— Ngài Phret! Ngài hãy báo Vô-rô-nốp và cả ngài cùng cùng tới đây ngay nhé! — Giọng Nun-ke pha trộn nỗi lo lắng và long trọng. Phret gọi tê-lê-phôn cho lão tướng, rồi cả hai cùng tới. Nun-ke đang cúi sát chiếc ra-đỉ-ô chăm chú theo dõi. — Các ngài hay ngồi xuống và nghe đi... suỵt đừng hỏi một lời nào vội... — Ai nói đấy ? — Vô-rô-nốp thì thầm hỏi Phret lúc nghe đài nói bằng tiếng Đức. Phret nhún vai — anh cũng chẳng biết có việc gì xảy ra. — Bài phát biểu của Sớc-sin được trình bày với sự có mặt của Tơ-ru-man... — Nun-ke khẽ nói và vặn to ra-đi-ô, nhưng lát sau buổi phát thanh chấm dứt, có lẽ Nun-ke vặn đài quá muộn. Nun-ke lầm băm văng tục và lao tới tê-lê-phôn. — Hê-lô, thư viện phải không ? Ngay lập tức gửi bưu phẩm hôm nay cho tôi, ngay lúc này nhé! Bài nói chuyên của Sớc-sin ở Phun-tôn đã được đăng báo chưa? Đưa cả cho tôi vài tờ báo nữa ! Hắn đặt ống nghe xuống một cách nóng nảy, rồi quay sang Phret và Vô-rônỗp. — Các ngài có hiểu bài phát biểu này có ý nghĩa gì không ? Mà lại chính miệng Sơc-sin nói nữa ? — Phát biểu về việc đó lúc này còn quá sớm, vì chúng tôi chỉ mới nghe được phần cuối của bài nói chuyện... — Phret tránh câu trả lời thẳng, — nhưng qua nội dung những điều đã nghe thì không còn nghi ngờ gì nữa: đó là lời phát biểu chống đối nước Nga Xô-viết. — Ngài quá thận trọng hoặc chưa thấy rõ tầm quan trọng của các sự kiện... Bài nói chuyện này là đòn tấn công trực diện đối với bọn Nga. Ồ, có thế chứ! Một bước ngoặt lớn của thời cuộc trong lịch sử nhân loại... Giáo Viên trực nhật mang vào một chồng báo và cả ba người đều hăm hở chộp lấy... Báo Tây Ban Nha chỉ viết những lời bình luận chung chung bài nói chuyện tại Phun-tôn, ngược lại báo Pháp đăng toàn văn bài nói chuyện ngay trang đầu. — Ngài đọc đi, — Nun-ke bảo Vô-rô-nốp là người giỏi tiếng Pháp một cách hoàn chỉnh. Vô-rô-nốp bị viễn thị... nhưng lão cố giấu điều đó rất cẩn thận. Lão đặt từ báo khá xa và phân tích các từ trong từng câu, đôỉ khi nhấn mạnh các thành ngữ lạ... giọng lão ta hùng hồn âm vang chứng tỏ lão ta rất tự hào về môn ngoại ngữ đó của mình. Trong khi Nun-ke nghe đọc bài nói chuyện của viên cựu thủ tướng Anh, tuy hiện nay không còn giữ chức vụ cũ nhưng vẫn đóng vài trò quan trọng không thay đổi trong chính phủ, thì riêng Phret lòng thắt lại vì đau đớn: mới hôm qua đây nước Anh còn là đồng minh góp phần đánh gục chủ nghĩa phát-xít và công nhận thắng lợi của quân đội xô-viết với niềm khâm phục, thì giờ đây lại đề nghị thành lập khối Anh — Mỹ chống Nga Xô. Sơc-sin không cân nhắc lời phát biểu cho lắm. Vài năm trước đây Hít-le đã tuyên bố: chỉ có nòi giống A- ri-an, một dân tộc thượng đẳng mới thích hợp với việc nắm quyền thống trị thế giới. Và giờ đây tại thành phố Phun-tôn, ngài Sớc-sin trong lời phát biểu của mình lại khẳng định chỉ có dân tộc nói tiếng Anh mới xứng đáng với vai trò ấy mà thỏi. — Ồ, xin chúc mừng... chúc mừng các ngài trên