vẽ của tấm ảnh. Khi đôn Ê-mi-li-ô kể lại điều ấy em đã cười cái ý định điên rồ đó của vị vương hầu... nhưng đến lúc được trông thấy bức ảnh thì... Nếu em là nữ hoàng giàu có, có lẽ em sẽ đem tất cả số vàng trong kho để mua bức ảnh không một chút hối tiếc !
— Vậy thì nhất định anh phải làm quen với cái nguy cơ sạt nghiệp của chúng ta đó mới được. — Nun-ke cười — Nào, chúng ta đến nhà thờ lớn đi
Bức vẽ nổi tiếng, của Mu-ri-lô được treo phía bên phải của nhà thờ. Cũng như mọi hôm, lúc này có đám khách du lịch đứng trước bức họa. Bet-tơ đã quen, nên điều đó không làm phiền nàng, nàng hoàn toàn đắm mình vào sự ngưỡng mộ tác phẩm của người sáng tạo thiên tài. Và cũng như bao giờ tim nàng lại đập dồn dập, dường như nàng cũng là một phần thuộc về ảo tưởng diệu kỳ của thần An-tan. Luồng ánh sáng chói ngời rọi sáng một phần của góc nhà tu tăm tối này, toát ra từ tấm thân trần như nhộng của chúa Giê-su. Tuy vẻ bất lực thể hiện ở cái nét trần truồng hạ giới đó, nhưng sức mạnh kích động toát ra từ khuôn mặt trẻ thơ đó lại cao cả vô cùng, và một khuôn mặt khác của thần An-tan. Trong đó cái dáng quỳ của ông ta toát lên sự bay bổng của tâm hồn. Do sự ngưỡng mộ quên mình và lòng khâm phục hoan hỉ, An-tan vẫn như sống và còn sinh động hơn tất cả nhưng bộ mặt đang đứng bên Bet-tơ...
Tay Nun-ke đặt nhẹ lên vai vợ.
— Đi thôi, Bet-tơ! Chúng mình không thể đứng mãi ở đây được...
— Em cảm thấy như đấy là hiện thực, chứ không phải một bức họa nữa...
Em đã bị mê hoặc bởi giá trị số vàng của vương hầu Oen- linh-tơn rồi. Đối với anh nó không có tác dụng gì cả. Nghệ thuật hội họa và vấn đề tôn giáo hoàn toàn không hấp dẫn anh chút nào.
— Nhưng ở đấy nói lên sự biểu hiện nghệ thuật cơ mà. Nó nói về con ngươi và sự khát vọng đối với lý tưởng... ít nhất em cũng cảm thấy như thế.
— Nào, xin cứ tự nhiên. Cảm giác! Em nên nhìn mọi việc bằng đôi mắt tỉnh táo đi thì hơn.
« Anh ấy và đôn Ê-mi-li-ô khác nhau biết bao !... — Bet-tơ buồn rầu nghĩ — Đôn Ê-mi-li-ô trử nên hào hứng biếc bao khi nói về nghệ thuật phù hợp với tâm hồn lãng mạn thơ mộng của ông ta... Còn Jô-dép thì... tất cả tâm hồn đều bị ràng buộc bởi tiếng gọi của tiền tài».
Nun-ke không cảm thấy rằng trong ngày hôm ấy lần đầu tiên vợ y đã xét đoán y bằng cái nhìn phê phán dẫn đến sự tan vỡ của cuộc sống lứa đội. Anh ấy chỉ quan tâm đến danh vọng...và tiền là chúa tể của tâm hồn anh ta... Lại kiêu ngạo và đầy thiển cận nữa chứ! Cái tên Nun-ke xám xịt mà anh ấy vui lòng khoác lên người mới thật là hợp với bản chất của anh ấy... Thật ra cái công việc bí mật mà anh ấy luôn ban rộn là cái quái gì nhỉ ? Còn tình, yêu đối với Jô-dep chẳng qua chỉ là một quá trình sinh lý học mà thôi. Ngoài ra chẳng còn gì khác... Anh ấy sùng bái cái bụng. Điều này thật đáng khinh! Và Jô-dep có bảnh trai không ? Thật ra ảnh chỉ đẹp mã như chú gà trống, hay như một nhãn hiệu lòe loẹt rẻ tiền của các cửa hiệu tầm tầm... Đã bao giờ mình thấy anh ấy mó tay vào một quyền sách nào đâu! Có lẽ anh ấy đang có nhân tình vì càng ngày càng thấy anh ấy sàm sỡ hơn... Lại còn thói quen hút thuốc xì-gà rẻ tiền ở nhà nữa chứ ?
