Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16 Phản Ứng Và Đối Sách
Chương 16 Phản Ứng Và Đối Sách

❊ ❊ ❊

Từ nhiều thế kỷ, người Hồi giáo đã quen với quan điểm lịch sử cho rằng họ là những người nắm vững chân lý của Thượng đế và nhiệm vụ thiêng liêng của họ là phải mang chân lý ấy đến toàn thể nhân loại. Cộng đồng Hồi giáo mà họ là một thành viên chính là công cụ để thực hiện ý định của Thượng đế trên đời này. Các vua chúa Hồi giáo mà họ là thần dân chỉ là những người tiếp tục sự nghiệp của Đấng Tiên tri và là những người gìn giữ thông điệp mà Thượng đế đã truyền cho Mu-ha-mát, trách nhiệm mà Thượng đế giao phó cho họ là bảo vệ và thực thi Thánh luật Sharia và mở rộng địa bàn ứng dụng của luật ấy. Quá trình này sẽ không bao giờ có giới hạn. Trong thế kỷ XVI, tác giả người Thổ đầu tiên cho xuất bản một công trình về nước Mỹ đã mô tả việc người châu Âu khám phá và chinh phục ra sao vùng đất mà ông gọi là “Tân Thế giới” và ông thành khẩn mong muốn là về sau sẽ có ngày vùng đất này được đạo Hồi soi sáng và được nhập vào đế quốc Ottoman.

Giữa quốc gia Hồi giáo và các lân bang ngoại đạo thì tình trạng chiến tranh vĩnh viễn và bắt buộc chỉ kết thúc với chiến thắng nhất định của đức tin chân chính và khi toàn thế giới bước vào ngôi Nhà của Hồi giáo. Trong khi chờ đợi, quốc gia và cộng đồng Hồi giáo là nơi độc nhất được ký thác đê bảo tồn văn minh và chân lý, còn xung quanh chỉ là bóng đêm tăm tối của man rợ và của ngờ vực. Lòng ưu ái của Thượng đế đối với cộng đồng của Người được thể hiện qua các chiến thắng và quyền lực trên thế giới này và đã là như vậy từ thời Đấng Tiên tri.

Lòng tin ấy, từ thời Trung cổ để lại, đã được củng cố thêm rất nhiều nhờ các chiến thắng của người Ottoman vào hai thế kỷ XV và XVI khi quân đội Hồi giáo tiến vào tận trung tâm của thế giới Cơ Đốc và còn được làm sống lại nhờ các thắng lợi tuy nhất thời nhưng đôi khi rất ấn tượng của các lực lượng Hồi giáo ở thế kỷ XVIII. Quả là một sự điều chỉnh chậm chạp và đau đớn khi người Hồi giáo phải chấp nhận và thích nghi với tình trạng mới, trong đó mọi diễn biến lại không phải do quốc gia Hồi giáo mà là do kẻ thù Cơ Đốc giáo quyết định, và ngay cả sự sống còn của quốc gia ấy đôi khi còn tuỳ thuộc vào sự giúp đỡ hay cả thiện ý của một số cường quốc Cơ Đốc giáo.

Thất bại trên chiến trường quả là một lý lẽ thuyết phục nhất và rõ rệt nhất và chỉ sau Hiệp ước Carlowitz đánh dấu sự thất bại quan trọng đầu tiên của người Ottoman thì trong giới cầm quyền Ottoman mới có những nghiên cứu về phương Tây nhằm tìm ra những gì họ có thể bắt chước.

Ban đầu, người Thổ chỉ nhìn thấy vấn đề thuần tuý quân sự và những giải pháp đề ra cũng nằm trong lĩnh vực quân sự. Các quân đội Cơ Đốc đã hơn hẳn họ trên chiến trường; do đó họ phải sử dụng các vũ khí, kỹ thuật và phương pháp huấn luyện của những người chiến thắng. Nhiều lần trong thế kỷ XVIII, chính phủ Ottoman đã xây dựng những trường dạy nghệ thuật chiến tranh của người châu Âu, sử dụng các huấn luyện viên châu Âu để đào tạo các sĩ quan và cán bộ Thổ. Từ bước đầu nhỏ bé này, về sau đã có những phát triển quan trọng. Nếu trước đây, các thanh niên Hồi giáo thường khinh rẻ bọn người phương Tây man rợ và không có đức tin, thì ngày nay lại tiếp đón những người này như những thầy giáo và phải học tiếng của họ, đọc sách do họ viết ra. Vào cuối thế kỷ XVIII, những cán bộ trẻ người Thổ trong các trường pháo binh và các trường kỹ thuật vì đã học tiếng Pháp để đọc các tài liệu học tập nên có thể tiếp cận nhiều môn học khác. Họ đã tìm ra nhiều tư tưởng còn có sức công phá lớn hơn nhiều so với bất kỳ những gì mà các huấn luyện viên pháo binh đã dạy cho họ.

