Vì kiệt sức sau trận chiến kéo dài, tất cả chúng tôi đều ngủ li bì suốt phần còn lại của buổi chiều và kéo dài thêm hai, ba tiếng nữa khi đêm xuống. Sau đó, chúng tôi thức dậy, cảm thấy khoan khoái và dùng bữa tối. Về phần tôi, tôi sẵn lòng để câu chuyện về bóng ma trôi vào quên lãng; và chắc hẳn những người khác cũng chung suy nghĩ ấy, bởi họ cứ hăng say bàn luận về trận chiến mà chẳng hề đả động đến điều kia. Quả thực, nghe gã Paladin thuật lại những chiến công của mình, thấy gã chất đống xác kẻ thù—mười lăm ở đây, mười tám ở kia, và ba mươi lăm ở chỗ nọ—thì cũng hào hứng thật đấy; nhưng điều đó chỉ trì hoãn sự phiền toái mà thôi; nó chẳng giải quyết được gì hơn. Gã không thể kể mãi được; khi gã đã đánh chiếm xong pháo đài và "ngốn" sạch đám quân thủ thành, thì chẳng còn cách nào khác là phải dừng lại, trừ phi Catherine Boucher tạo cho gã một khởi đầu mới để kể lại toàn bộ từ đầu—lần này chúng tôi đã hy vọng cô ấy sẽ làm thế—nhưng cô ấy lại không có ý đó. Ngay khi thấy có cơ hội thuận tiện, cô ấy liền khơi lại chủ đề chẳng mấy dễ chịu kia, và chúng tôi đành phải đối mặt với nó hết sức có thể.
Đúng mười một giờ đêm, chúng tôi theo cô ấy và cha mẹ đến căn phòng bị ám, tay cầm nến cùng những ngọn đuốc để cắm vào giá trên tường. Đó là một ngôi nhà lớn với những bức tường cực kỳ dày, còn căn phòng này lại nằm ở một góc hẻo lánh, nơi đã bị bỏ hoang từ bao năm nay mà chẳng ai rõ là bao lâu, chỉ vì những lời đồn thổi ma quái về nó.
Đây là một căn phòng rộng lớn, trông giống như một phòng khách, bên trong có một chiếc bàn lớn làm bằng gỗ sồi bền chắc và vẫn còn khá nguyên vẹn; thế nhưng những chiếc ghế thì đã bị mối mọt ăn rỗng, còn tấm thảm treo tường thì đã mục nát và ố màu vì thời gian. Những mạng nhện bám đầy bụi dưới trần nhà trông như thể đã cả thế kỷ chẳng có ai đụng đến.
Catherine lên tiếng:
"Truyền thuyết kể rằng những bóng ma này chưa bao giờ hiện hình—người ta chỉ nghe thấy tiếng chúng mà thôi. Rõ ràng là căn phòng này trước đây lớn hơn bây giờ, và bức tường ở phía cuối này được xây lên vào một thời điểm nào đó trong quá khứ để ngăn ra một căn phòng hẹp ở bên kia. Không có lối thông nào dẫn vào căn phòng hẹp đó, và nếu nó thực sự tồn tại—mà chẳng có lý do gì để nghi ngờ điều đó cả—thì ở đó hoàn toàn không có ánh sáng hay không khí, mà chỉ là một hầm ngục biệt lập. Hãy cứ đứng đây và để ý xem điều gì sẽ xảy ra."
