Ở tỉnh Ca-ta-lô-ni-a cách thành phố Phi-gie-ra khoảng 20 ki-lô-mét, về phía bắc, có một vùng bằng phẳng.
Ở đó có thể nhìn thấy bóng dáng của những tòa nhà uy nghi dượng bệ và một quán rượu nhỏ bên đường. Tòa lâu đài có một dãy tương đá bao bọc vây quanh rất cao. Bạn có the khen người chủ quán nào đổ đã tìm ra được con tính của mình. Hình thức của những dãy nhà và bên trong quán toát ra vẻ giàu có hoa mỹ làm bạn yên tâm. Ở đây không cần phải lo ngại, người ta sẽ dọn cho bạn những món ăn hồ lổn tồi tàn và sau bưa ăn ngon lành, nếu bạn muốn nghĩ ngơi đôi chút cũng chẳng lo người ta sửa soạn nơi nghỉ cho bạn bằng khăn trải giường bẩn thiu. Nhưng nếu bạn có dịp dừng lại lâu hơn ở quán nầy hẳn bạn sẽ có dịp đặt ra hàng tràng câu hỏi không bao giơ được giải đáp.
Vùng này từ trước là một thắng cảnh và là nơi thường lui tới của khách du lịch các nước. Nhưng từ khi chính phủ Phran-cô lên cầm quyền thì số khách du lịch không còn lai vãng ở đây nữa. Chỉ còn những người Đức thường lui tới với những chiếc xe chở toàn những thức ăn vật dùng đủ loại.
Nếu ta tò mò muốn biết số thu nhập của chiếc quán nhỏ kiểu kia hàng ngày, ta sẽ phải ngạc nhiên với con số cao nhất cũng chi tới 5 hoặc 10 pê-de-ta là cùng1
Thế nhưng thỉnh thoảng lại có những chiếc xe vận tải cỡ lớn chất đầy những bao hòm bịt kín đưa đến, và người chủ quán mến khách vui vẻ mở cửa nhà kho chất đồ đạc xuống, không một lời căn vặn...
Đúng vậy, có nhiều việc kỳ lạ khó hiểu cưa làm ta phải suy nghĩ. Ví dụ nếu một chiều đẹp trời nào đó ta có ý muốn dạo chơi một vòng quanh quán, ta sẽ thấy vẻ mặt của người chủ quán cau có đến thế nào. Đôi khi lão ta gắt gỏng nói :
— Cấm đi lại về bên phải, phía bên kia hàng rào còn bao nhiêu việc khó chịu chờ đợi, các ngài tò mò đấy! — lão chủ quán ý nhị bảo thêm — Ở đó là một nhà tu kín...
Ngôi quán nửa có vẻ nhà ăn, nửa có vẻ quán trọ kia chính là nhãn hiệu giả của căn cứ mới thuộc trường đào tao sĩ quan do Ac-net Mê-nen-đô sáng lập dưới tên « những hiệp sĩ của thánh linh ».
Người vợ góa của đôn Cac-lôt đã thanh toán mọi quan hệ ở Ma-đrit, từ giã luôn tòa biệt thự lộng lẫy xa hoa ở San Ka-pha-en. Đã sáu năm rồi từ khi xảy ra tai họa cho gia đình nàng, nàng dọn đến ở trong một biệt thự nhỏ gần khu trường với đứa con yêu tàn tật !
Nhưng chúng ta hãy tạm thời để yên cho mẹ con I-ren và hãy quay về những sự kiện làm náo động ban chỉ huy trường « Những hiệp sĩ của thánh linh » từ hai tuần qua.
Người quen cũ của chúng ta Giôgiép Nun-ke hiện nay là thủ lĩnh của trường đặt biệt này, sau một cuộc hành trình bí ẩn lúc trở về mang theo một bệnh nhân, cho tới nay đã hai tuần lễ trôi qua vẫn chưa thuyên giảm.
Cho là các bác sĩ của trường bất tài, lập tức người ta cho mời giáo sư Ca-sti-li-ô từ Giê-rô-na đến. Vị giáo sư nổi tiếng này đã dùng mọi biện pháp giảm nhẹ trạng thái do chấn động thần kinh trong gần suốt tuần lễ, nhưng vẫn vô hiệu. Chính vì vậy nên ông ta không dám hứa hẹn bệnh nhân sẽ có thể trở lại trạng thái bình thường trong tương lai.