ngưởng cửa của một thời kỳ mới. Nào, bây giờ thì ý kiến của các ngài sao nào. — Mặt Nun-ke trông đến là hớn hở và tươi rói. — Đúng, quả là một thời kỳ mới đang bắt đầu trong tình hình quốc tế. — Phret khẳng định. Bây giờ thì công việc của chúng ta sẽ nhiều thêm đây, tha hồ mà bơi nhé! — Vô-rô-nốp khoác lác. — Ồ, vai trò của chúng ta lúc này gần như có tầm quan trong quyết định ấy chưa. — Nun-ke tán thành. — Đáng tiếc ngài Đôm-rai-tơ lại không có mặt ở đây. — Như vậy ít nhất chúng ta cũng được nghe những tin tức cụ thể ở Niu Oóc từ miệng ông ta. — Đúng vậy, hẳn là kỳ này ông ta sẽ truyền đạt nhiều tin mới đây! — Nun-ke trầm tư nói và trong óc hình thành mối suy nghĩ: rồi đây những cái mới ấy sẽ thay đổi như thể nào chiều hướng của nhà trường. Nhưng một sự kiệu bất ngờ đã tới trước Đôm-rai- tư. Một bức điện mật của y chỉ thị là ngoài khoa Nga ra, còn tất cả các khoa khác của trường đều phải được tung gấp vào các địa điểm đã được vạch sẵn không chậm trễ. Địa điểm thứ nhất là Ba-va-ri-a và Tây Béc-lin. Họ chưa kịp thi hành nhiệm vụ ấy thi những học viên mới từ trại những người lưu vong được tới tấp chở đến. Nun-ke ngạc nhiên thấy không chỉ có người Nga, người U-cra-i-na, người Bi-ê-lô-ru-xi-a goi vắn tắt là người Xla- vơ, lại còn có cả người của các dân tộc Tuyếc-mê-ni-a, Tát-gi-ki-xtan, người Cap-ca-dơ và Kiếc-ghi-di nữa. — Chúng ta làm gì bây giờ ? Tìm đâu ra bằng ấy giáo viên thực hành, — Nun-ke vừa lo lắng vừa thu xếp nơi ở cho đội quân mới đến của trường. Nhưng tất cả đều ổn thỏa. Chỉ vài hôm sau Đôm- rai-tơ có mặt ở trường với vẻ hào hửng, phấn khởi. — Chúng ta phải đào tạo gấp những điệp viên cho tất cả mọi vùng của nước Nga. Thế thì chẳng lẽ ta lại tung người U-cra-i-na hay Bi-ê-lô-ru-xi-a vào các làng Cru-di-a ư ? Vì như thể họ sẽ trơ thành những con quạ trắng nơi đó mất! Trong trường của ta cần có đủ mọi dân tộc là vì thế. Không chỉ thành phần của học viên ở trường thay đổi mà cả chương trình dạy cũng được rút ngắn, nâng cao.
Các phòng được đặt máy vô tuyến truyền hình. Trong một giờ giấc nhất định các học viên phải nghe bài giảng của một trong hai vị giáo sư mà Đôm-rai-tơ dẫn từ Niu Oóc về. Những bài giảng đó bao giờ cũng kéo dài độ hai tiếng. Các giáo sư dạy cho các học viên về cách tuyên truyền cho chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thực chứng mới với chủ nghĩa bản năng... Tóm lại cố làm sao gây cho dân chúng tình trạng hoang mang mất lòng tin vào hiện tại và tuyệt vọng về tương lai. Đôm-rai-tơ đặc biệt chú ý tới nhóm « A-men », vì các thành viên của nhóm đó rõ ràng được dành cho mặt trận tư tưởng. Những người trong nhóm này được miễn việc luyện tập các phương pháp chiến đấu có vũ khí. Riêng môn bắn họ cần phải biết thành thạo dành cho trường hợp rủi ro bị lộ... Và môn kỹ thuật vô tuyến, để các tổ có thể duy trì liên lạc với nhau. Đồng thời họ củng cố và chuẩn bị tinh thần cho Bran-tơ là giáo