Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6 Sau Cuộc Xâm Lăng Của Mông Cổ
Chương 6 Sau Cuộc Xâm Lăng Của Mông Cổ

❊ ❊ ❊

Trong các thế kỷ tiếp theo sau cuộc xâm lăng của người Mông Cổ và sự huỷ diệt của giáo quốc Hồi giáo, có ba trung tâm quyền lực chính nổi lên trong vùng Trung Đông: đó là Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập. Trung tâm thứ nhất do một dòng các Hãn vương Mông Cổ cai trị, lúc đầu họ không có tôn giáo nhưng về sau quy theo Hồi giáo, tuy vậy họ vẫn giữ được bản sắc Mông Cổ và các đặc điểm của truyền thống Mông cổ. Trung tâm thứ hai đặt dưới quyền quản lý của các vua chúa gốc Thổ theo Hồi giáo, đã từng thần phục người Mông Cổ và chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn hoá Mông Cổ ở Iran. Còn trung tâm thứ ba thì có các vua Mamluk đứng đầu, phần lớn họ là người gốc Thổ và đã đẩy lùi các cuộc xâm lăng của Mông Cổ nhưng ít nhiều vẫn chịu ảnh hưởng của những người làm chủ cả thế giới vào thời ấy. Hai Hãn quốc Mông cổ khác nằm ở ven rìa Trung Đông tại Nga và Trung Á cũng đóng một vai trò nào đó trong nền chính trị của thế giới Mông Cổ và cả nền chính trị ở Trung Đông sau khi cả hai quy theo Hồi giáo.

Trung tâm quyền lực quan trọng nhất là Iran. Sau khi chiếm được Baghdad, Hulegu rút lên miền Tây Bắc và từ đó trong khoảng 80 năm, ông và con cháu mình nắm quyền cai trị Iran và các nước lân cận. Các Hãn vương Mông cổ ở Iran được gọi là Il-Khan - Hãn vương địa phương - để nói lên sự thần phục của họ đối với các Đại Hãn đóng trên đất Mông Cổ mà họ công nhận bá quyền. Nhìn chung thì Iran được hoà bình và yên ổn dưới triều các Il-Khan, trước khi quy theo Hồi giáo, họ đã rất rộng lượng, không o ép bất kỳ một tôn giáo nào. Hoạt đông chính của các Il-Khan hướng ra bên ngoài là các cuộc chinh phục về phía Tây. Trong vùng Anatolia, họ đã chiến thắng các vua chúa Seljuk, nắm giữ một phần đất đai và chấp nhận sự phục tùng của các nhà cầm quyền ở đấy. Cuộc chiến chống các Vua Mamluk thì có phần ác liệt hơn. Năm 1259, từ Tabriz, Hulegu phát động một chiến dịch mới. Ông tiến quân qua Armenia và Thượng Lưỡng Hà và ngoặt xuống phía Nam vào Syria lấy được Aleppo và Damascus. Nhưng đến tháng Chín năm 1260, tại một địa điểm ở Palestine có tên là Ayn Jalut, “suối thần Goliath”, một đạo quân tiên phong Mông cổ bị quân Mamluk từ Ai Cập kéo sang đánh cho tan tác, quân Ai Cập này đặt dưới quyền chỉ huy của một viên tướng Thổ Kipchak có tên là Baybars. Thừa thắng, quân Ai Cập chiếm lại Syria ngay tức khắc mặc dù sau đó người Mông cổ nhiều lần tìm cách tái chiếm Syria nhưng họ luôn luôn bị người Mamluk đẩy lui.

Trong gian đoạn này, người ta chứng kiến nhiều cuộc vận động ngoại giao bất thành của người Mông cổ đến châu Âu Cơ Đốc với mục tiêu là lập hai chiến tuyến chống kẻ thù chung Hồi giáo. Trong lúc đó thì Baybars, đã lên ngôi vua Ai Cập, tìm cách phản công qua việc xây dựng một liên minh với Hãn vương Berke, một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn ở Nga đã quy theo Hồi giáo. Hãn quốc độc lập của Berke về sau mang tên Hãn quốc Bộ Lạc Vàng mà phần lớn dân chúng gốc người Thổ Kipchak.