Nun-ke không hề giấu giếm là hắn ta đã tốn biết bao tâm lực về việc này, hắn hy vọng bệnh nhân sẽ sớm bình phục dù có phải tốn những món tiền lớn thù lao cho giáo sư cũng không một chút do dự, dù biết rằng ngân quỹ của nhà trường có vì thế mà hao hụt, đến thế nào cùng được.
Giao sư Ca-sti-li-ô nhận thấy viên tư lệnh quan tâm rất mực đến người bệnh. Vì vậy hàng ngày ông để các bác sĩ túc trực theo dõi diễn biến tình hình sức khỏe của bệnh nhân. Nhưng đến đêm thì chính vị giáo sự tự mình tổng hợp và trình bày với ngài tư lệnh.
— Thế nào, ngày mai tôi có thể thăm hỏi con bệnh của giáo sư được rồi chứ? — Nun-ke sốt một hỏi.
— Tôi e rằng ngài sẽ làm cho bệnh tình của anh ta thêm nặng mà thôi.
— Nếu ngược lại bỗng nhiên anh ta đỡ hẳn thì sao?
— Không, tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ một sự liều lĩnh nào...
Cuộc trao đổi chấm dứt bằng lời phản kháng đó. Thế nhưng tối ngày thứ mười hai sau cuộc trao đổi trên, và là ngày thứ mười chín kề từ ngày bệnh nhân được đưa về đây lại xảy ra một bước ngoặt khác.
— Tôi đành phải thu thật với ngài là tôi không bảo đảm được bệnh nhân sẽ bình phục bây giờ, hay trong tương lai gần đây. Giáo sư nói giọng lộ rõ vẻ chán nản.
------------------
1. Đơn vị tiền tệ Tây Ban Nha bằng một hào của ta.
Trong những trường hợp như thế này thì vị thuốc duy nhất cần cho anh ta là thời gian. Phải, thời gian, chăm sóc ăn uống tốt và yên tĩnh. Tôi cho rằng thừa nếu tôi cứ tiếp tục nhiệm vụ giáo sư ở đây.
— Sao vậy ?
— Tôi đã trao đổi với ông bạn đồng nghiệp đây — giáo sư lịch thiệp nghiêng mình về phía vị bác sĩ của nhà trường ngồi cạnh — rằng cần phải đưa ra khỏi phòng bệnh nhân tất cả những cái có thể nhắc nhở anh ta nhớ đến hiện tại của mình. Cả thuốc men, chai lọ, cả những ống kim tiêm nữa. Nếu ngài biết rõ những thói quen ưa thích của người được ngài bảo hộ, thì ngài hãy nói chuyện với anh ta về chuyện đó. Và hãy chiều theo những quan tâm của anh ta. Tóm lại ngài hãy tạo cho anh ta bầu không khí quen thuộc. Anh ta có thích bran-đi1 không nhỉ ?
Nun-ke lắc đầu.
— Đáng tiếc, một cốc bran-đi sẽ rất tốt cho cơ thể của người bệnh của ngài... Ông ta lắc đầu — Cái căn bệnh này thật là khó hiểu đối với tôi. Loài bệnh này chưa bao giờ tôi gặp trong nghề nghiệp của mình bao giờ.
— Nghĩa là ngài từ chối, tôi muốn nói rằng chúng ta đã gặp một ca bệnh đặc biệt, quá đặc biệt... dùng thuốc tiêm, hoặc uống nhồi nhét cho bệnh nhân có nghĩa gì, nếu nó không có tác dụng cơ chứ ? Thiên nhiên cùng với những nguồn năng lực dồi dào của nó đôi khi còn khôn ngoan và có hiệu quả hơn nhiều, so với bọn thay lang chúng tôi.
Nun-ke quay về cửa sổ trầm ngâm nhìn về phía vườn của nhà tu.
— Vậy tôi đã có thể vào phòng bệnh nhân được chưa ?
— Tôi không nắm được nguyên nhân căn bệnh! Vì vậy tôi khuyên ngài nên đợi ít ngày nữa. Vì nếu có một sự kích thích bất ngờ nào đó rất có thể sẽ dẫn tới tình trạng không còn hy vọng gì nữa. Như vậy tôi...