Chỉ có thế thôi. Sau đó, cô ấy và cha mẹ rời đi. Khi tiếng bước chân của họ xa dần rồi mất hẳn trong những hành lang đá vắng lặng, một sự im lặng và nghiêm trang kỳ quái ập đến, đối với tôi còn thảm hại hơn cả cuộc diễu hành câm lặng qua những pháo đài lúc nãy. Chúng tôi ngồi nhìn nhau trân trối, và dễ dàng nhận thấy chẳng ai trong số chúng tôi cảm thấy thoải mái cả. Chúng tôi càng ngồi lâu, cái sự tĩnh mịch ấy càng trở nên chết chóc; và khi cơn gió bắt đầu rên rỉ quanh ngôi nhà, tôi cảm thấy phát ốm và khổ sở. Tôi ước mình đủ can đảm để lần này có thể hèn nhát một chút, bởi quả thực, việc sợ ma chẳng có gì đáng xấu hổ cả, nhất là khi thấy những người đang sống bất lực thế nào trước tay chúng. Và rồi, những bóng ma này lại là những thực thể vô hình, điều đó khiến mọi chuyện càng tồi tệ hơn, theo suy nghĩ của tôi. Chúng có thể đang ở trong phòng cùng với chúng tôi ngay lúc này—chúng tôi đâu có biết được. Tôi cảm thấy những luồng khí lạnh lướt qua vai và tóc mình, tôi rụt người lại, co rúm vì sợ hãi, và chẳng hề xấu hổ khi bộc lộ nỗi sợ đó, vì tôi thấy những người khác cũng đang làm như vậy, và tôi biết họ cũng đang cảm nhận được những cái chạm khẽ khàng kia. Cứ thế—ôi, thời gian trôi qua thật lê thê, tưởng chừng như đã trôi qua cả vạn năm—tất cả những gương mặt đó đều trở nên đờ đẫn như sáp, và tôi ngỡ như mình đang ngồi giữa một hội đồng của những người đã chết.
Cuối cùng, âm thanh "bùm!—bùm!—bùm!" yếu ớt, xa xăm, kỳ quái và chậm rãi vang lên—tiếng chuông từ xa báo hiệu nửa đêm. Khi hồi chuông cuối cùng dứt hẳn, sự im lặng đầy áp lực ấy lại kéo đến, và như trước đó, tôi lại trân trân nhìn những khuôn mặt đờ đẫn kia, một lần nữa cảm nhận những cái chạm vô hình lướt trên tóc và vai mình.
Một phút—hai phút—tới ba phút trôi qua như thế, rồi chúng tôi nghe thấy một tiếng rên rỉ dài và sâu, khiến tất cả mọi người đều bật dậy đứng tại chỗ, chân run lên cầm cập. Tiếng đó phát ra từ căn hầm ngục nhỏ kia. Có một khoảng lặng, rồi chúng tôi nghe thấy tiếng thổn thức nghẹn ngào, lẫn với những lời than van đầy bi thương. Sau đó là một giọng nói thứ hai, nhỏ và không rõ ràng, như đang cố an ủi giọng nói thứ nhất; và cứ thế, hai giọng nói tiếp tục vang lên, kèm theo những tiếng rên rỉ, những tiếng thổn thức khẽ khàng, ôi, những âm thanh ấy sao mà chan chứa lòng trắc ẩn, nỗi đau buồn và tuyệt vọng đến thế! Thật sự, nghe thấy nó khiến người ta phải đau lòng.
Nhưng những âm thanh ấy lại quá đỗi chân thực, quá đỗi con người và đầy cảm xúc, đến nỗi ý nghĩ về ma quỷ lập tức tan biến khỏi tâm trí chúng tôi. Ngài Jean de Metz lên tiếng:
"Nào! Chúng ta sẽ đập tan bức tường đó và giải thoát cho những tù nhân tội nghiệp kia. Đây, lấy cây rìu của cậu mau!"
Chú lùn lao tới, vung cây rìu lớn bằng cả hai tay, còn những người khác thì vội chạy đi lấy đuốc mang tới.
Bộp!—choang!—rầm!—xoảng! Những viên gạch cổ xưa vỡ vụn, và một lỗ thủng đủ lớn cho một con bò đi qua xuất hiện. Chúng tôi lao vào trong và giơ cao những ngọn đuốc.
Chẳng có gì ở đó cả, chỉ là một khoảng không! Trên sàn nhà nằm chỏng chơ một thanh kiếm rỉ sét và một chiếc quạt mục nát.
Giờ thì các bạn đã biết tất cả những gì tôi biết. Hãy cứ cầm lấy những di vật đáng thương ấy, và tự thêu dệt nên câu chuyện lãng mạn về những tù nhân đã biến mất từ lâu trong căn hầm ngục ấy, theo cách của các bạn đi.