Cuộc chiến tranh giữa Iran và Ai Cập còn kéo dài thêm vài thập kỷ, ngay cả sau khi Hãn vương Ghazan cũng quy theo đạo Hồi. Một hiệp định hoà bình được ký kết vào năm 1323. Lúc này Hãn quốc của các Il-Khan cũng chịu chung số phận bị chia cắt như dưới các triều đại trước. Sau khi Hãn vương Abu Said qua đời năm 1336 thì Iran lại bị chia thành nhiều tiểu quốc có các tiểu vương cai trị trong những khoảng thời gian ngắn. Timur, có biệt danh là Timur Lang (Người sắt Thọt Chân) và ở châu Âu gọi là Tamerlane trở thành vua một quốc gia Mông cổ ở vùng Trung Á. Sau khi đã làm chủ Transoxania và Khwarezm, ông đánh chiếm Iran năm 1380 rồi chinh phục được toàn bộ đất nước này sau 7 năm chiến đấu. Ông hai lần thắng được các Hãn vương Bộ Lạc Vàng, tiến quân vào Ấn Độ, chiếm Iraq tự tay các triều đại địa phương, xâm lấn Syria và bắt các vua Mamluk phai chịu thân phục. Năm 1394 và 1400, ông xâm chiếm Anatolia rồi năm 1402 chiến thắng quân Ottoman trong trận đánh ở Ankara, bắt sống hoàng đế Ottoman la Bayezid. Năm 1405, Timur Lang qua đời khi đang chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Trung Quốc.

Timur Lang sinh ra trong một bô lạc gốc Mông Cổ đã Thổ hoá và quy theo Hồi giáo. Xuất thân từ thành phần bình dân, ông có vợ là một quý tộc thuộc dòng Thành Cát Tư Hãn, vinh dự này là một niềm kiêu hãnh được khắc trên bia mộ ông ở Samarkand. Quân lính dưới quyền ông gồm cả người Mông Cô và người Thổ; người Mông cổ ở cấp chỉ huy còn người Thổ chiếm đa số trong binh sĩ. Khác với các vua Mông cổ trước đây, Timnr tỏ ra, hay làm ra vẻ, một người sùng đạo; mặc dù đi đến đâu tàn phá khủng khiếp đến đấy nhưng ông vẫn để ý tôn trọng các nơi hay những người phục vụ cho việc thờ cúng của đạo Hồi. Cuộc chinh phục của ông ít ra cũng gây ra nhiều tàn phá hơn dưới thời Hulegu và đây là những biến loạn cuối cùng mà các cuộc xâm lăng của người Altaic đem lại. Sau khi Timur chết đi, các cuộc di chuyển lớn của người dân thảo nguyên bắt đầu ở thế kỷ thứ X và đã làm thay đổi bộ mặt vùng Trung Đông có vẻ như đã ngừng hắn - mặc dù vẫn còn sự thâm nhập của các bộ lạc và quan trọng hơn cả là việc các dân du mục đã định cư ở Trung Đông bắt đầu hoà mình vào cơ cấu của đời sống và nền văn minh thành thị.

Timur là một nhà chinh phục lớn nhưng không phải là một người xây dựng lên một đế quốc. Sau khi ông qua đời, cả vùng đất đai rộng lớn của ông dần dần tan rã. Ở Anatolia và Syria, các vua chúa Ottoman và Mamluk ngóc đầu trở dậy. Trên miền Tây Iran, ở vùng Lưỡng Hà và Đông Anatolia, hai thị tộc người Turkoman gốc Thổ, người Ak Koynlu (Cừu Trắng) và Kara Koynlu (Cừu Đen) lên nắm quyền. Dòng dõi Timur chỉ còn ngự trị trên vùng Đông Iran và ở Transoxania. Các thủ đô của họ, Bukhara, Samarkand và nhất là Herat trở thành những trung tâm có nền văn minh cao. Triều đại Timur là giai đoạn lịch sử có những thành tựu rất to lớn trong nghệ thuật, kiến trúc, khoa học và trong các nền văn học tiếng Ba Tư và các thứ tiếng Thổ phương Đông. Đối với nền văn học Thổ, đây là giai đoạn cổ điển với các tác phẩm viết bằng tiếng Chagatai mà sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển văn hoá của tất cả các dân tộc nói tiếng Thổ từ Constantinople đến Viễn Đông và Ấn Độ.