— Thôi được rồi — Nun-ke cắt ngang lời giáo sư. — Tôi sẽ chú ý tới anh ta hơn. Rất cảm ơn sự tận tình của ngài. Tôi hy vọng nếu cẩn phải chạy chữa cho anh ta, chúng tôi có thể tin ở ngài!
Tiễn vị giáo sư đi rồi, Nun-ke vẫn đi đi lại lại mãi trong phòng làm việc. Và chìm đắm vào dòng lo nghĩ ưu tư. Cuối cùng hắn ta bấm chuông.
— Quân phục đại tá Đức — Nun-ke ra lệnh cho trực ban.
Mặc quần áo gắn huân chương chữ thập xong, hắn do dự, rồi đi về phía cuối hành lang nơi phòng bệnh.
Viên bác sĩ lon tơn chạy theo sau ngài tư lệnh. Và khi tới nơi thì vượt lên trước để mở cửa.
— Chỉ mình tôi vào thôi Nun-ke — ngăn lại khi thấy ông bác sĩ củng bước vào phòng bệnh Nhưng ông hãy ở gần dây. để nếu cần sự giúp đỡ của ông, tôi sẽ gọi.
Người ta bố trí cho bệnh nhân nằm ở hai phòng. Buồng ngoài Nun-ke vừa bước vào là phòng làm việc đồng thời là phòng khách. Một bàn viết trên có đặt điện thoại, một đi-văng với vài chiếc ghế cạnh bàn tròn. Và một chiếc tủ xây liền tường. Tất cả chỉ chừng ấy. Ảnh mắt ngài tư lệnh dừng lại trên từng vật, thậm chí cả trên mấy bức tường nữa, rồi hắn rón rén bước trên đầu ngón chân đi về phía phòng ngủ nơi bệnh nhân nằm. Trang bị ở phòng nầy cũng rất đơn sơ: một chiếc giường gỗ rộng bên cạnh đó là chiếc bàn nhỏ trên cũng có điện thoại cửa bên dẫn ra phòng vệ sinh.
Trong khi ở phòng ngoài một chiếc đèn năm ngọn chiếu sáng lắp lánh, thì ở buồng trong chỉ có ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn bàn. Rõ ràng không phải lần đâu Nun-ke đến đây vì ngay lập tức hắn ta tìm ra ngay công tắc bật điện phía sau cánh cửa. Bóng điện to có chụp bằng pha-lê bật sáng. Nun-ke kéo ghế lại ngồi xuống bên bệnh nhân.
Ngưừi bệnh trùm khăn đến ngực, tay duỗi thẳng, mắt nhắm nghiền như không hề hay biết đến mọi sự vật chung quanh... Có một cái gì khủng khiếp trong vẻ bất động dường như hơi lạnh của tử thần đã ám ảnh người bệnh vậy. Nun-ke nhìn kỹ khuôn mặt dài quen thuộc ấy đến vài phút. Bộ mặt khô héo với hàm râu ngắn mọc lởm chởm trông như chiếc mặt nạ của thần chết...
Ngài tư lệnh đứng dậy lao ra cửa định gọi bác sĩ. Nhưng đến ngưỡng cửa hắn ta quay lại, hắn muốn xem nhịp tim đập của bệnh nhân.
Viên tư lệnh vừa chạm đến tay thì người bệnh bỗng mở mắt và ngồi dậy, nhanh như chớp. Nun-ke lùi dần ra cửa.
— Ngài đại tá đó ư ? Tôi có nằm mơ không ? — Bệnh nhân hỏi dường như không tin ở mắt mình nữa.
Nun-ke bình tĩnh lại gật đầu.
— Nằm xuống, ngài nằm xuống đi — hắn ta tiếi và đỡ nhẹ vai người thanh niên trẻ.
— Quả tình tôi cũng hơi chóng mặt tí chút. Thôi được, tôi nằm xuống vậy, nhưng tôi hy vọng là ngài sẽ không tan biến trước mắt tôi như một ảo ảnh chứ ? Tôi muốn hỏi ngài đôi điều.
Ánh mắt của ngài tư lệnh lấp lánh những niềm vui.
— Tôi rất sung sướng là ngài vẫn vô sự. Và vui lòng trả lời những câu hỏi của ngài. Nào ?
— Ngài nói đi, có phải viên bác Sĩ trong xà-lim là người của ngài không ?
— Không còn gì đúng hơn — Nun-ke lầm bằm.
— Tất cả mọi việc đó để nhằm mục đích gì, Herr Krô-hơ-ne ?
