Các cựu quân nhân đang cải tiến máy bay không người lái tại đây, Tần Thời Âu dẫn theo đám ngư dân chuẩn bị bắt tay vào việc.
Kế hoạch của một năm nằm ở mùa xuân. Nuôi cá mở ngư trường cũng giống như cày cấy mở nông trại, mùa xuân là thời điểm vàng, rất nhiều giống cá được thả xuống ngư trường để bắt đầu nuôi vào lúc này.
Tuy nhiên, tài nguyên ngư nghiệp của ngư trường Đại Tần đã đủ phong phú, không cần phải thả cá giống nhân tạo nữa, việc cần làm là thả giống sò, nuôi trồng động vật có vỏ.
Ngư trường đã có sẵn một vài loại động vật có vỏ, bao gồm sò điệp các loại, nhưng số lượng chưa đủ nhiều, sản lượng không theo kịp nhu cầu thị trường. Tần Thời Âu buộc phải mở rộng quy mô nuôi trồng. Anh không cần mua giống từ bên ngoài, vì từ năm ngoái ngư trường đã bắt đầu nuôi một số loại sò, tất cả đều đã trưởng thành thành sò mẹ khỏe mạnh.
Loại sò được nuôi nhiều nhất ở ngư trường là sò điệp vịnh Đại Tây Dương, tỉ lệ chế biến sử dụng của nó rất cao, gần như toàn thân đều là bảo vật.
Cơ khép vỏ của sò điệp vịnh có thể chế biến thành cồi sò tươi đông lạnh, đồ hộp; màng áo có thể chế biến thành viền sò, vừa có thể ăn được vừa có thể làm mồi tươi cho cá tôm. Hai mảnh vỏ vừa có thể làm giá thể nuôi cấy giống sò, vừa là nguyên liệu không thể thiếu của ngành điêu khắc vỏ sò, là lựa chọn hàng đầu để nuôi sò điệp của các nước ven bờ Đại Tây Dương.
Hơn nữa, tuy sò điệp vịnh thuộc giống loài ưa nước ấm, nhưng phạm vi nhiệt độ thích ứng rất rộng, giới hạn chịu nhiệt thấp nhất là -1 độ C, cao nhất là 34 độ C. Dưới 5 độ C mới ngừng phát triển, nên dù là ở ngư trường Bắc Đại Tây Dương thì vẫn có thể nuôi được.
Tác dụng của tàu Phong Thu bắt đầu được thể hiện. Buổi sáng, Tần Thời Âu dẫn theo Sa Khắc, Công Ngưu cùng năm tay lão luyện khác, phối hợp với năm người mới gồm Cảnh Tuấn Kiệt, một nhóm mười mấy người chuẩn bị ra khơi.
Trên bãi biển, Hải Quái dẫn theo số ngư dân còn lại cũng đang bận rộn, mục đích của hai bên đều giống nhau, đó là đánh bắt số sò đã nuôi từ năm ngoái.
Đánh bắt động vật có vỏ có hai cách, một là đánh bắt thủ công, hai là đánh bắt cơ giới. Đánh bắt cơ giới rất đơn giản, chỉ cần đưa máy thu hoạch sò xuống đáy biển, để nó làm việc rồi thu gom sò là được.
Máy thu hoạch sò mà ngư trường Đại Tần sử dụng là loại máy thu hoạch sò SP-12 do Công ty Ngư nghiệp Siemens sản xuất, rất thích hợp để đánh bắt sò điệp vịnh Đại Tây Dương, mỗi giờ có thể thu hoạch từ 500-800 kg, tỉ lệ hư hại không vượt quá 3-5%.
Ngoài ra còn có phương thức kéo lưới bằng chân vịt, vì rất nhiều sò điệp ẩn nấp trong bùn cát, dùng chân vịt khuấy động bùn cát lên, xung quanh có lưới đánh cá đi theo. Dưới đáy biển, lũ sò cùng bùn cát nổi lơ lửng lên, cuối cùng sẽ rơi vào trong những tấm lưới này.
Thú vị nhất chính là đánh bắt thủ công, phương pháp này lại chia làm bốn cách, Hải Quái đang giảng giải cho năm anh lính mới làm ngư dân còn lại nghe.
Tần Thời Âu vốn định lên tàu ra khơi, nhưng Hải Quái nói họ không đủ người, thế là anh đành cùng hai lão ngư dân ở lại, cùng giúp đỡ thu hoạch sò thủ công.
Thu hoạch sò thủ công và cơ giới đều có địa điểm áp dụng riêng, bãi biển sau khi thủy triều rút không còn nước rất thích hợp để thu hoạch thủ công, đó là lý do tại sao Hải Quái cần nhiều người tay đến vậy.
Mùa xuân là mùa nước biển biến động dữ dội nhất. Sáng sớm sau khi thủy triều rút khỏi bãi, đáy biển lộ ra, từng mảng lớn tảo biển, rong biển và cỏ nước hiện ra, dưới ánh mặt trời chiếu rọi tỏa ra ánh xanh mướt, trông còn mang đậm sắc xuân hơn cả trên đất liền.
Nhìn cánh đồng mục súc dưới đáy biển rộng lớn, Hải Quái thở dài một tiếng, nói: "Thật sự là có lợi có hại, có mấy thứ này che phủ, việc thu gom sò mẹ sẽ tốn sức hơn nhiều."
Sò điệp vịnh là loài lưỡng tính, chúng tự hoàn thành nhiệm vụ duy trì nòi giống, cho nên tất cả sò điệp thu hoạch được đều có thể dùng làm sò mẹ. Chỉ là, sò điệp là động vật ăn lọc, chúng có khả năng lựa chọn kích thước thức ăn nhưng không có khả năng lựa chọn chủng loại.