Trong các nước nói tiếng A-rập, trọng tâm đã chuyển từ Iraq qua Ai Cập. Iraq đã bị tàn phá và yếu đi. Nó không còn có thể trở thành căn cứ địa cho các lực lượng Hồi giáo chống lại quân Thập tự chinh vì nằm xa Địa Trung Hải, đường thâm nhập của quân xâm lược và của các thương nhân trong giai đoạn sau. Chỉ còn lại Ai Cập, nơi có con đường thông thương khác và cũng là nơi có thung lũng của một sông lớn chảy qua nên đòi hỏi phải có một chính quyền trung ương duy nhất. Ai Cập sẽ là căn cứ địa cho cuộc chiến tái chinh phục để đánh bật quân Thập tự chinh khỏi vùng Cận Đông, Ai Cập sẽ cung cấp đầy đủ lương thực để quân Mamluk có thể chống lại các Il-Khan và cứu phần lớn thế giới A-rập thoát khỏi cuộc chinh phục của người Mông cổ.

Vào giữa thế kỷ XIII, triều đại Ayyub do Saladin sáng lập đã mất hết quyền bính vào tay những người Mamluk gốc Thổ. Cuộc khủng hoảng cuối cùng của dòng Ayyub ở Ai Cập xảy ra năm 1250, khi nhà vua qua đời ngay trong lúc đang chiến đấu chống quân Thập tự chinh của vua Pháp, Louis IX. Trong cuộc khủng hoảng này, chính quyền và quân đội Hồi giáo còn đứng vững được là nhờ sự nhanh trí của một cung phi trong triều tên là Shajar al-Durr (dịch là Cây Ngọc); bà đã giấu kín cái chết của vua và cứ tiếp tục dùng tên vua ra mệnh lệnh cho đến khi hoàng tử Turan Shah kịp trở về từ Lưỡng Hà. Turan Shah nhanh chóng bao vây và đánh bại quân Thập tự, vua Louis chỉ cứu được mạng mình và một số quân tháp tùng bằng cách trả lại đất Damietta mà ông đã chiếm được cộng thêm một khoản tiền chuộc lớn. Quân Mamluk do Baybars chỉ huy lại nổi loạn và giết chết Turan Shah. Để duy trì bộ mặt bề ngoài hợp pháp của dòng Ayyub, Baybars tôn Shajar al-Durr lên ngôi. Các vương tước dòng Ayyub ở Syria không hài lòng về việc dòng họ mình bị lật đổ ở Ai Cập nên cấu kết lại với nhau đòi nữ vương phải thoái vị. Ngay cả giáo chủ ở Baghdad, mặc dù không dính dáng gì đến việc này cũng lên tiếng phản đối vì trên ngôi báu ở Ai Cập là một cung nữ cũ của mình mà ông đã gửi tặng vua Ai Cập. Giáo chủ ủng hộ các vương tước Ayyub và ra lệnh cho người Mamluk phải cho đăng quang một nhà vua mới. Theo một sử gia Ai Cập, ông đã viết cho họ: “Nếu trong số các ngươi không còn một người đàn ông nào để lựa làm vua thì hãy cho ta biết để ta cử đến một người.”[1]