---------------
1. Tiếng Anh: Rượu trắng.
— Trước hết ta hãy ước định với nhau từ nay tội không phải là Herr Krô-hơ-ne nữa, mà là Herr Nun-ke, rõ chứ ? Nun-ke! Ở đây thiên hạ quen gọi tên tôi như vậy rồi. Còn ngài từ nay cũng không phải là Hen-rích phôn Gôn-rinh nữa, mà là Phret Sun. Ngài không có ý kiến phản đốí sự thay họ đổi tên của chúng ta chứ ?
— Nhưng tất cả tấn hài kịch này nhằm mục đích gì cơ chứ ? — Giọng Hen-rích mà từ nay phải đổi là Phret Sun lộ rõ vẻ bực bội không che giẩu.
— Lẽ dĩ nhiên, rồi ngài sẽ rõ. Nhưng bây giờ ngài còn đang ốm nặng, ngài giáo sư nổi tiếng hôm nay vừa mới tỏ ý lo ngại...
— Herr Nun-ke. Giáo sư nổi tiếng của ngài chỉ đáng giá ba xu thôi. Ngót hai tuần lễ ông ta chỉ nhồi nhét thuốc cho tôi như cho một con ngỗng Nô-en, nhưng lại không đủ khả năng chẩn đoán một chứng bệnh đơn giản như thế này.
— Nghĩa là ngài cảm thấy tất cả ư ? — Nun-ke trố mắt hỏi :
— Sao lại không, tôi nghe rõ những lời bàn tán thì thầm của các bác sĩ thú thật tôi đã phải cố nhịn cười đến run người lên.
— Thật là lạ. Bởi bệnh tình của ngài...
— Tôi, tôi biết rõ hơn ai hết bệnh tình của mình...
— Thật ư ? Thế thì ngài nói đi. Mười chín ngày " bất động... đâu phải chuyện đơn giản.
— Bệnh trạng của tôi ư ? Bệnh giả vờ — Anh chàng vừa mới được đặt tên Phret Sun nói dằn từng tiếng một.
Nuh-ke cười sàng sặc tưởng đến đứt hơi.
— Nào, vậy thì ổn thỏa cả. Nhưng cái gì đã bắt ngài phải giả vờ kỳ lạ thế ?
— Theo tôi biết thì tôi đã đến đây không phải bằng một chuyến du lịch thông thường. Vì vậy tôi cần biết tôi đang ở đâu và người ta mang tôi đến đây với mục đích gì ?
— Và ngài đả biết được những gì ?
— Hiện tôi đang ở trên đất Tây Ban Nha cạnh thành phổ Phi-gie-ra. Theo trí nhớ của tôi thì trên bản đồ thành phố này ở về phía bắc tỉnh Ca-ta-lô-ni-a.
— Chính xác lắm. Rồi sao nữa...
Hiện tôi đang ở trong phạm vi mọt khu trường có cái tên tuyệt diệu «Những hiệp sĩ của thánh linh» cái tên có vẻ làng mạn đến là khôi hài và lố bịch.
— Vậy trường này huấn luyện những ai ? Và dạy những gì ?
Herr Nun-ke! Hình như ngài cho tôi là con chim non mới ra ràng thì phải. Đoán ra việc đó đâu phải là việc gì khó khăn lắm đâu. Vì chắc cũng chẳng ai tốn bao công phu đưa một người từ xà-lim tử tù về để người ấy tiêu khiển thì giờ vào việc giải đáp những bản thảo Trung Hoa cổ điền, hoặc ngành nghiên cứu động vật học đâu.
Nun-ke đồng ý, nhưng vẫn chẳng hé răng nửa lời về nhiệm vụ của trường, nơi ông ta mang phôn Gôn- nnh tới. Hen rích căn vặn :
— Có điều tôi không hiểu đó là vai trò của ngài trong tất cả tấn kịch này. Vì sao ngài lại chú ý tới cá nhân tôi nhiều vậy.
— Tôi kể lại từ đầu vậy nhé! Việc ngài lọt vào trại tù binh Mỹ tôi biết qua Phran vôn-phơ
— Nhưng chính bà ta báo cho đội tuần liều Mỹ tới bắt tôi cơ mà.