Ngày này qua ngày khác Bet-tơ càng phát hiện thêm ở chồng những nét ti tiện và nàng vô tình đem so sánh với người bạn mới: Đôn Ê-mi-li-ô sao mà thông hiểu nghệ thuật hội họa đến thế! Cũng không phải vô cớ mà người ta niềm nở đón tiếp ông trong các viện bảo tàng một cách tôn trọng như vậy. Còn óc thẩm mỹ của ông ta thì rất nhạy. Và phong cách thì như của người sinh ra đã là quí phái rồi vậy... Tình cảm ông ta thật là dịu dàng, âu yếm và tế nhị. Chắc có chuyện gì đau đớn lắm xảy ra, nếu không ông ta đã chẳng đến nỗi buồn rầu như thế đâu... Đôi mắt ông ấy sao mà đẹp và mênh mông như mặt trời thu... Các đường nét trong người ông ta thật hài hòa một cách tao nhã! Cả mái tóc hoa râm cũng hợp với khuôn mặt của ông ta. Ông ấy có nhiều bệnh nhân mà phần lớn là người nghèo — điều đó biểu hiện một trái tim nhân hậu và đức xem nhẹ bạc tiền... Cầu Chúa cho Ê-mi-li-ô đừng ốm. Jô-dep chắc chắn sẽ lợi dụng ông ta. Còn ông ta thì đến tất cả của cải trên đời ông cũng không màng...
Khi chợt hiểu ra là mình không dửng dưng với đôn Ê-mi-li ô, Bet-tơ đâm hoảng... Ôi! nhục nhã làm sao! Một người đàn bà có chồng... lại là con nhà gia giáo... Cần phải chấm dứt ngay những cuộc dạo chơi, trong khi mình còn ra lệnh được cho con tim và những xúc cảm của mình.
Và Bet-tơ bắt đầu viện những lý do khác nhau để tránh gặp bác sĩ. Mặc dù nỗi buồn chán luôn dằn vặt giày vò nàng trong cảnh cô đơn của ngôi biệt thự.
Những buổi tối phải đi cùng chồng vào các nhà hát, tiệm ăn hay đến thăm một gia đình quen biết nào đó làm nàng bực bội, cáu kỉnh...
— Em trở nên hay hờn dỗi qua rồi đấy, Bet-tơ ạ! Nun-ke nhận xét — Phải chăng điều ấy không có liên quan gì tới cuộc sống của chúng ta mới đây...— Hắn không nổi tiếp khi thấy mặt vợ tái nhợt như một xác chết — Hay em chán nơi ở mới của chúng ta em yêu! — Num ke hỏi với giọng âu yếm giả tạo.
Một ý nghĩ khuấy động lòng Bet-tơ. Mình thật là đoảng! — nàng nghĩ — Thật là sai lầm khi mang thai con của anh ấy, lại đi xót xa cay đắng vì mọt người khác. Cần phải rời khỏi Se-vi-la... Có thể tất cả những gì mình cảm thấy đó chẳng qua chỉ là trạng thái sinh lý bất thường của mình thôi. Hiển nhiên là như thế...
Ý nghĩ đó và chuyện quyết định trở về Béc-lin làm nàng yên lòng. Để kiểm tra lại mình nàng gửi vài dòng mời đôn Ê-mi-li-ô tới.
— Dạo này trong người tôi không được khỏe nên đã cư xử rất tệ với nhà tôi và với ngài là người bạn thân nhất. Ngài không giận tôi chứ ?
— Tôi chỉ ân hận vì đã thiếu tế nhị với bà, chính tôi đã làm cho bà chán đến chết về... về những món đồ cổ của tôi — Đôn Ê-mi-li-ô chậm rãi nói — Vì một người đàn bà kiều diễm như bà thì cần phải thấy nhịp đập của thời đại, chứ không cần phải đắm chìm vào dĩ vãng... Nếu bà vui lòng tôi sẽ giới thiệu với bà một Se-vi-la khác vậy. Một Se-vi-la không tẻ nhạt giàu sức sống.
— Tôi đã sốt ruột vì tò mò rồi đấy? Hôm nay chúng ta đi đâu vậy ?
— Sang bờ sông bên kia Gu-a-đan-qui-vi-rơ đến ngoại ô thành phố gọi là Tơ-ri-a-na.
— Đến Tơ-ri-a-na! — Nun-ke cũng có mặt trong cuộc nói chuyện vội lên tiếng — Thế thì tôi cũng muốn tham gia vào cuộc dạo chơi của các bạn rồi đấy.
— Từ bên bờ này sông ngài chỉ có thể nhìn thấy ống khói của các công xưởng mà thôi. Nhưng cái mà tôi muốn giới thiệu lại là vấn đề khác hẳn: Một vương quốc của những người Gi-ta-nox1. Ngay cả dân Se-vi-la chúng tôi, những người vốn ưa màu sắc lộng lẫy, cũng phải trố mắt ngạc nhiên về sự phong phú đến lóa mắt trong cách phục trang lộng lẫy mê hồn của họ. Đó là chưa nói đến số khách du lịch đấy...
— Gi-ta-nox à ? Họ là người di-gan chứ gì ? Nhưng họ là phường lang bạt cơ mà — Nun-ke ngạc nhiên. Tôi không thể nào tương tượng được cuộc sống của chúng, nếu thiếu những chiếc xe có mui bạt.