Năm 1260, sau một giai đoạn rối loạn tiếp theo cái chết của vua Ayyub cuối cùng, tướng Mamluk là Baybars nổi tiếng nhờ chiến thắng chống quân Mông Cổ, tự mình lên ngôi vua. Cũng như Saladin, ông thống nhất hai nước Hồi giáo là Syria và Ai Cập vào một quốc gia duy nhất, lần này thì lâu dài hơn. Ông đánh thắng được quân thù của quốc gia ấy trên cả các mặt Đông và Tây rồi bắt đầu xây dựng một trật tự xã hội mới. Saladin đã tượng trưng cho việc giáo phái Sun-ni trở lại Ai Cập bằng cách chính thức phục tùng giáo chủ Ap-bát ở Baghdad. Còn Baybars thì đưa giáo chủ đến Cairo, ông cho mời một người cháu dòng Áp-bát thoát nạn Mông Cổ từ Baghdad đến rồi đưa lên ngôi, mở đầu cho một dòng các giao chủ “ma”. Chẳng mấy ai để ý đến các giáo chủ Cairo này và họ cũng chẳng có nhiều quyền hành gì, họ chẳng qua chỉ là những người ăn lương của triều đình để tiến hành một vài hoạt động có tính chất hình thức mỗi khi một vị tân vương lên ngôi. Chức vụ giáo chủ này chấm dứt năm 1517, khi người Thổ Ottoman đến xâm lược Ai Cập và lặng lẽ cho họ rút lui vào quên lãng.

Hệ thống Mamluk của Baybars và những người kế tục gần như có tính chất phong kiến và là một hình thức cải biên của hệ thống Seljuk mà triều đại Ayyub đã đưa vào Syria và Ai Cập. Nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống Mông cổ do những người nhập cư Mông Cổ đến kiếm việc làm ở Ai Cập mang đến. Ngay trên thành trì kiên cố của cuộc kháng chiến Hồi giáo này, uy tín của Mông cổ cũng rất cao, trong một thời gian, người Mamluk bắt chước vũ khí và chiến lược của Mông cổ, ngay cả cách phục sức và điệu bộ của họ nữa.

Sĩ quan quân đội Mamluk được cấp đất đai trong một thời gian ngắn hoặc cả đời. Họ thường không sống trên lãnh địa của mình mà cư trú tại Cairo hay tại thủ phủ của lãnh địa ấy. Họ quan tâm đến thu nhập nhiều hơn là quyền sở hữu đất. Hệ thống này không dẫn đến việc xây dựng nhiều lâu đài hay việc có mặt của các lãnh chúa đầy quyền lực như trong hệ thống phong kiến Tây phương. Cũng không có sự phục tùng nhiều cấp và ngay cả sự phân chia đất đai ở Ai Cập thành nhiều thái ấp cũng không thường trực vì thỉnh thoảng lại có việc phân chia lại.

Người Mamluk thường là nô lệ được mua về, đào tạo và giáo dục ở Ai Cập. Ban đầu họ chủ yếu là người Thổ Kipchak từ vùng Bắc Biển Đen, sau đây gồm cả quân lính Mông Cổ đào ngũ và các dân tộc khác, nhiều nhất là người vùng Circassia, thảng hoặc có người Hy Lạp, Kurd và cả người châu Âu. Nhưng tiếng Thổ hay tiếng Circassia là ngôn ngữ của giới lãnh đạo và nhiều người trong số họ, kế cả các vua Mamluk, không nói sõi tiếng A-rập. Quốc gia Mamluk do Baybars và những người kế tục thành lập dựa trên hai bộ máy hành chính dân sự và quân sự xây dựng rất công phu, cả hai do các sĩ quan quân đội điều khiển với sự trợ giúp của các phụ tá dân sự. Cho đến năm 1383, các vua Mamluk kế tiếp nhau theo một chế độ gần như cha truyền con nối. Về sau, dưới triều các vua gốc Circassia, ngôi báu do vị chỉ huy có thế lực nhất nắm giữ. Khi vua qua đời, thái tử chỉ lên ngôi một thời gian trong lúc triều đình dành thì giờ để chỉ định một vị vua mới.