viên môn tôn giáo — một lão già nhỏ bé khô đét như con cá mắm — thường xuyên xem xét một cách có phương pháp đối với các thành viên của tổ « A-men », kiểm tra riêng từng người một xem họ đã tiếp thu được bao nhiêu kiến thức về tục lệ và các bài kinh thánh của giáo phái, họ có thể sáng tác ngay bài giảng kinh cho bất cứ để tài nào hay không ? Đôm-rai-tơ thích thú cùng vơi Bran-tơ kiểm tra các học viên trong môn thần học ngộ nghĩnh này. Hắn kiểm tra trên cơ sở hiểu biết sâu rộng của mình, nhận xét, chỉnh đốn và nhắc đi nhắc lại nhiều lần một câu... — Các anh chớ chống đối Xô-viết ra mặt mà chỉ... Và các học viên thay hắn nói nốt đoạn cuối. — Kín đáo! Kín đáo ! Đôm-rai-tơ phì cười và tiến sang phòng bên canh. Sự vui vẻ của hắn có hơi giả tạo, vì tình trạng thực tiễn của trường không làm hắn vừa lòng. Đôm-rai-tơ vẻ sốt ruột lầm bầm : — Tôi đã hứa với Niu Oóc trong một tháng rưỡi nữa chúng ta sẽ tung một số nhân viên tình báo và các điệp viên phá hoại được đào tạo kỹ vào giữa bọn bôn- sê-vích. Và tôi không thích đùa giỡn với lời nói cửa mình. Lòng tin được đặt trêu cơ sở giữ đúng lời hứa. Nghề nghiệp của chúng ta không phải chỉ lệ thuộc vào công danh, mà đôi khi cả tính mạng chúng ta nữa... — Đôm- rai-tơ tâm sư với Nun-ke vào một trong nhưng giây phút chân thành hiếrn có. Công tác của tất cả mọi người đều tăng, nhưng đặc hiệt là công việc của Phret đối với khoa Nga. Vì thời gian này Vô-rô-nốp chỉ lo lắng đến tổ « A-men » của lão. — Ngài Nun-ke! — Phret gợi lên sự chú ý của ngài hiệu trưởng về công tác của mình. — Tôi không thể nào đảm bảo được khối lượng công tác hiện nay của khoa Nga. — Vì sao ? — Vì số học viên khoa này s0 với thời gian trước đã tăng lên gấp ba lần. Ngoài ra cùng với các giáo viên khác tôi bắt buộc phải nghe các giờ « chuẩn bi tinh thần ». Chuẩn bị các cuộc tranh luận với các diễn giả với tư cách là người có nhiệm vụ hướng dẫn cách nhìn nhận, xét đoán của học viện... Chỉ riêng việc này đã chiềm mất khối thời gian khá lớn rồi, lại còn bao công tác khác nữa! Và có ai miễn cho tôi những việc làm hàng ngày ấy đâu ? Nói tóm lại tôi không còn có thì giờ để ăn và ngủ nữa... Mà như vậy thì... — Nói chung ngài có thích chương trình mới của trường không ? — Đáng lẽ phải trả lời những đề nghị của Phret thì Nun-ke lại đột ngột hỏi anh. — Chúng ta là ban chiến đấu cũ, nên tôi nói thật, tôi không thích lắm. — Nói riêng với nhau thôi, thú thật tôi cũng không thích lắm... Một sự trái ngược hoàn toàn: chúng ta cố gắng ngụy trang các điệp viên sao cho từ trong tới ngoài họ sẽ trở thành không thể nghi ngờ được bằng cách khéo léo nhất theo khả năng có thể, đồng thời họ lại tuyên truyền các tư tưởng chống đối bọn đỏ. Như vậy thử hỏi lô-gích ở chỗ nào ? Đó là sự minh mẫn ư ? Nếu không phải là lạy ông tôi ở bụi này! Đấy là điều làm tôi không hiểu nổi. Vì vậy tôi quyết định là sẽ viết báo cáo về Niu Oóc và hy vọng rằng sẽ được trên