— Ngài đừng giận bà ấy. Từ khi tướng Ê vec tự tử, bà ta lâm vào cảnh túng nghèo cùng cực. Bọn đồng minh Anh Mỹ trả cho bà ta năm đô-la khi báo một sĩ quan Đức. Và bà ta thì quen vô khối. Hiện giờ bà ấy đã có miếng ăn nhờ cái nghề đó.
— Như vậy không phải tình cờ tôi gặp ngài ở Áo chứ ?
— Tôi mất đến năm mươi đô-la họ mới cho ngài giấy phép ra khỏi trại đấy.
— Thế còn tấn kịch tên lính Mỹ say rượu?
— Hẳn là thằng kẻ cướp không hơn không kém. Dù tôi nói đến thế nào cũng vậy, dưới 150 đô-la hắn nhất định không chịu thỏa thuận.
— Thế còn cha Phô-ti-ốt ?
— Ngài thấy đấy, quả là tôi mù tịt trong chuyện này. Lão ta chõ mũi vào quá bất ngờ. Tôi bắt buộc phải nói thật với ngài là lão Phô-ti-ốt đáng nguyền rủa ấy thiếu chút nữa là làm mọi cố gắng của tôi thành công toi. Chúng tôi và ban chi huy trại tù binh đã thỏa thuận rằng: lúc xử bắn ngài họ sẽ mang ngài ra ngoại ô và sẽ giao ngài lại cho tôi ở đó. Tôi đã vứt thêm hai trăm đô- la nữa về sự thỏa thuận này. Thế nhưng con lừa Phô-ti- ốt lại làm xáo trộn ván bài. Trước ngày xử bắn một hôm, bỗng tôi được tin tên cố đạo nghĩ rằng đằng nào ngài cũng sang thế giới bên kia, tốt hơn hết nên xử ngài công khai để dọa dẫm những kẻ ngoan cố hoặc yếu bóng vía... Ồ, sau lời đề nghị đó của lão Phô-ti-ốt tôi thật vất vả mới vận động được tay bác sĩ nhà tù...
— Ông ta biết là ông ta trao cho tôi điếu thuốc lá thế nào chứ ?
— Tất nhiên rồi !
Một sự im lặng kín đáo trùm kín cả gian phòng.
— Tóm lại, toàn bộ vở hài kịch đó tốn của ngài bao nhiêu ? '
— Nhà trường trao cho tòi một ngàn đô-la. Và tôi đá dốc cạn túi cho tấn kịch này, nói theo cách nói của ngài. Tôi tin rằng mình đã làm đúng.
— Ồ, không !
— Sao vậy ?
— Ngài chưa bày tỏ vì mục đích gì ngài lại lao vào công việc hao công tốn của đó?
— Tôi đề nghị chúng ta sẽ tiếp tục cuộc nói chuyện này vào ngày mai. Mặc dù ngài thừa nhận là bệnh «giả vờ», nhưng xem ra ngài cũng không được khỏe cho lắm thì phải ?
— Đừng lo cho sức khỏe của tôi Herr Nun-ke! Chỉ. vài hôm là tôi lại khỏe thôi. Dẫu sao ngài cũng chưa trả lời câu hỏi của tôi.
— Nếu ngài cứ ương bướng đòi nghe cho kỳ được, thì đây xin mời ngài Nun-ke đi bước quanh phòng, rồi ngồi xuống ghế. “Ngài còn nhớ câu chuyện ta trao đổi trong tiệm cà phê ở Áo không?
— Nhớ đến từng chi tiết ấy chứ, Herr Nun-ke !
— Cần phải nói là không phải lúc đó ngài đã thức tỉnh ý thức tốt đẹp gì trong tôi. Bởi khi đó kiến thức của ngài về vấn đề thời sự quốc tế còn ngây thơ như một đứa trẻ vừa chập chững biết đi vậy.
— Ngài thứ lỗi cho, nhưng Ta-lây-ran đã nói: «Lời nói chỉ đề che giấu những ý nghĩ của chúng ta mà thôi»...
— Có điều ngài đã quên mất. Ta-lây-ran đã ám chỉ những nhà ngoại giao, chứ không phải những tình báo viên...
— Thế nào ? Như vậy là các tình báo viên...
