Chủ đề nhanh chóng chuyển sang thời niên thiếu của Tần Thời Âu và Tần Bằng. Bạn cũ tụ họp thì cũng chỉ có thể ôn lại chuyện xưa, nếu muốn bàn về kinh tế hay chính trị thời sự thì quá ít chủ đề chung, quan điểm của đối phương cũng khó mà thấu hiểu được.
Màn đêm buông xuống, những món ăn nóng hổi được bày lên bàn, bữa cơm tối bắt đầu.
Tần Thời Âu nhìn bàn ăn đầy ắp những món ngon vật lạ, cười nói: "Chú à, chú thật sự quá nhọc công rồi, những món ngon thế này tốn không ít tiền đâu nhỉ? Cháu thấy ngại quá."
Vì vấn đề vai vế, Tần Thời Âu rất khó xưng hô với người nhà Tần Bằng. Tính theo vai vế trong tộc trong làng, Tần Thời Âu phải gọi cha của Tần Bằng là anh, mà Tần Bằng lại phải gọi cậu là chú, như vậy thế hệ trẻ rất khó xưng hô.
Tình trạng này khá phổ biến ở nông thôn, người trẻ thường xưng hô theo tuổi tác. Bình thường Tần Thời Âu vẫn gọi cha Tần Bằng là chú, còn cậu và Tần Bằng thì xưng hô kiểu anh em bạn bè. Thế nhưng các bậc trưởng bối vẫn xưng hô theo vai vế, cha Tần Bằng gọi cha Tần Thời Âu vẫn là chú.
Cho nên, Winnie thông minh là thế mà nhanh chóng bị loạn hết cả lên về xưng hô. Cha Tần Bằng bảo Nghiêm Lợi Lợi "sao còn chưa rót nước cho thím", rồi quay sang Tần Bằng lại gọi cô là chị dâu, tiếp đó mẹ Tần Bằng lại trêu chọc bé Tiểu Lan Lan bảo gọi cô là dì. Cứ thế này thì Winnie đành chịu thua, trên bàn cơm cô không nói câu nào, chỉ mỉm cười, sợ gọi nhầm người.
Cuối cùng khi ăn xong, cha Tần Bằng lén đánh giá: "Tiểu Âu này, vợ cháu cái gì cũng tốt, chỉ là quá nhát, có phải do chúng ta không quen thân nên thế không? Sao con bé chẳng nói câu nào vậy?"
Tần Thời Âu cười ha ha: "Không còn cách nào khác đâu chú, vợ cháu vốn tính hay ngượng, không được tự nhiên như Lợi Lợi đâu."
Winnie bên cạnh mỉm cười theo, nhưng trong lòng đang chửi thầm Tần Thời Âu. Đêm nay, ông chồng ngốc nghếch này của cô là kẻ xem trò vui hăng hái nhất. Cô đã hỏi mấy lần về vấn đề xưng hô nhưng Tần Thời Âu không hề giải thích, khiến cô tức đến ngứa cả răng.
Ăn no uống đủ rồi về nhà, nghỉ ngơi một đêm. Sáng hôm sau, Tần Thời Âu đi nhờ xe bán tải của Tần Bằng đến khảo sát một hồ chứa nước mà chị Tần đã nhắm trước. Đây là chuyện quan trọng nhất trong chuyến trở về lần này của cậu, tìm cho cha mẹ một công việc phù hợp, vừa tay để giết thời gian, đồng thời cung cấp hải sản cho khách sạn.
Quê hương Tần Bằng có thể coi là vùng bán sơn địa. Nhưng ngược dòng thời gian một trăm năm trước, nhiều nơi vẫn còn là hồ nước, sau này do hạn hán liên miên cộng thêm phong trào lấp hồ lấn biển sau khi lập quốc, mới có những thị trấn, thôn làng như hiện nay.
Nếu đẩy ngược thời gian thêm một ngàn năm nữa, thì địa bàn của hơn mười thị trấn xung quanh này, hầu như đều nằm trong vùng sông nước mênh mông, dù sao đây cũng là địa điểm trung chuyển quan trọng của kênh đào Kinh Hàng, khi mà vị thế của con kênh này vẫn còn cao trong thời cổ đại. Những "lão trại" tiền thân của các thị trấn này đều rất giàu có.
Khi nói đến chủ đề này, Tần Bằng đang lái xe liền bật cười, nói: "Chính phủ thật thú vị, bắt nông dân giải phóng khỏi ruộng đất rồi lại đi chịu sự áp bức của hồ chứa nước, vòng vo mãi chẳng phải vẫn là người dân chịu khổ sao? Ở đâu mà chẳng là bị áp bức, đúng không?"
Tần Thời Âu nói: "Không thể nói như vậy được, nếu anh có kỹ thuật và thị trường, thì làm một cái hồ chứa nước thực sự rất ổn."
Tần Bằng bĩu môi, không phục đáp: "Nếu có kỹ thuật có thị trường thì làm gì chẳng khá? Tôi sửa xe bây giờ làm cũng rất tốt đấy thôi."
Hai người vừa đi vừa nói đùa, chị Tần lái chiếc Audi A6 đi trước dẫn đường. Đến trước một hồ chứa lớn ở thị trấn lân cận thì dừng lại. Sau đó chị dẫn Tần Thời Âu lên đập hồ, bảo cậu xem thử.