Ở miền bắc Tây Ban Nha, đặc biệt là ờ Se-vi-la có cả những người di-gan định cư nữa. Người ta thử đưa họ vào con đường làm ăn sinh sống trong cảc xưởng máy, vì thế nên họ mới được phép định cư ở Tơ-ri-a-na. Họ sống ờ các xóm riêng lẻ và nhờ vậy nên vẫn giữ nguyên được đặc tính của nòi giống tổ tiên họ. Nói trắng ra những quan hệ họ hàng của họ xáo trộn linh tinh, đến nỗi chỉ những người già nhất trong những người già mới biết được ai là con của ai, theo ngành mẹ hay ngành cha. Còn những quan hệ cô, bác, dâu, rể thì có quỷ sa-tăng mới hiểu được. Thật là một dân tộc kỳ dị có một không hai và độc đáo làm sao !
— Ngài nói là người di-gan họ ít chịu làm việc, vậy họ sống nhờ cái gì ? — Bét-tơ hỏi.
— Nhờ ân huệ của Chúa. Y như lối sống của tổ tiên họ nay đây mai đó vậy thôi. Họ buôn bán gia súc, đồ cũ, ngoài ra họ còn đổi chác và ăn cắp nữa... đàn bà thì bói toán, thanh niên trai gái thì tiêu khiển cho khách du lịch bằng những điệu múa và những bài dân ca di-gan. Và người ta không thể nghe họ hát bằng đôi tai thờ ơ được... Rồi bà và ngài sẽ chứng kiến tận mắt điều tôi vừa nói thôi mà.
----------------
1. Tiếng Tây Ban Nha: — Getanox — chỉ người di-gan ở Tây Ban Nha,
❀ ❀ ❀
Khác với lệ thường, Bét-tơ vui mừng tán thành cuộc đi chơi do đôn Ê-mi-li-ô gợi ý. Nun-ke sau lúc do dự cũng cùng đi với họ.
— Nhưng chỉ với một yêu cầu là lúc quay về ngài cho tôi đến cảng Ta-la-đa. Tôi có chút công việc ở đó — Nun-ke do dự đề nghị.
Họ đi qua bên kia sông bằng chiếc xe Pho của bác sĩ, nhưng gần đến nơi họ phải xuống đi bộ. Và khó khăn lắm mới vào được đến xóm đông như một phiên chợ Ba tư ồn ào và náo động.
Những người di-gan đã quá quen thuộc với sự có mặt của người lạ nên chỉ bình thản nhìn người đàn bà trẻ và hai « hiệp sĩ » của bà từ đầu đến chân với cặp mắt thờ ơ... Chỉ có đám con gái là hơi xôn xao một chút, nhưng khi thấy xe-nhô-ra1 cười từ chối lời mời xem hói và chữa bệnh bằng phù phép, nên họ lảng ra quan về với công việc của họ.
— Tôi cảm thấy ngượng khi nhìn vào cuộc sống lộ liễu của họ Bet-tơ nhận xét.
— Thật là một sự sơ đẳng thú vật - Nun-ke hưởng ứng.
— Tôi không cho là như vậy — Bác sĩ phản đối. Người di-gan họ không quen sống theo lối sống văn minh của chúng ta. Lòng yêu tự do của họ quá lớn, nên họ không thể giam mình trong khuôn khổ của những luật lệ chung được áp dụng. Họ chuyên sống lang bạt chẳng chịu sự kiềm thúc của ai. Họ sống tự nhiên và đối xử với nhau như một đại gia đình...
— Đôn Ê-mi-li-ô! — Bet-tơ cắt ngang Ngài hãy nhìn em gái đang chải đầu trước mặt chúng ta kia. Không một mảy may lúng túng, như là không có chúng ta ở đây vậy. Tôi tò mò muốn biết em sẽ cư xử ra sao nếu chúng ta tới đó. Em gái có bộ tóc tuyệt đẹp.
Bác sĩ tiến về phía em gái và lên tiếng:
— Nếu em vui lòng chúng ta sẽ cho em tiền mua một giải lụa, còn em — em sẽ nhảy múa cho chúng ta xem.
— Tôi chẳng muốn gì hết.
— Có lẽ em không biết nhảy chăng ?
— Tôi không thích.
— Em khó tính quá đấy! Tên em là gì thế ?
— Ma-ri-a — em gái miễn cưỡng trả lời và lặng lẽ bỏ đi...
— Các ngài có thấy vẻ tự tin của em gái chưa ? Cô bé không có lấy một chút tính nô lệ nào cả. Và các ngài có để ý đến dáng đi của em rồi chứ ? Dường như đôi chân nhỏ bé ấy không chạm đến đất này.
— Đôi chân của nó tương đối bẩn thỉu thì có — Nun-ke nói vẻ dè bỉu.
— Sê-phi, anh bỏ cái lối nhạo báng muôn thuở đó đi. Em gái tuyệt diệu như thế còn gì nữa. Thật đáng tiếc là chúng ta không hỏi họ của em. Tôi sẵn sàng gửi biếu gia đình em chút ít tiền bạc.