— Tôi chưa nói cạn ý. Tôi muốn nhắc đến những người vừa là tình báo vừa là bạn... Ô, nhưng chúng ta hãy trở về câu chuyện cần trao đổi thôi... Ngài nhớ khi ấy tôi nói rằng đã xong một cuộc chiến tranh, nhưng chưa phải là kết thúc. Chúng ta cần phải gấp rút chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới. Vậy những ai sẽ chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới ấy ? Trước hết là những nhà ngoại giao lành nghề và các tình báo viên xuất sắc. Là một người đã già đời trong nghề nghiệp và kinh nghiệm tôi thấy bọn chiến thắng đã cướp bóc đất nước chúng ta như thế nào. Những máy móc, tài nguyên bị khuân vác chuyên chở hết sạch, còn những phát minh khoa học thì nay trở thành của riêng của bọn Anh, Mỹ. Nhưng tôi không hề khó chịu về những điều đó. Sự tốt đẹp rồi sẽ đến với chúng ta. Đó là niềm tin thiêng liêng của tôi. Và lúc đó tất cả sẽ trở về vị trí cũ của nó. Thế nhưng tổn thất vô cùng to lớn của chúng ta về ngành tình báo thì quả không gì có thể hàn gắn lại được. Bởi, ngài biết không ? phần lớn những sĩ quan tình báo xuất sắc của nước Đức được đào tạo hàng mấy chục năm nay đã nhập bọn với cục tình báo Anh Mỹ. Số tình báo của chung ta mà thống lĩnh1 và những chính quyền trước đã không tiếc thời gian lẫn bạc tiền để dựng nên, thì hiện giờ đang đi vào con đường diệt vong. Phần lớn họ trở thành tình báo của Mỹ. Nhưng người không muốn như vậy thì liền bị thủ tiêu. Trong lốc nước Đại Đức đang ngày một chìm đắm trong điêu tàn! Điều đó làm tôi ngày đêm mất ăn mất ngủ. Bởi xây dựng#một lâu đài, hoặc một nhà máy thật quá dễ dáng. Nhưng còn mạng lưới tình báo thì có đến mười năm cũng chưa chắc đã gây dựng được hoàn hảo... Ngài có hiểu điều đó không, Phret ? Thế mà sự sụp đổ khủng khiếp ấy của ngành tình báo ta đang diễn ra ngay trước mắt tôi, bởi tôi không đến nỗi vô tư đi tiêu khiển những ngày tháng sau chiến tranh trong trại tù binh dành cho những sĩ quan Đức...
— Xin cảm ơn lời khen ngợi của ngài! Phret gật gù với nụ cười nửa miệng.
— Đúng là có một số tình báo, hoặc một số cán bộ lãnh đạo một thời của tổ chức SS và SD2 đã thoái tròng. Ở đây, tại Tây Ban Nha này chúng ta đã tập hợp được một số khá đông. Nhưng sau thắng lợi của phe đồng minh thì thái độ của chính phủ Phran-cô đối với chúng ta đã khác trước. Chính Phran-cô cũng còn lo giữ thân của ông ta, Còn những người lưu vong của chúng ta — tất nhiên không phải là tất cả — thì đi rải rác khắp nơi tìm sự sống ở các vùng châu Mỹ la-tinh xa xôi. Tôi hy vọng rồi ta sẽ tìm gặp lại họ trong thời gian gần đây. Nhưng Phret ạ, dù có gặp họ hay không thì mạng lưới tình báo Đức ngày nay cùng coi như không còn tồn tại nữa rồi !
Chúng ta hy vọng mối bất hòa của phe đồng minh sẽ sớm nổ ra. Và nhất định sẽ nổ... vì quan điểm của Nga-xô và Mỹ Anh khác nhau biết bao. Tình hình đó nhất định sẽ nổ ra những mâu thuẫn dẫn đến chiến tranh...
Phret! Ngài tin không ? Dân tộc Đức chúng ta vồn cần cù và sáng tạo. Chỉ cần hai chục năm sau là chúng ta sẽ hàn gắn mọi vết thương chiến tranh. Các thành phố sẽ mọc lên như nấm. Và giới phụ nữ của chúng ta sẽ không còn phàn nàn về sự thiếu sinh đẻ nữa. Cũng chẳng cần đến hai mươi năm là ta đã hoàn toàn có đủ mọi ngạch trưng binh mới cho quân đội rồi. Nhưng mạng lưới tình báo tìm ở đâu ra mới được chứ? Phret, tôi hỏi ngài, tìm ở đâu ra bây giờ ?...