Không cần chị giới thiệu, Tần Thời Âu đã rất quen thuộc với hồ chứa nước này. Trước khi học cấp ba, cậu thường xuyên đến hồ này câu cá, mùa hè lũ trẻ trong làng hay bạn học trong lớp còn rủ nhau đến đây đánh thủy chiến.
Hồ này tên là hồ chứa nước Tiểu Dũng Trang. Thị trấn nơi nó tọa lạc cũng gọi là thị trấn Tiểu Dũng Trang. Diện tích hồ tổng cộng hơn năm ngàn tám trăm mẫu, quy đổi ra gần bốn km vuông. Hồ có một con đập lõi đất sét bọc cát, chiều dài một km rưỡi, ba mặt còn lại là ruộng hoa màu, xa hơn nữa là những ngôi làng nằm san sát trật tự.
Đứng trên đập nhìn ra xung quanh, lúc này đang là buổi sớm mai. Hôm nay trời hơi âm u, không thấy mặt trời, nhưng mây mù cũng không nhiều, cho nên nhìn lên mặt hồ như có từng lớp hơi nước bay lượn, từng đàn chim nước kêu vang bay qua, mang lại cho hồ chứa một chút sức sống.
Tần Thời Âu nhớ hồi nhỏ đến hồ, luôn thấy hồ này rất mênh mông, bờ hồ trải dài sang hai bên, dường như không thấy điểm cuối. Mặt nước cũng luôn có sóng to gió lớn, mùa hè chẳng bao giờ lặng gió êm sóng, cậu và đám bạn không ai dám xuống nước.
Thế mà bây giờ nhìn lại, hóa ra hồ chứa này nhỏ đến thế, nhỏ không bằng một góc của hồ Trầm Bảo. Sóng gió ở đây cũng thật dịu dàng, Đại Tần Ngư Trường ngay cả những lúc yên ả nhất, sóng vỗ cũng lớn hơn nơi này.
Tần Bằng bước lên phía sau, tay vung cành liễu nói: "So với chỗ cậu thì đây đúng là quy mô nhỏ, phải không?"
Tần Thời Âu lắc đầu, thâm tình nói: "Không giống, trong lòng tôi, hồ chứa này mãi mãi là đại dương lớn nhất thế giới, nơi đây mãi mãi có những cơn sóng dữ khiến tôi sợ hãi nhất thế giới..."
"Nói tiếng người đi ông bạn."
"Ông nói đúng đấy, mẹ nó chứ, hóa ra hồ này nhỏ thế, uổng công hồi cấp hai tôi sợ không dám đến hồ chơi, còn ai bảo hồ này có thủy quỷ, thủy hầu tử nữa chứ? Làm tôi sợ đến mức thời gian dài không dám đến đây tắm." Tần Thời Âu nói đến chuyện này mà trong lòng đầy cảm thán.
Vì có nhiều hồ chứa, nên các truyền thuyết địa phương về thủy quỷ, thủy hầu tử cũng rất nhiều, phổ biến nhất là chuyện thủy hầu tử biến thành một cái cân nổi trên mặt nước ven hồ, dụ dỗ người đi đường về muộn xuống vớt. Chỉ cần có người đến gần, cái cân dưới nước sẽ trôi dần ra phía giữa hồ, cứ như thế ngày càng xa bờ, người kia sẽ bị chết đuối.
Lời đồn kiểu này từng lưu truyền rộng rãi ở địa phương, Tần Thời Âu bây giờ nghĩ lại mà thấy cạn lời, mẹ kiếp, cái cân thời đó đâu phải cân điện tử, mà cho dù là cân điện tử thì cũng chẳng thể nổi lềnh bềnh trên mặt hồ được chứ.
Nhưng đó chính là trí tuệ dân gian, lúc bấy giờ người ta lại tin sái cổ, còn Tần Thời Âu thì đúng là sợ thật.
Đứng trên đê đập, Tần Thời Âu phóng thích ý thức Hải Thần vào trong hồ chứa, hai đạo ý thức Hải Thần tách sang trái phải dọc theo bờ hồ tuần tra, sáu đạo còn lại thì tỏa ra thành hình nan quạt, tình hình dưới đáy hồ lập tức hiện rõ trong tầm mắt cậu.
Hồ chứa nước này nhìn từ trên mặt nước thì khá ổn, mênh mông bát ngát, nước hồ trong vắt, thế nhưng nhìn từ dưới nước thì tình hình chẳng khả quan chút nào. Dưới đáy hồ có rất nhiều rác thải, mảnh chai vỡ, gạch đá, túi rác vùi sâu trong bùn hồ, cửa nát nhà tan, thậm chí cả bè gỗ nhỏ bị hỏng, đúng là thứ gì cũng có, chỉ riêng là chẳng thấy mấy đàn cá hay rong cỏ.
Trong hồ không phải là không có cá, nhưng số lượng quá ít, chủ yếu là cá chép, cá diếc, cá trắm cỏ, cá mè trắng, cá mè hoa các loại, chẳng có giống cá nào quý hiếm. Tám đạo ý thức Hải Thần lang thang hồi lâu, cậu ước chừng số cá tôm tìm thấy còn chưa tới một ngàn con, càng không thấy đàn cá nào tụ hội, hồ chứa này tồn tại thật là quá thất bại. (Còn tiếp.)