Ngành thương mại với châu Âu và đặc biệt là ngành thương mại quá cảnh giữa châu Âu và phương Đông qua vùng Cận Đông giữ một vai trò quan trọng đối với Ai Cập vì đó là một nguồn thuế hải quan lớn. Khi có đầy đủ sức mạnh, chính quyền Mamluk bảo vệ và khuyến khích các trao đổi ấy vì chúng mang lại phồn vinh cho đất nước. Nhưng dù có được chiến thắng của Baybars, Ai Cập vẫn nơm nớp đề phòng các cuộc tấn công của Mông Cổ. Năm 1400-1401 đạo quân hỗn hợp Thổ-Mông cổ của Timur tàn phá Syria và cướp bóc Damascus. Sau khi họ rút đi thì lại xảy ra dịch bệnh, nạn châu chấu và nạn cướp phá của người Bedouin làm cho chính quyền Mamluk bị tổn thương nhiều trên mặt kinh tế và thế mạnh quân sự cũng giảm đi đến nỗi họ không bao giờ ngóc đầu lại được.

Trong thế kỷ XV, do có khó khăn về kinh tế và tài chính, nhà nước Mamluk đưa ra một chính sách thuế khóa mới nhằm thu nhiều lợi nhuận nhất trong thương mại quá cảnh. Chính phủ nắm độc quyền trên tất cả các mặt hàng chính trong nước và hàng quá cảnh. Giá cả vì thế tăng lên vùn vụt gây nên phản ứng gay gắt của người Âu châu với những hậu quả không lường trước được đối với nền kinh tế Ai Cập.

Dưới triều các vua dòng Seljuk ở Konya (còn có tên là Rum), vùng giữa và Đông Anatolia dần dần trở thành một nước Hồi giáo, một bộ phận cấu thành của nền văn minh Hồi giáo ở Trung và Cận Đông. Người dân các vùng biên giới và dân các bộ lạc quen sống độc lập nay đến định cư ở đây bị o ép bỏi chính quyền Seljuk tập trung và ngày càng phình ra, thái độ của họ đối với Hồi giáo bị theo dõi và kiểm soát bởi cả một đạo quân các nhà thần học giáo điều. Các viên chức, nhà văn, luật gia, thần học, thương gia, thợ thủ công kéo nhau đến định cư ở những vùng mới chiếm được mang theo cả một nền văn minh Hồi giáo cổ điển già cỗi, đã phát triển cao độ trong các thành phố thành thử cả nước rập khuôn trong một cuộc sống và một nền chính trị quy phạm của đạo Hồi.

Cơn choáng váng sau cuộc xâm lăng của Mông Cổ làm cho quốc gia Seljuk không bao giờ hồi phục được. Sau nửa thế kỷ kéo dài một cuộc sống mòn mỏi, quốc gia ấy cuối cùng biến mất trong thế kỷ XIV. Chính quyền trung ương bị tan rã và dân Thổ du mục ào ào kéo vào Anatolia vì bị quân Mông Cổ đuổi theo cho nên chiến tranh ở biên giới lại tái diễn. Vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV ở miền Tây Anatolia, những người nắm giữ quyền lực tồn giáo là các giáo sĩ khất thực [dervish], nắm giữ quyền lực chính trị và quân sự là chỉ huy các đạo quân biên phòng. Các cuộc lấn chiếm sang đất của đế quốc By-dăng thành công đặt chính quyền Thổ Hồi giáo lên toàn bộ miền Tây Anatolia.