chú ý đến. — Ngoài sự đồng ý của Đôm-rai-tơ ư ? — Tôi cũng đã nói chuyên đó với ông ta. Nhưng như ngài biết đấy, Đôm-rai-tơ đối với ông ta thì không có gì tồn tại ngoài ý muốn cá nhân của ông ta... — Tôi không ganh tỵ với ngài, nhưng quả là tôi cũng không tìm ra được lối thoát nào khác hơn. Nhưng bây giờ ta hãy đi vào thực tế công việc trước mắt. Ý kiến của ngài về lời phát biểu của tôi vừa rồi ra sao ? — Tôi công nhận là khối lượng công tác gần đây của ngài tăng lên rất nhiều. Ngài muốn đề nghị gì không ? — Rất đơn giản: cần phải bổ sung thêm một giáo viên thực hành cho khoa Nga. — Nếu có người thích hợp. Còn không thì chúng ta cũng đến chịu... — Có lẽ tạm thời chỉ định mọt người nào đó ở lớp « A » hay lớp « R » chăng ? — Cần phải báo cáo với Đôm-rai-tơ thôi, ông ta hứa là các giao viên mới sẽ từ Niu-Oóc đến. Nhưng nếu trước mắt cần thiết thì có lẽ tạm thời phải thế thôi.
Phret bỗng im bặt vì Đôm-rai-tơ bước vào phòng, mình đẫm mỗ hôi và dáng điệu mệt mỏi. — Hừm! — Hắn thở phào và buông mình xuống chiếc phô-tơi. — Mới cuối tháng ba mà nóng như giữa hè vậy. Quỷ tha ma bắt cái vùng Ca-tô-lô-ni-a này đi. Những lúc này tốt nhất chỉ nên ở vùng Địa Trung Hải mà thôi. — Lần đầu tiên tôi thấy ngài có vẻ mệt nhọc đấy! — Nun-kẽ nói và vội vã trao cho hắn một cốc rượu pha nước. —- Người Tây Ban Nha quả là biết cách giải khát một cách tuyệt diệu. — Tôi đã nốc chán cái của này ở chỗ bà bảo trợ rồi. — Ngài vừa đến nhà bà bảo trợ Mê-nen-đô ư ? — Nun-ke vô cùng ngạc nhiên. Từ trước đến giờ mọi việc đều do hắn giải quyết và liên lạc với Ac-net. Chính vì vậy nên nghe Đôm-rai-tơ nói vừa ở đổ về hắn tỏ vẻ khó chịu. — Với một người đàn bà như thế, đáng lẽ chỉ nên nói chuyên về tình yêu thôi. Thế mà tôi phải khổ công vì những việc bẩn thỉu khác. Đây, hai mảnh giấy lộn này, nói cho hoa mỹ hơn thì đó là thư mục sư1: một cái do Bran-tơ viết, cái khác do lão già A-tô-ni-ô viết. Giá quỷ bẻ gãy tay lão ta đi thì hơn. Từ hai bản này cần soạn thêm một bản thứ ba: cần thu gọn lại cô đọng hơn vào một dạng chung để sao cho con dê cũng no mà bắp cải vẫn còn. Các ngài có biết không, một bản thì bà báo trợ, nhưng đúng hơn là lão cha cố khống thích. Còn bản của lão ta viết thì lại không thích hợp với ý tôi. Phret cầm lẩy hai tờ giấy chăm chú đọc. — Thư mục sư gì thế ? — Nun-ke lo ngại hỏi. — Niu Oóc muốn rằng, — Đôm-rai-tơ chưa bao giờ gọi phòng chuyên trách ở Mỹ bằng cách khác, — chúng ta hãy lợi dụng tên và lịch sử thành lập của trường để kêu gọi — tất nhiên là thay mặt bà báo trợ — tất cả mọi tổ chức tôn giáo trên thế giới, tổ chức buổi lễ ở các nhà thờ với bài thuyết giáo chống những kẻ phá hoại tôn giáo. Đồng thời chúng ta khuấy động dư luận thế giới ủng hộ phong trào tôn giáo chống chủ nghĩa cộng sản. Không còn gì có ý nghĩa bằng chung ta kết hợp bài thuyết giáo với lời kêu gọi quyên góp. Hãy viết là: các tặng phẩm được tập trung cho việc xây dựng nhà