— Đối với người di-gan thì nữ giới không có họ. — Ê-mi-li-ô giải thích. —Còn con trai chỉ từ khi chính phủ Tây Ban Nha bắt buộc người di-gan cũng phải làm nghĩa vụ quân sự mới có.
— Thật là một dân tộc ngu xuẩn làm sao! Nun-ke thốt lên khinh bỉ. Và làm sao hắn cổ thể linh cảm thấy được rắng một lúc nào đó số phận hắn sẽ đụng độ với số phận của cô gái mà cho đến cả môt cái họ cũng không có này !
Cuộc dạo chơi của họ ở Tơ-ri-a-na đến chiều thì kết thúc. Hôm đó xảy ra một việc không được vui vẻ cho lắm. Nun-ke nhận ra ví tiền của mình đã biến mất tự lúc nào.
— Đúng là một ổ trộm cắp chuyên nghiệp! Những loại như thế cần phải quét chúng ra khỏi mặt đất mới được! — Nun-ke phát khùng — Không biết cái ý định điên rồ nào đã xui ngài dẫn chúng tôi tới giữa cái ổ bất lương đểu cáng này !
Bác sĩ tái mặt và lạnh lùng nói :
— Có bao nhiêu tiền trong ví của ngài ? Herr Nun- ke ? T ôi xin hoàn lại chỗ mất mát ấy cho ngài.
— Ngài hãy cất giữ số tiền của ngài cho được việc !
Nun-ke chặn ngang một cách lỗ mãng. Bet-tơ nghẹn ngào nuốt thầm nước mắt! Và khi chồng đă xuống xe ở cảng Ta-la-đa, nàng không nén được nữa bật lên khóc nức nờ...
— Ngài tha lỗi cho, Ê-mi-li-ô, tôi rất mong ngài bỏ qua cho sự thô lỗ, cục cằn của nhà tôi — Tôi đến là xấu hồ với ngài...
— Bà đừng cho chuyện ấy là lạ, Phran Bet-tor ạ! Đàn ông chúng tôi vốn thế. Bao nhiêu điều lo lắng những vướng mắc về công việc nó đè nặng trong đầu...
— Tôi không tin trong trường hợp nào đó ngài cũng tỏ ra nóng nảy như vậy ?
— Đôi khi tôi cũng không thể ra lệnh cho mình được đấy bà ạ! — Đôn Ê-mi-li-ô nói VỚI giọng không bình thường — Nếu tôi còn thấy bà... Vâng... vâng, có thể, bởi vì...
Ông ta vội im bặt và phanh xe lại.
— Bà hãy ra đây. Chúng ta đi dạo một lát bên bờ sông. Cả hai chúng ta đều cần phải trở nên bình tĩnh mới được.
Bầu trời đỏ rực trong ánh chiều tà. Nước sông Gu- a-đan-qui-vi-rơ nhuộm trong màu vàng cuộn sóng nhấp nhô giữa đôi bờ.
Đỉnh của các nhà thờ trong thành phố cũng sáng lấp lánh một màu vàng chói lọi, còn trên tháp chuông nhà thờ Đức Mẹ thì bức tượng của Hit dường như đang rơi khỏi bệ và bay lơ lửng trong không gian.
Tất cả vẻ đẹp của cảnh vật trong buổi hoàng hôn như có vẻ hư ảo, cùng với những xúc cảm tràn ngập tâm hồn.
— Ngài vẫn chưa nói hết ý — Bet-tơ khẽ đụng tay người hộ tống của mình.
— Có những lời người ta không được phép nói ra thưa bà. Những giấc mơ hãy chỉ nên là những giấc mơ thôi và bà hãy tin rằng chúng sẽ mất ngay vẻ quyến rũ diệu kỳ khi đi vào thực tế.
— Như vậy có nghĩa con người phải phủ định cuộc sống thực tế, để tìm yên vui trong xứ sở hoang đường ư ?
— Ai không có đủ sức mạnh thì người đó rút lui vào vương quốc của giấc mơ. Tôi cũng thuộc vào loại ấy...
« Còn ta » ? — Bet-tơ thầm nghĩ. Đột nhiên nàng sực nhớ đến cuộc sống ở Béc-lin, tuy có vẻ nhạt nhẽo và vô vị, nhưng lúc nào cũng bình dị và an toàn. Không, đó mới chính là vương quốc chắc chắn nhất của nàng... Sự mệt mỏi về cuộc sống vô vị bên cạnh người chồng ti tiện xui nàng trượt nhanh hơn trên đường băng đến với sự cám dỗ trước mắt làm nàng xao xuyến tâm hồn. Nàng cảm thấy như được thoát khỏi chiếc nhà tù của cuộc sống tầm thường và bay lơ lửng trong mây như bức tượng lìa khỏi bệ kia...
Thật là điên rồ, một ảo tưởng hão huyền! Cần phải chấm dửt ngay tình trạng này thôi...
Một tuần sau người vợ trẻ của Nun-ke lên đường trở về Béc-lin, viện vào trạng thái cần được sự theo dõi của y học và sự chăm sóc của gia đình...