Trong số các tiểu quốc tham gia vào cuộc chinh phục mới, có một nước nhỏ đang trở thành một đế quốc hùng mành và rộng lớn. Triều đại trị vì của nó mang tên vị thuỷ tổ của dòng họ là Osman, mà sự nghiệp, theo truyền thuyết, trải dài trong 25 năm đầu tiên của thế kỷ XIV. Để tưởng nhớ các thành công của người sáng lập ra dòng họ mà cả triều đại và đế quốc họ trị vì đều mang tên Ottoman. Vị trí của tiểu quốc này nằm gần biên giới vùng Bithynia của đế quốc By-dăng, ngay cạnh các tuyến phòng thủ của Constantinople làm cho nó có một sứ mệnh và nhiều khả năng lớn lao cho nên nó nhận được sự ủng hộ của rất nhiều địa phương khác. Osman và những người kế tục không ngừng gây hấn với người By-dăng trên biên giới. Năm 1326, họ chiếm được Brusa để làm thủ đô cho tiểu quốc của họ đang mở mang nhanh chóng. Năm 1354, quân Ottoman vượt eo biển Dardanelles tiến sang châu Âu và chỉ trong vài năm chiếm được Gallipoli rồi Adrianople, nơi đây trong gần một thế kỷ đã là căn cứ chính của họ ở châu Âu. Các trận thắng quân Xéc và quân Bun-ga-ri ở Maritza (1371) và Kosovo (1389) đã đặt phần lớn bán đảo Balkan dưới sự kiểm soát của người Ottoman, các nước lân cận còn lại phải chịu thần phục họ. Sau đấy là một loạt các chiến thắng chớp nhoáng ở Macedonia, Bun-ga-ri và Serbia. Trước mỗi chiến thắng ở châu Âu lại có một cuộc mở mang lãnh Thổ trên đất Anatolia bằng những phương pháp hoà bình, do đó hậu phương của người Ottoman càng được củng cố.

Người Ottoman đến châu Âu không phải chỉ nhờ chiến tranh. Khi họ vừa củng cố xong quyền lực thì chính phủ của thành phố Genoa đang có xung đột với đối thủ thương mại là thành phố Venise, đã tiếp cận với họ để yêu cầu giúp đỡ về quân sự đổi lấy một viện trợ tài chính, sử gia đương thời Kantakouzenos người By-dăng có viết: “Người Genoa… hứa sẽ trả những khoản tiền rất lớn và hành động tốt này sẽ mãi mãi ghi sâu trong tâm khảm của nhân dân và Viện Nguyên lão của Genoa”.[2] Năm 1352, với sự ký kết hiệp định thương mại đầu tiên giữa chính quyền Ottoman và thành phố Genoa, một lĩnh vực cơ bản trong quan hệ giữa châu Âu và Trung Đông đã được khẳng định.

Hoàng đế Ottoman thứ tư, Bayezid I (1389-1401) đã được thừa hưởng rất nhiều đất đai ở cả châu Âu và châu Á. Ông là một người có nhiều tham vọng muốn mang đến cho đất nước mình một phong cách mới. Hướng sự chú ý của mình về phương Đông, ông lần lượt đánh chiếm tất cả các tiểu vương quốc rồi trị vì trên khắp Anatolia. Các nhà lãnh đạo Ottoman đều dùng danh hiệu “Sultan” theo nghĩa chung chung, nhưng ngay từ đầu Bayezid đã cho nó một ý nghĩa đặc biệt bằng cách xin “giáo chủ” ở Cairo phong cho làm “Vương tước Sultan nước Rum”. Lấy lại danh hiệu cũ của các vương tước Seljuk ở Anatolia có nghĩa là muốn đòi lại vương quốc Hồi giáo trước đây ở Anatolia và có thể là muốn nhằm vào cả đế quốc Hồi giáo ở Trung Đông. Tham vọng của Bayezid lại càng được củng cố sau khi ông thắng một trận lớn năm 1396 ở Nicopolis chống lại đạo quân của các hiệp sĩ Tây Âu đến để giải phóng vùng Balkan. Nhưng ông đã gặp - mà có lẽ ông đã chủ động khiêu khích- một người đi chinh phục khác còn lớn hơn mình. Sau khi bị thua và bị Timur bắt làm tù binh trong trận đánh quyết định năm 1402 ở Ankara, Bayezid đã phải tự kết liễu đời mình trong tù. Đất đai của người Ottoman bị thu hẹp lại, chỉ còn những gì mà trước kia Bayezid thừa hưởng, hơn nữa lại trải qua một cuộc nội chiến hao người tốn của giữa những người con của ông và sau đó còn thêm một cuộc bạo loạn nguy hiểm có vẻ có nguồn gốc xã hội, do các tu sĩ dervish chủ mưu và lãnh đạo. Mãi đến năm 1413, cuộc nội chiến mới kết thúc khi Mehmed I dẹp tan được những người anh em mình nhưng trong vài năm sau đó Mehmed và người kế tục còn phải đương đầu với nhiều cuộc bạo loạn khác.