thờ ở nước Nga, ngoài ra còn cho trường là trung tâm của phong trào tuyên truyền cho giáo phái. — Chính quyền Xô-viết sẽ nhận các tặng phẩm ấy đấy! — Nun-ke nói chen vào. — Ta không có ý định chuyển cho họ, mà chính là để tung tin bọn cộng sản chống đối tôn giáo, truy nã các tín đồ, còn sổ tiền góp được chỉ có lợi cho công cuộc của chúng ta thôi. — Nhưng hai bài ấy viết thế nào ? — Đợi một tí, — Phret hỏi. — Ngài có nhận ra chỗ khác biệt giữa hai bản không ? — Điều đó không khó khăn gì mà không nhận ra. Một bản lão cha cố viết chỉ nói đến những người Thiên Chúa giáo. Còn bản kia kêu gọi tất cả mọi tín đồ bất kể thuộc tôn giáo nào, thâm chí cả những người khác nhau về môn phái nữa. — Vậy theo ngài phải rút ra từ ý hai bản này để viết thành bản thư ba cho bà bảo trợ ký phải không? — Phret hỏi. — Thế nếu bà ta vẫn không thỏa thuận thì sao? — Mọi việc đã được dàn xếp ổn thỏa rồi, ít nhất là với bà bảo trợ. Đúng là người đàn bà đẹp, nhưng lạy Chứa, sao bà ta lại đứng xa chính trị đến thế! Tất cả đều do con lừa cố đạo quyết định. À, sao lão ta lại rơi vào đấy nhỉ? Tôi phục ngài đấy, ngài Nun-ke ạ, sao ngài có thế chịu để hẳn đứng mũi vào việc của chúng ta? -- Cha An-tô-ni-ô là một trong những người sáng lập trường này đấy. Chính lão ta người khởi xướng... mãi sau này tôi mới được nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với lão ta. Vì nhãn hiệu của nhà thờ lớn và nỗi đau khổ của người đàn bà tuyệt diệu nói trên... Thời gian đầu lão cha cố là người được việc cho trường. Chỉ trong mấy tháng gần đây là lão dẫn dắt bà bảo trợ vào chiều hướng hoàn toàn trái lại. — Thế ngài không biết làm sao cho lão ta trở nên vô hại ư? — Ngài bảo sao ? — Giọng Nun-ke ngạc nhiên và khàn khàn một cách kỳ quặc. — Điều đó như một chuyện pha trò lố bịch vậy! — Đôm-rai-tơ bực bội nói — Hiệu trưởng một trường tình báo không biết cả khái niệm « làm trở nên vô hại» là gì. Có lẽ tôi cần phải mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho ngài chăng? Một lớp huấn luyện đặc biệt. Ngài hiểu nhầm... Có lẽ tôi biểu lộ không đúng ý mình. — Nun-ke tái mặt... — Chỉ có những người thiếu thông minh mới diễn tả không đúng ý mình mà thôi, đó là những người không có ý nghĩ cá nhân độc đáo... Còn tôi hiểu ngài ra sao ư? Có thể bảo đảm rằng tôi không phải là thằng ngốc... Tôi cho hai tuần lễ nữa, lão cha cố phải liệu mà cút xéo khỏi chiếc vi-la và khu vực vùng Phi-gie-ra, Nếu lão biến mất hoàn toàn thì càng tốt. Con quạ đen đó đã biết quá nhiều về trường ta và lão có thể gây tác hại ghê gớm nếu... Bà bảo trợ cũng bị lão khống chế quá mức. Ngài hãy tìm cho bà ta một lão chăn chiên khác...--------------------- 1. Thư ngỏ của Đức Giám mục gửi cho giáo dân