---------------
1. Tiếng Tây ban nha: bà (senora)
❀ ❀ ❀
Trong quá trình oái oăm của hoàn cảnh, vào một ngày nào đó khoảng tháng 5 năm 1930 Ma-ri-a bé nhỏ biến mất khỏi xóm di-gan Tờ-ri-a-na.
Trong xóm người ta quen gọi Ma-ri-a là con gái của « không ai cả ». Cha mẹ em ngay hồi còn sống lang thang đã bị bắt vì tội ăn cắp. Và cả hai đều mất tích trong nhà tù bí hiểm cửa sờ cảnh sát Tây Ban Nha. Tập thể di-gan không bỏ rơi đứa cháu gái bơ vơ của họ. Người ta đưa em bé về nuôi. Ở đây không thể dùng hai chữ dạy dỗ, vì rõ ràng là em chưa hề được giáo dục, ngay đến cả theo kiểu giáo dục của nòi giống di-gan cũng không nốt. Ngay từ bé em đã tự do làm cái gì em muốn, đi đến nơi em thích và ăn ở chỗ nào có miếng ăn ngon nhất trong chảo. Một buổi tối... bọn trẻ đi thơ thẩn cách Tơ-ri-a-na vài ki-lô-mét và thở hồng hộc chạy về xóm, vẻ kinh hãi.
— Có trại, có trại, có trại! — Chúng kêu thét lên từ xa.
Nỗi lo sợ cuống cuồng hỗn loạn xuất hiện trên nét mặt mỗi người của xóm di-gan Tơ-ri-a-na. Người có uy thế nhất của xóm là An-phông-xơ làm thợ rèn lập tức gọi bọn trẻ đến và bình tĩnh hỏi chúng.
— Đung thế! Cách xóm vài ki-lô-mét một đoàn di- gan đến đóng trại.
Dân di-gan của Tơ-ri-a-na có đủ lý do để lo sợ. Không phải chỉ vì đoàn di-gan du mục đối xử tàn bạo, cướp bóc của những người cùng dòng máu với họ. Điểu đáng sợ chủ yếu là những khách du mục đó sẽ hỏi tội những kẻ định cư đã phản lại truyền thống di-gan cổ xưa bằng những trận phục cừu tàn nhẫn, việc trừng phạt ấy thường khi đẫm máu của những kẻ bị buộc tội!
Tối hôm đó sự sống dường như chết lặng ở Tơ-ri-a na. Tiếng ca hát, sự ồn ào của lũ trẻ và giọng the thé la mắng con cháu của các bà già thảy đều im bặt. Dân xóm tập trung vào các lều trại, mang theo cả đồ đạc. Chi ở phía ngoại vi Tơ-ri-a-na, con đường chính từ thành phố đi vào xóm là có tiếng thì thầm của bọn đàn ông.
Họ tập trung ở đây với những trang bị thô sơ, rìu, dao găm, hoặc gậy gộc.
Cứ như vậy cho đến khi người đưa tin về báo trại nhổ rồi. Tơ-rí-a-na mở hội mừng. Ngay người già nhất cũng ít có dịp vui sướng hơn thế. Và khi mọi người nhảy đến khuấy tung bụi lên thì lão trùm An-phông-xơ gọi to:
— Ma-ri-a! Cháu đâu rồi ? Hãy cho mọi người biết tài gái Tơ-ri-a-na nhảy như thế nào đi !
Nhưng Ma-ri-a đã vắng bóng. Họ bổ đi tìm, nhưng vẫn không thấy em đâu.
— Tôi còn nhớ là nó nói chuyện với một xe-nho và một xe-nho-ra xinh đẹp tóc vàng... — Một bà già gợi ra.
— Nó có kể với tôi chuyện đó, và đã ăn xúp cừu bữa trưa ở bếp tôi nữa.
— An-phông-xơ, bác không nhớ à! Lúc ấy bác còn cằn nhằn vì sao nó cứ luôn luôn hỏi trại đóng về phía nào ư ?
Họ bàn bạc nghĩ ngợi, rồi quên ngay Ma-ri-a. Mất em họ cũng buồn đôi chút, nhưng không vì thế mà cuộc vui dừng lại. Tất cả mọi người bị lôi cuốn bởi niềm vui vô hạn.
Trong khi đó Ma-ri-a lâm nguy. « Vì sao dân trong xóm lại hoảng hốt thế nhỉ ? — Cô bé tự hỏi — những người kia cũng là dân di-gan kia mà... không biết cái trại đáng sợ kia nó ra làm sao ?
Ma-ri-a nóng ruột vì tính hiếu kỳ chưa được thỏa man. Không cưỡng nổi lòng mình, cô bé muốn được tận mắt thấy những điều nguy hiểm kia. Và Ma-ri-a bí mật lên đường vào lúc nửa đêm. Em đi dọc theo bờ sông về phía bắc thành phố theo đường bọn trẻ đã mách.