Nhiệm vụ chủ yếu của Hoàng đế Mehmed là phục hồi và củng cố nhà nước Ottoman, nhưng dưới triều người kế tục là Murad II (1421-1444 và 1446-1451) đã có những đổi thay quan trọng xảy ra. Đất nước được mở mang và quân Ottoman thắng nhiều trận lớn trước quân Hy Lạp, Xéc, Hung-ga-ri và Thập tự quân, cả ở Anatolia, phần lớn đất đai mà trước kia Bayezid chiếm đóng đã được thu hồi lại. Tiếp theo là một giai đoạn hoà bình thịnh vượng và các hoàng đế Ottoman xây dựng một triều chính Hồi giáo thật sự, khuyến khích và đỡ đầu các nhà thơ, nhà văn và các nhà bác học Hồi giáo. Điều đáng chú ý đặc biệt là trong giai đoạn này đã xuất hiện trong văn học một ý thức dân tộc Thổ, được Murad khích lệ và ngay chính hoàng đế cũng là một nhà thơ. Dưới triều Murad, người ta đã nghiên cứu lịch sử và các truyền thuyết của dân Oghuz để ghép vào lịch sử chính thức, lần đầu tiên có những bài viết nói lên sự gắn bó giữa hoàng gia Ottoman và những truyền thống và truyền thuyết của các bộ lạc Thổ, chứng minh họ là hậu duệ của các vua Oghuz. Các ý niệm mới về triều đình và triều đại được một loạt các tướng sĩ và triều thần trung thành với nhà vua xác nhận, họ là những người hiệu rõ và ủng hộ nguyên lý của một quốc gia Hồi giáo do một dòng họ trị vì và hoàn toàn tận tụy với gia tộc Ottoman.

Vào cuối thế kỷ XIV, sức mạnh của triều đình lại được tăng lên gấp bội nhờ việc đề ra, và sau năm 1430, việc thực hiện thường xuyên chính sách devshirme, chính sách đưa con cái những người Cơ Đốc giáo sung vào quân ngũ Ottoman hay phục vụ trong các cơ quan nhà nước. Hệ thống này được sử gia Ottoman của thế kỷ XVI là Sadeddin (còn có tên là Hoca Efendi) mô tả rõ ràng (qua bản dịch của William Seaman, sử gia người Anh thế kỷ XVII):[3]

Hoàng đế anh minh… họp bàn với các Thượng thư rồi ra lệnh, từ nay về sau hãy lựa trong số con cái của những người ngoại đạo, những thanh niên dũng cảm và chăm chỉ, có đủ năng lực phục vụ, để cho họ theo Hồi giáo, như vậy họ sẽ cao quý thêm, có cơ hội để thêm giàu có và ngoan đạo và cũng là cách để phá vỡ thành trì của bọn ngoại đạo. Để thi hành chỉ dụ này, hoàng đế sẽ giao nhiệm vụ cho nhiều quan chức đi tuyển mộ trong nhiều tỉnh khoảng một nghìn con cái người ngoại đạo rồi đưa chúng vào khuôn phép, đào tạo chúng như đào tạo quân lính phù trợ… nhờ đó chúng được tiếp xúc với người có đạo, tiếp tục phục vụ những người thờ Thượng đế Độc tôn, để ánh sáng của đạo Hồi chiếu vào tim chúng, rửa sạch các nhơ bẩn của một tôn giáo giả dối; chúng sẽ hướng về những nguyện vọng chính đáng, các mong muốn của chúng sẽ là thăng quan tiến chức; chúng sẽ tận tụy thi hành các trách nhiệm và nhiệm vụ của chúng. Ban đầu lương của chúng là một asper mỗi ngày, sau đây nếu có năng lực và công trạng thì sẽ tăng thêm. Chúng sẽ được gọi là quân yeni ceri (Janissary, Quân đội mới). Những người lính dũng cảm này tỏ ra rất thành thục trong chiến đấu và trên các bãi chiến trường, nhờ đó Đức Hoàng đế anh minh càng thêm nhiều tiếng tăm lừng lẫy. Cũng tương tự như vậy, nhờ công lao đóng góp mà những người này đạt đến những chức vụ cao cấp; thấy như vậy, nhiều phụ huynh một lòng một dạ muốn con cái mình cũng được như thế nên đã làm đơn xin gia nhập; do đó mà chỉ trong một thời gian ngắn có đến hàng nghìn kẻ ngoại đạo nhờ lòng tin Hồi giáo đã trở thành nổi tiếng.