Phretvà Nun-ke vô tình đưa mắt nhìn nhau. — Đúng, đúng, một người đàn bà ở tuổi bà ta đang cần đến người yêu, chứ không phải người chuyên thuyết giáo về luân ly, đức hạnh! - Đôm-rai-tơ tiếp. Nếu đã bàn đến chuyện này thì một trong hai ngài chưa ai để ý đến miếng mồi béo bở ấy ư ? Nếu tôi có thời gian thì có đến ngàn con quỷ cản trở cũng mặc... Thế còn ngài, Phret? Ngai có quan hệ thế nào với bà hảo trợ ? Té ra ngài cung ru ngủ bà ta bằng tôn giáo ư ? — Trước đây tôi có đến chơi trong quan hệ bình thường. Nhưng dạo này tôi không có đủ thời gian. Ngoài ra cha An-tô-ni-ô cũng... Nun-ke phá ra cười. — Lẽ dĩ nhiên rồi, lão ta sợ mất một tín đồ ngoan đạo là thế. Chẳng cố gì là lạ, nếu lão ta run rẩy sợ Ac-net di lấy chồng. — Thế thì tống cổ lão cha cố ấy vào địa ngục đi là phải. Chú ý đây! Tôi có một sáng kiến! Phret, nếu chúng ta cưới Ac-net cho ngài thì sao ? Một cách giải quyết tuyệt diệu đấy! Như vậy dứt khoát chúng ta đảm bảo được cái nhãn hiệu lợi thế cho nhà trường, thu gọn cả tiền bạc vào một mối. Còn ngài thì được một người đàn bà đẹp tuyệt vời... Chưa bao giờ ngài có triển vọng về món kinh doanh tốt hơn thế này đâu. Và cũng sẽ không bao giờ có trường hợp thứ hai như vậy, Phret ạ! Nếu ngài đồng ý chung ta sẽ làm bản giao kèo hẳn hoi. Chúng tôi sẽ cho Ac-net một món tiền hồi môn tử tể... Được chứ? Nào, ý kiến ngài ra sao ? Tất nhiên, tôi hiểu, lấy vợ dù đẹp đến đâu mà lại có cái gánh nặng ở đứa con tàn tật ấy thì... Ai chà... điều ấy sẽ giảm mất hứng thú của tuần trăng mật, nhất là lúc này bệnh tình của đứa bé đang trở nên trầm trọng... Nun-ke nhận xét. — Trầm trọng à. Điều đó tốt quá rồi còn gì! Ta có thể nhân đó giảm bớt được gánh nặng. Nếu cưới Ac-net cho ngài Phret thì ta sẽ có cách làm cho đứa con không phải đau ốm lâu thêm nữa... Trong những trường hợp như thế này việc thương hại chỉ là cái chủ nghĩa lãng mạn lỗi thời mà thôi. Phret cảm thấy một luồng nóng bỏng đang ập xuống đầu mình. Để giấu bộ mặt đang đỏ bừng vì căm tức, và để đừng nhảy xổ vào hai tên khốn kiếp... anh quay nhanh về phía cửa sổ. Anh có thể làm hỏng tất cả nếu để lọ mình trong lúc này. Nhưng làm sao anh có thể chịu đựng nổi khi lòng căm thù đang lên tiếng trong anh ? « Phải kiên nhẫn, — anh tự dặn mình, — Phret ạ!...» — Hãy suy nghĩ kỹ đi, Phret ạ! Hãy suy nghĩ... tôi cho ngài hai tuần để suy nghĩ, nhiều hơn thì không được đâu. Trong thời gian ấy đến một cái lô-cốt còn hạ được, chứ đừng nói đến trái tim người đàn bà, bà ta sẽ ngã vào tay ngài như trái rụng vậy... Ngài Nun-ke, cần phải tạo thời gian cho Phret mỗi tối vài tiếng đồng hồ! — Nguy ở chỗ là ngài Phret không có thì giờ để thở nữa. Trước khi ngài tới đây, chúng tôi bàn dang tìm ngươi bổ sung cho khoa Nga, nếu không sẽ không đảm bảo nổi chương trình giảng dạy. — Sao các ngài không nghĩ ra từ trước ? — Vì từ trước khoa Nga ít hơn gấp ba lần đối với bây giờ. — Tôi hiểu rồi, vì tình hình mới nên cần phải bổ sung giáo viên thực hành cho khoa Nga. Ngài có đề nghị chỉ định ai không? — Có lẽ Prô-tô-pô-pốp chăng? - đúng hơn thì Nun-ke hỏi, chứ không phải đề nghị. — Ngài hãy quen hắn ta di. Hắn đối