Cô bé đến gần trại lúc trời rạng đông, khi sương mù còn phủ kín các lều trại. Ma-ri-a ngồi xuống tảng đá ven sông, vòng tay ôm lấy đầu gối cho khỏi run, vì đêm ấy trời lạnh một cách khác thường, cũng có lẽ do em sợ. Em quyết định chờ cho đến lúc dân trại thức giấc.
Một bà già da nhăn nheo vẻ ngái ngủ chui ra khỏi lều. Bà ta nhìn thấy cô bé đầu tiên. Dáng điệu bà ta ngớ ngẩn làm cô bé không nhịn được cười, cô cười ầm lên vui vẻ như ở xóm mình.
Bà lão vừa ngáp vừa kêu lên một tiếng gì đó, một phút sau cả trại, vùng dậy. Tất cả đều chạy về phía Ma-ri-a nhưng có tiếng một ông già vừa thét lên, tất cả đoàn người đều dừng lại.
Ma-ri-a đứng dậy chưa bước được hai bước về phía trại. Lòng tức giận của đám đông lại nổi lên. Không một ai có thể tin là người di-gan định cư có ý tốt đối với họ. Theo họ thì những người định cư là quân ly giáo, phản bội... và để đón tiếp cô gái nhỏ họ ném tới tấp vào cô những gì có thể vớ được.
Ông trùm của đám di-gan đầu tóc hoa râm thét bảo mọi người im lặng, và tiến về phía vị khách không mời mà đến. Ông ta dừng lại cách Ma-ri-a ba thước dõng dạc hỏi :
— Mày từ đâu tới ?
Im lặng...
— Mày từ đâu tới ?— Lão già nhắc lại, giọng lạnh lùng hơn.
— Từ Tơ-ri-a-na. .
— Đến đây để làm gì ?
— Chẳng để làm gì cả. Nhìn xem...
Nếu Ma-ri-a khôn hơn thì nên vắt chân lên cổ mà chạy. Nhưng khốn thay cô bé đã quen cảm thấy như ở nhà mình, dù ở bất cứ nơi đâu...
— Tôi muốn đến để xem...
Em chưa nói hết câu, chiếc roi ngựa đã vung lên quấn lấy lưng và mặt em như một con rắn. Đám đông ùa đến, tất cả đều đánh em bằng vật gì có trong tay. Ma-ri-a thì lẩn tránh. Cuối cùng em ngã nằm dài trên mặt đất lấy tay che mặt và thét đến vỡ họng. Lát sau tiếng kêu em nhỏ dần, rồi tắt hẳn.
— Lùi ra! — Lão trùm lại kêu lên, Lão chỉ đánh
Ma-ri-a roi đầu tiên và lùi ra nhìn mọi người trút cơn tức giận, Và như thế là đã đủ. Ông lo ngại con bé chết sẽ lôi thôi ở Sở cảnh sát, mặc dù sự đánh đập tàn nhẫn đó vẫn chưa thỏa mãn khát vọng trả thù của những người du mục.
— Nước! — Lão trùm nhìn chăm chắm vào cô bé xem cô đã hồi tĩnh chưa, nhưng cô bé vẫn nằm im bắt động...
Không phải nhắc đến lần thứ hai, lập tức đã có mấy thùng nước xếp hàng ngay trước mặt lão già. Ông ta dùng chân lật ngửa Ma-<i-a dậy, rồi xách một thùng nước giội vào người cô bé. Không còn một dấu hiệu của sự sống... Ông ta ném một cái nhìn tối sầm vào đám đông. Vẻ lặng lẽ trùm lên tất cả. Họ lo việc này sẽ kết thức chẳng ra sao !
— Ê, A-đe-la! Lão già gọi bà già đã trông thấy Ma-ri-a trước tiên. A-đê-la đứng lánh sang một bên và lặng lẽ nhả từng làn khói từ cái tẩu cán dài.
Hiểu lão trùm muốn gì, bà ta bước tới ghé tai vào ngực cô bé — Không nghe nhịp tim đập, bà ta ngẩng lên tự lự nhìn tấm thân bất động một lúc lâu.
A-đê-la đành phải giở đến phương pháp, cuối cùng. Mụ rít liền vài hơi thuốc, rồi đưa đuôi tẩu vào lỗ mũi cô bé dùng hết sức mạnh thổi vào dúm thuốc đang ngún đỏ.
Tất cả mọi người đều hồi hộp chờ đợi... — khi A-đê-la thổi lần thứ hai khói thuốc luồn vào mũi cô bé, thì cái đầu nãy giờ bất động bỗng giật một cái khẽ...
Lòng thán phục lẫn vui mừng nổi lên trong đám đông. Lão trùm đến cạnh cô bé lấy mũi ủng hất khẽ vào cánh tay bị đánh gằn như dập nát của em. Ma-ri-a vẫn nằm im bất động.
— Nhổ trại! Giọng lão già vang lên và đoàn di-gan, trừ các em còn ẵm ngửa, ngay lập tức thi hành mệnh lệnh của lão trùm.