-------------------
1. Tiếng Đức: Fuhrer. Chỉ Hítle.
2. Lính mật thám và dội quân tiễu trừ của bọn Đức.
Phret chú ý lắng nghe con người mới hôm qua còn là phôn Krô-hơ-ne, hôm nay đã là Herr Nua-ke và ngày mai sẽ lại mang tên khác nữa. Anh chưa bao giờ thấy viên đại tá mọi khi vẫn rất trầm tĩnh lạnh lùng lại xúc động, sôi nổi như lúc này. Còn ngài đại tá như muốn chứng minh cho sự mẫn cán cửa mình nên lại càng trổ tài hùng biện tiếp tục.
— Báu vật quý nhất mà chúng ta cần phải giữ gìn là các tình báo viên. Khi biết người ta muốn giữ ngài lại như một sĩ quan chuyên nghiệp tôi đâm hoảng. Bởi rõ ràng như ban ngày là người Mỹ muốn sử dụng một người quen thung thổ nước Nga. Tôi bèn quyết định bằng bất cứ giá nao cũng, phải tìm cách đưa ngài về đây, tới cái trường «Những hiệp sĩ của thánh linh» này, nơi tôi đang là tư lệnh trưởng. Rồi tôi sẽ nói rõ nội dung, cái trường này với ngài sau. Nhưng đằng nào rồi ngài cũng phải làm quen với nó thôi mà. Tôi muốn đào tạo những tình báo viên tương lai cho Tổ quốc Đức. Và kế hoạch của tôi hoàn toàn được các lãnh đạo cao cấp của ngành này (dù họ đang sống lưu vong ở các nước khác) triệt để ủng hộ. Sự có mặt cửa ngài ở đây rất có lợi... Còn về việc ngài đã chết đối với những người thân thích trong đó có vợ chưa cưới của ngài, cũng nhằm phục vụ cho lợi ích chung mà thôi. Quá khứ đã chết trong một thành phố Áo nhỏ bé. Còn ở đây, trên đất Tây Ban Nha này cuộc sống mới đã sinh ra ngài trong thành phố mang tên Phi-gie-ra. Ngài hiểu rõ rồi chứ, Hen-rich, phôn Gôn-rinh, cựu sĩ quan của quân đội Đức ?
— Vâng! Hiểu tất! Và xin cảm ơn lòng chân thành của ngài.
— Hôm nay thế là tạm đủ. Chúng ta hãy nghỉ ngơi thôi. Còn những việc cần thiết khác rồi chúng ta sẽ tiến hành sau. Ngài hãy chịu khó uống thuốc cho sức khỏe mau bình phục sớm hao nhiêu tốt bấy nhiêu. Và tôi xin mách để ngài nhớ rằng ngài còn phải ra mắt với người đỡ đầu của trường này là đôn-phơ Ac-nét Mê-nen-đô nữa đấy !
— Vị đỡ đầu à! Người đó như thế nào ?
Ngài Phret! Không nhiều quá về một buổi tối trò chuyện rồi sao? Rồi tôi sẽ nói sau. Tuy vậy tôi muốn lưu ý ngài nếu nàng biết ngài là người theo giáo hội chính thống thì chẳng tốt đẹp hay ho gì đâu.
Bà ta theo phái cựu giáo La Mã à ?
— Đúng, và rất căm thù những gì không liên quan đến Thiên chúa giáo. Đứa con gái của bà ta cũng được giáo dục như thế.
— Nếu cần tôi sẽ tự giới thiệu như một người theo đạo Hồi. Và đạo Khổng. Cũng không phải là nhà tiên tri mà đoán được.
— Ồ, có lẽ... thôi chúc ngài ngon giấc !
Nhưng đêm đó cũng chẳng ngon giấc chút nào đối với người thanh niên 24 tuổi đời mà trước đây đã từng là Gri-gô-ri Gôn-sa-ren-cô, là thiếu úy Cô-ma-rốp và là Hen-rích phôn Gôn-rinh, còn từ nay lại trở thành Phret Sun.
Những ý nghĩ được sinh ra bởi tình thế mới cứ vây quanh và không để cho anh ngủ.
Điều làm anh lo âu là không một ai biết anh rơi vào đâu, không một người thân thiết nào có thể giúp đỡ được anh.
— Mình trơ trọi giữa bầy lang sói — Anh chợt nghĩ.
Gần năm giờ sáng giấc ngủ chập chờn mới đến với anh.