với ngài coi như đã chết rồi vậy, mà chí còn cha Pô-li-ét-tôt — hắn lựa cái tên hay đấy! Đã được dành cho các việc lớn trong môi trường tôn giáo rồi! — Vậy Đô-man-tô-vích nhé! — Nun-ke nói. — Còn trẻ quá! — Phret phản đối. — Già hơn ngài những năm tuổi cơ đấy! —- Nun-ke trả lời vẻ cáu kỉnh. — Ừ, đó là một tay thông minh ưu tú. — Đôm-rai-tơ tán thành — Hắn tiếp thu mọi việc rất nhanh, một anh chàng xuất sắc. Trước chiến tranh đã từng là điệp viên của các ngài ở Nga. Qua tài liệu đâu như hắn còn được khen thưởng cơ đấy. Tôi không hiểu vì sao ngài lại không ưa Đô-man-tô-vích, Phrét? — Chúng tôi có quan hệ không tốt với nhau. Và tôi sợ điều đó sẽ ảnh hưởng đến công việc chung. — Nhảm nhí! Đôm-rai-tơ tuỷèn bổ dứt khoát. — Điều đó có lợi cho công việc thì đúng hơn. Được rồi, ta sẽ bổ sung hắn làm người giúp việc cho ngài. Rồi hắn sẽ nhìn các lỗi của ngài bằng con mắt sắc sảo hơn và ngược lại ngài cùng sẽ xem xét hắn! Tôi chuẩn y việc bổ nhiệm Đô-man- tô-vích. Bây giờ thì gác tất cả mọi việc lại. Trưa nay tôi ăn cơm không ngon miệng và chưa ăn cơm chiều, thêm vào đó lại còn buồn ngủ như đã phải thức trắng ba đêm ngày rồi vậy. Như Vô-rô-nốp thì suy cho cùng tất cả chúng ta đều là người và đều tầm thường cả? Nhưng số phận lại muốn Đôm-rai-tơ dừng ăn cơm chiều vôi, vì ngay lúc đó chuông điện thoại réo vang. Nun- ke vội cầm lấy ống nghe. — A-lô!... Cái gì ?... Cho ông ta vào! - Nun-ke thở dài, giọng có vẻ lo lắng... Phái viên đăc biệt của phản gián Tây Ban Nha từ Bác-xê-lô-na đến... — Lạy Chúa, chuyện quái quỉ gì thế? — Tôi cũng chưa rõ... Một người béo, lùn, bụng phệ được giáo viên trực nhật đưa vào. Bộ râu bôi dầu bóng loáng chạy dài hai mép hắn trông như hai mũi tên. Đôi mắt ốc nhồi trắng dã lướt nhanh những người có mặt, không dừng lại lâu hơn ở người nào. — Tôi muốn gặp ngài Nun-ke, — hắn nói trống không. — Tôi là Nun-ke, thưa ngài! Viên sĩ quan phản gián lấy trong túi ra một tờ giấy viết lên đó... rồi trao cho Nun-ke. Nun-ke đọc xong và trả lời bằng vài chữ ở mép dưới tờ giấy. Viên sĩ quan gật đầu, lấy bật lửa đốt tờ giấy vào cái gạt tàn thuổc. — Cái trò hề gì thế này ? — Đôm-rai-tơ phát cáu. — Trao đổi mật hiệu! — Numkc trả lời và cầm lấy chiếc phong bì gắn xi do tên sĩ quan trao. Hẳn đứng nghiêm chào Nun-ke và Đôm-rai-tơ, phớt lờ Phret và đi thẳng. — Cái tên lùn này ở đâu xuất hiện thế, như trong chuyện hóa trang của thế kỷ cũ thế kia ? Đôm-rai-tơ càu nhàu. Nun-ke cẩn thận bóc chiếc phong bì, lôi ra một phong bì khác đóng xi cẩn thận. Hắn lại thận trọng bóc và lôi ra tờ giấy mỏng với vài dòng chữ đánh máy và Nun-ke chưa đọc xong đã đọc lại tờ đầu, vẻ băn khoăn. — Ngài có thể cho biết nội dung là cái quái gì không? — Đôm-rai-tơ sốt ruột hỏi. Nun-ke đưa cặp mắt mệt mỏi nhìn quanh và bằng giọng cũng mệt mỏi không kém nói: — Phản gián Tây Ban Nha đêm qua phát hiện trong địa hạt trường có một máy vô tuyến điện mật lạ hoạt động...