Chỉ riẽng lão già không bận bịu vì công việc chung. Tất cả đã có A-đê-Ia để mắt tới. Và sau khi thấy mọi việc chuẩn bị đã hoàn thành, mụ ta cũng ra đứng cạnh lão già, sau một lúc suy tính về cô bé, mụ ta liếc nhìn lão trùm và im lặng hất đầu về phía dòng sông dáng chừng muốn nói: «Ta quẳng nó xuống đó chứ ?».
Nhưng lão trùm lại lườm mụ ta vẻ dữ tợn dọa dẫm, tay quay tròn chiếc roi da.
— Mụ mang nó đến xe tôi !
Người ta có thể nghĩ rằng đó là một cái trại như thể của những người vổ tồ chức. Nhưng không, mệnh lệnh của ông trùm bao giờ cũng được mù quáng thi hành, nếu có ai đó tỏ ý chẳng đối lập tức sẽ bị trừng phạt, mà sau đó mỗi lằn nhớ lại vẫn còn run như cơn lên sốt rét ác tính vậy.
Lần này cũng vậy, khi lão trùm ra lệnh mang con bé theo đoàn, A-đê-la tức giận đến nghẹt thở. Và vẻ bực tức đó cũng cháy lên trong ánh mắt của mọi người, khi họ trông thấy mụ ta bế Ma-ri-a về xe. Tuy vậy không một ai lên tiếng phản đối... Và cuộc đời của cô bé chưa đầy mười bốn tuồi trở nên cay đắng không thể tưởng tượng nổi...
Ma-ri-a là hiện thân của đứa con bị ruồng bỏ, một kẻ cùng khổ đã bị tước hết mọi quyền lợi. Trong mỗi bữa ăn em không được ngồi cùng mâm với mọi người, mà chỉ được bố thí của thừa không hơn thức ăn cho chó mấy nỗi... Mọi người ai cũng có quyền hắt hủi đánh đập em. Toàn trại không cho cô bé nhập bọn kể cả lúc vui chơi ca hát. Và tuy bị hắt hủi cô bé vẫn - hay hát một mình và hát hay đến nỗi mọi người phải ngạc nhiên vì giọng hát như xé lòng của em. Họ đóng trại hơn bốn tuần lễ cạnh thành phố Ka-xti- li-si In-ma-dan. Một hôm có một đoàn du lịch khá dông, Khách du lịch có vẻ am hiểu tập quán của người di-gan. Họ tìm lão trùm và trao cho ông ta một tập giấy bạc. Ở trại mọi người đều rõ nếu khách đã quyết định giá cả về cuộc vui chơi với lão trùm thì không một ai có quyền vòi tiền hoặc quà cáp cho riêng mình nữa.
Ngay lập tộc những điệu múa lời ca bắt đầu... Bị niềm vui lôi cuốn, Ma-ri-a rời khỏi xe và lướt vào giữa đám vui. Bọn thanh niên đang nhảy múa lập tức bỏ dở ngay điệu vũ. Và Ma-ri-a chỉ chờ có thế. Cô gái nhảy một mình.
Khi còn ở Tơ-ri-a-na chưa bao giờ cô tự ý nhảy múa. Giờ lại khác. Cô bắt đầu dang rộng đôi tay chỉ hơi cong ở khuỷu như con chim dang đôi cánh lượn hết vòng tròn với nhũng bước chân dài và thong thả dường như muốn đo chiếc sân khấu tự nhiên kia dài rộng ra sao ? Nhưng kìa, động tác đôi chân cô ngắn lại, rồi chuyển sang giậm bước, người cô vươn lên như bỗng cao hơn một cái đầu, đôi tay đan vào nhau. Chỉ còn có nhịp đập của hai bím tóc đen láy chứng tỏ không phải cô đang đứng một#chỗ mà đang tiến những bước nhỏ về phía vòng tròn.
— Nhanh lên! Nhanh hơn nữa! — Cô gái thét gọi ra lệnh cho đám nhạc công, và mọi người như bị mê hoặc bơi diệu nhảy uyển chuyển kỳ diệu của cô. Đến giữa vòng tròn người vũ nữ bất ngờ giẫm mạnh một cái, rồi quay tròn như một cơn xoáy lốc. Chính Ma-ri-a cũng cảm thấy rằng cô đang đấu tranh cho quyền lợi cơ bản của mình bằng điệu nhảy phóng túng tuyệt diệu này, đang trả thù A-đe-la và tất cả những kẻ cho đến nay vẫn không coi cô là con người. Cô gái lúc thì lướt nhanh như bão lốc, lúc đứng sựng lại giữa chừng điệu nhảy, toàn thân khẽ rung bần bật như một thân cây nhỏ trong cơn bão, lúc sau lại như đang uể oải vươn mình và đổi sang tư thế nhanh như làn chớp, uốn éo như rắn lượn. Các nhạc công chơi càng nhanh, cô gái vẫn thảnh thơi lướt như một chiếc lông hồng nhẹ bay trong gió. Cuối cùng Ma-ri-a lượn về vòng tròn, giang hai tay và đưa chân lướt chào lần cuối trước đám quan khách đang nhiệt liệt tán thưởng
Hổn hển, nhưng rất hài lòng, và say sưa vì thắng lợi, cô mở to đôi mắt huyền nhìn đám đông vẻ thích thú. Hồi sống ở Tơ-ri-a na cô đã quen với những sự tán thưởng ồn ào. Nhưng ở đây sự thành công của cô có một ý nghĩa khác. Cô bé chạy ra. khỏi vòng người. Một bà khách du lịch chặn đứng cô lại và vội vã chiếc khăn dài đẹp của mình xuống, quàng vào vai cô bé. Còn ông hói trán thì đưa cho cô một cốc rượu
— Em là con của ai vậy ? — Không kịp để cô gái uống cạn cốc rượu, ông ta đã hỏi.