Nhờ vậy mà năng lực của dân chúng theo Cơ Đốc giáo phối hợp với tinh thần của các chiến sĩ biên cương đã được huy động để phục vụ hoàng gia Ottoman, một giải pháp được tìm ra cho vấn đề nóng bỏng là làm sao có sự phối hợp nhịp nhàng giữa quân đội, vẫn còn giữ truyền thống của cuộc chiến đấu ngoài biên ải, và nhà nước, đang tiến triển theo hình thức Hồi giáo chính thống mặc dù đã qua nhiều điều chỉnh trên các mặt chính trị và tôn giáo dưới thời Seljuk và trong các giai đoạn kế tiếp.

Trong quốc gia Ottoman, tổ chức tôn giáo đã đạt đến giai đoạn trưởng thành va cuối cùng gắn chặt vào nhà nước Sun-ni. Bây giờ Hồi giáo đã có một cấu trúc có thể chế thật sự: một tổ chức có phân chia cấp bậc của những chuyên gia và cán bộ tôn giáo được đào tạo có quy củ, có thẩm quyền khu vực, có chức năng và nhiệm vụ được xác định rõ ràng, đặt dưới sự lãnh đạo của một quyền lực tôn giáo tối cao được công nhận là cấp tột đỉnh của luật pháp Hồi giáo. Các hoàng đế Ottoman đã làm một việc được xem là thử nghiệm độc nhất thật sự nghiêm túc trong một nước Hồi giáo có nền văn minh vật chất cao để đưa pháp luật Hồi giáo trở thành pháp luật của quốc gia. Họ trao cho các học giả, các luật gia một vị trí, một chức năng và một quyền lực mà trước đấy những người này chưa bao giờ có được.

Năm 1451, con trai của Murad là Mehmed II lên nối ngôi cha. Đất nước của vị tân hoàng đế này vẫn còn chia làm hai phần: Anatolia là một lãnh thổ của đạo Hồi kiểu cổ đã hoà mình và chịu sự uốn nắn của nền văn minh Hồi giáo Trung Đông, còn Rumelia - vùng lãnh thổ ở Âu châu - là nơi mới được chinh phục, nằm trên biên ải, còn thấm nhuần các tư tưởng và tục lệ của người lính biên cương cũng như lòng tin huyền bí đến từ nhiều hướng của các giáo sĩ dervish. Giữa hai vùng — giữa các thủ đô cũ và mới là Brusa và Adrianople - cần phải có một cây cầu nối. Ngày 29 tháng Năm năm 1453, hai năm sau khi tân hoàng đế đăng quang và chỉ 7 tuần sau cuộc hãm thành, lính janissary vượt qua các tường thành đổ nát tiến vào trung tâm Constantinople. Vị hoàng đế By-dăng cuối cùng thuộc dòng dõi vua Constantin bị tử thương khi đang chiến đấu; lá cờ hình trăng lưỡi liềm được kéo lên nóc vòm của nhà thờ Thánh Sophia và hoàng đế dời đô vào đóng ở thủ đô của đế quốc.

❀ ❀ ❀

[1] Al-Suyuti, Husn al-Muhadara (Cairo 1321 lịch HG), t. 39.

[2] Do Colin Imber ghi lại trong The Ottoman Empire 1300-1481 (Istanbul 1990), t. 24.

[3] The Reign of Sultan Orchan, Second King of the Turks, translated out of Hojah Effendi, Eminent Turkish Historian, by William Seaman (London 1652), t 30-31.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.