Thức ăn chính của chúng là vụn hữu cơ, các hạt li ti lơ lửng trong nước biển và sinh vật phù du. Như tảo silic, tảo hai roi, giáp xác chân chèo... kế đến là bào tử tảo, vi khuẩn, v.v.
Vì khả năng vận động của bản thân chúng kém, nên chúng sẽ chậm rãi di chuyển tới nơi có môi trường thành phần thức ăn phù hợp nhất, mà nơi nào có nhiều thức ăn cho chúng nhất? Chính là trong cánh đồng mục súc dưới đáy biển.
Vì vậy, hầu hết sò điệp đều tập trung trong hoặc gần đám tảo biển và cỏ nước. Như vậy, muốn đào sò thì phải vượt qua đám tảo biển cỏ nước này, làm tăng thêm gánh nặng công việc.
Ngoài ra, trong bốn cách thu hoạch sò thủ công, cách thứ nhất cũng là cách đơn giản nhất, đó là dùng hai chân không ngừng giậm lên mặt bãi, lợi dụng cảm giác từ lòng bàn chân để tìm thấy sò rồi đào lên.
Như vậy có tảo biển và cỏ nước, cảm giác dưới lòng bàn chân con người khó tránh khỏi sai sót, một số con sò ẩn sâu hoặc kích thước nhỏ sẽ không thể phát hiện ra.
Những ngư dân dày dạn kinh nghiệm thì khá hơn, bản lĩnh cao, kinh nghiệm đầy mình, đi cẩn thận qua là có thể cảm nhận được sự tồn tại của sò. Những người mới thì không được, họ đi theo các lão ngư vừa giậm vừa lùi, ngoại trừ những con đặc biệt dễ thấy, hầu như họ chẳng cảm nhận được gì.
Nhưng mấy anh lính cũng rất nỗ lực, lần lượt cởi giày đi chân trần trên bãi biển, như vậy cảm giác nhạy bén hơn, mới ít bỏ sót sò điệp.
Tần Thời Âu cũng chẳng cảm nhận được sò điệp, dù sao ở đây không có nước, ý thức Hải Thần không phát huy được tác dụng, thế là anh bắt chước cởi giày, nhưng sau đó cảm thấy mẹ kiếp lạnh thật đấy, dứt khoát xỏ giày vào lại, anh mới không chịu cái tội này.
Hải Quái cười ha hả, nói: "Đi qua cánh đồng mục súc dưới đáy biển này, phía trước không còn cỏ nước nữa, chúng ta có thể dùng phương pháp khác để thu gom sò, khi đó sẽ đơn giản hơn."
Đến nơi không còn tảo biển cỏ nước, Hải Quái và những người khác mang xẻng sắt, bừa sắt đã chuẩn bị sẵn đến, cắm vào mặt bãi độ sâu khoảng hai mươi phân, sau đó kéo bừa sắt lùi về phía sau theo hướng nghiêng, như vậy khi va phải sò điệp, chúng sẽ bị lật lên.
Một đám ngư dân hô vang hiệu lệnh kéo những chiếc bừa sắt dài, giống như đang cày ruộng vậy, sò điệp không ngừng bị lật lên. Tần Thời Âu cầm trong tay chiếc kẹp dài, chỉ cần bóp nhẹ cán là có thể nhặt được một con sò.
Công việc này rất mệt, dù sao những mãnh nhân có thể một tay nhổ bật cây dương liễu như Lỗ Trí Thâm thì vẫn rất hiếm. Ngư dân làm được một lúc là mồ hôi đầm đìa, hai tốp người phải thay phiên nhau làm.
Làm loại việc này thì phải xem Iverson, một mình anh ta có thể địch lại bốn năm người, đổi mấy tốp người rồi mà anh ta vẫn chưa xuống nghỉ ngơi. Trong túi nhét đầy bánh gato nhỏ, bánh quy các loại, vừa kéo vừa nhét vào miệng.
Tần Thời Âu nhìn một lúc rồi ngẩn người ra, hỏi: "Nếu chúng ta dùng xe bãi biển để kéo cày thì các cậu thấy thế nào?"
Hải Quái lắc đầu nói: "Không được đâu, lực kéo của xe bãi biển không đều, hơn nữa trên bãi cát này không biết chừng chỗ nào có hố bùn, bánh xe bãi biển mà sa lầy xuống thì phiền phức lắm."
Ngư dân thay phiên nhau kéo cày, tốc độ cũng rất nhanh, Tần Thời Âu dẫn người rất nhanh đã thu gom được từng đống từng đống sò điệp.
Đánh bắt động vật có vỏ còn có hai phương pháp thông thường khác, một là lợi dụng tập tính thích bám cọc của chúng, ở khu vực nuôi trồng cứ cách một khoảng cách lại đóng một chiếc cọc gỗ, sau một khoảng thời gian, lũ sò điệp này sẽ tập trung trong phạm vi khoảng một mét xung quanh cọc gỗ, đến lúc đó chỉ cần thu gom quanh cọc gỗ là được.
Nhưng cách này chỉ áp dụng cho quy mô nuôi trồng thông thường và nhỏ, quy mô quá lớn thì toàn bộ ngư trường phải đóng quá nhiều cọc gỗ, sau này đánh cá sẽ không thể thả lưới được nữa.
Ngư trường chưa từng đóng cọc bao giờ, cho nên phương pháp này không dùng được.
Phương pháp cuối cùng là câu sò điệp, cách này thích hợp để giải trí và đánh bắt số lượng nhỏ. (Còn tiếp.)