— Chẳng là con ai cả. Nó trôi giạt vào đoàn chúng tôi như một cánh bèo thế thôi — Pê-đrô đứng bên vị khách vội đáp.
Ma-ri-a uống vội cốc rượu, rồi bước đi, cô uể oải nằm dài xuống giường của A-đê-la điều mà từ trước nay không thể có được.
Chính cô cũng không biết mình nằm như vậy bao nhiêu lâu. Cô không thấy, không nghe và quên tất cả.
A-đê-la bước vào lều.
— Ra đây, Ma-ri-a! Khách muốn từ biệt mày đấy! Mụ ta nói giọng dễ dãi không có ý trách mắng cô vì tội phạm thượng đã nằm lên giường của mụ.
Ma-ri-a bước ra, người đàn ông trán hói mời cô uống rượu ban nãy nhìn vào mắt cô vẻ dò hỏi, rồi siết chặt tay cô gái. Ma-ri-a cảm thấy có một tờ giấy trong tay. Cô chào khách, rồi lai chui vào lều. Cô nóng ruột mở tờ giấy ra xem. Tiền. Chưa bao giờ cô được một số tiền to đến thế. Khi đoàn du lịch đã đi khuất, Ma-ri-a lại ra khỏi lều, cô thấy lão Pê-đrô đang nói chuyện với vài lão già di-gan khác, cô đi thẳng tới phía họ. Mấy lão già vội im bặt tò mò nhìn cô gái. Cô vội bước đến chỗ lão trùm, đưa lão số tiền thưởng :
— Của « người đó » cho tôi cái này và tôi không cần đến nó — Ma-ri-a nói vẻ lạnh lùng, rồi thản nhiên quay gót.
Ngày hôm đó lần đầu tiên cô gái được ăn cùng với mọi người và hơn thế ở cạnh A-đê-la.
Hôm sau buồi sớm bắt đầu không bình thường. A-đê- la moi từ đống áo quần lộn xộn to xù ra một cái váy hoa rộng và một áo sơ-mi, mụ bảo Ma-ri-a mặc vào. Cả váy áo đều quá rộng, tự tay mụ chữa lại cho vừa với khổ người em, và khi Ma-ri-a ra sông rửa mặt thì mọi người không ai còn nhạo báng em như mọi hôm nữa. Tất cả họ ngắm nghía cô bé với vẻ hiếu kỳ.
Buổi ăn sáng chưa xong thì chiếc xe du lịch hôm qua lại tới. Một người đàn ông đứng tuổi tha cái bụng tròn căng như quả bí bước ra xe và sau đó là cái ông cao ngoẵng trán hói hôm qua. Ông ta vẫy tay thân thiện khi trông thấy cô gái. Và ngay lúc đó Pê-đrô đã mời hai vị khách quí vào lều...
Mười lăm phút sau họ đi ra và cái nhóm người nho nhỏ có Pê-đrô dẫn đầu ấy bước vội đến chỗ Ma-ri-a.
— Ma-ri-a, con là người xa lạ giữa chúng ta! — Lão trùm nói — Hơn một năm nay con sống trong trại này, nhưng con vẫn cứ là người xa lạ và mãi mãi vẫn như thế. Tuy nòi giống của con là đi-gan, dòng máu di-gan chảy trong con, nhưng những người phản bội truyền thống của cha ông ở xóm Tơ-ri-a-na đã làm hỏng nó rồi. Vì vậy ta quyết định đem con nhường lại cho ngài đây. Con sẽ hầu hạ ngài... Nếu con ngoan ngoãn dễ bảo thì con cứ ở đấy. Nhưng nếu con dám hỗn láo hoặc ăn cắp thì ngài sẽ mang con trở lại đây. Và lúc đó chỉ có Chúa mới dung thứ cho con được. Con nhìn đi, đây là dấu tay ta đã bằng lòng nhượng con lại cho ngài.
Và Pê-đrô hất đầu về phía ông bụng phệ tay đang cầm tờ giấy gì đó.
Một phút im lặng. Mọi người ai cũng nhìn và chờ xem thái độ của cô bé. Nhưng Ma-ri-a chỉ đưa mắt chậm rãi nhìn quanh, rồi đi tới chiếc ô-tô không một lời chào từ biệt.