Tiếp theo các cải cách quân sự là nhiều đột phá khác tấn công vào hàng rào ngăn cách hai thế giới. Năm 1729, sự chống đối lâu ngày của người Thổ về một ngành báo chí trên giấy cũng được khắc phục và việc in ấn sách báo bằng tiếng Thổ cuối cùng được cho phép. Đến năm 1742, khi các nhà máy in bị đóng cửa thì đã có mười bảy đầu sách được xuất bản. Trong số đó có một cuốn sách về nghệ thuật quân sự của châu Âu và một cuốn viết rất đầy đủ về nước Pháp mà tác giả là một vị đại sứ Thổ đã Pháp vào năm 1721.

Ảnh hưởng của văn hoá phương Tây dù sao cũng không đáng kể. Số sách dịch chẳng có nhiều mà phần lớn là trên các vấn đề thực tiễn, chủ yếu là chính trị và quân sự. Thị hiếu của người Thổ bắt đầu bị hàng nhập khẩu từ châu Âu áp đặt và ảnh hưởng của Âu châu được thấy rõ trong những lĩnh vực quan trọng như nghệ thuật kiến trúc tôn giáo; ngay cả một đền thờ Hồi giáo của hoàng gia cũng chịu ảnh hưởng này. Các công trình kiến trúc của một xã hội thường bộc lộ một cách sâu xa bản tính của xã hội ấy cũng như các điều kiện sinh hoạt và cách nó tự đánh giá mình. Cũng như các nhà chọc trời của New York hay các Kim tự tháp và đền đài cổ Ai Cập, các đền thờ Hồi giáo của hoàng gia ở Istanbul là biểu tượng của sức mạnh và lòng tự tin trong một xã hội phồn vinh và phát triển. Đế quốc Ottoman, cũng như những chế độ trước đây ở Trung Đông, hước hết là một quốc gia Hồi giáo, và những công trình kiến trúc đặc trưng và tráng lệ nhất của nó nhất định phải là các nơi thờ cúng. So với các công trình này, thì Hoàng cung Topkapi, nơi ở của các hoàng đế trong nhiều thế kỷ, thật chẳng thấm vào đâu. Đúng là hoàng cung toạ lạc trên một diện tích đất lớn có nhiều nhà cửa nguy nga, nhưng chủ yếu chỉ là những dãy cung điện nhỏ, không có một công trình nào đặc biệt vĩ đại. Rõ ràng là trên tinh thần ấy mà trong dịp lễ đăng quang của mỗi vị tân hoàng đế, dân chúng thường chào đón ngài với những tiếng la hò: “Hoàng đế ơi, đừng quá kiêu hãnh, người vẫn còn thua xa Thượng đế”.

Dấu hiệu đầu tiên của sự thay đổi tâm trạng một cách sâu sắc được thấy ở đền thờ Nuruosmaniye, xây năm 1755 ngay lối vào của khu Chợ Lớn. Kiến trúc tổng thể của nó có dáng dấp của một đền thờ hoàng gia Ottoman, nhưng trong đường nét trang trí của nó người ta thấy phảng phất nghệ thuật Ba-rốc của Italia. Cách trang trí ngoại lai này trên một kiến trúc có thể xem là cốt lõi của nhà nước và xã hội Ottoman, một đền thờ hoàng gia, cũng đáng làm cho người ta ngạc nhiên như khi thấy những trang trí hoa lá lượn sóng của người A-rập trên một nhà thờ Gô-tích. Đây là dấu hiệu đầu tiên của lòng tự tin bị mai một.

Những dấu hiệu như thế còn được thấy rất nhiều trong thế kỷ XIX, rõ rệt nhất có lẽ là trên cung điện Dolmabahce, xây năm 1853. Có hai thay đổi đáng chú ý nhất. Một là các hoàng đế và các kiến trúc sư của họ đổ bao nhiêu tiền của vào việc xây dựng một cung điện chứ không phải một đền thờ để gây ấn tượng đối với thế giới bên ngoài. Hai là tất cả mọi giá trị truyền thống, mọi tiêu chuẩn hay có thể nói là mọi biểu hiện thẩm mỹ đã từng gắn chặt với các kiến trúc Ottoman trong quá khứ thì ngày nay đã mất sạch. Cung điện Dolmabahce với kiểu kiến trúc giống như một cái bánh cưới, với cách trang trí quá rộng và quá lãng phí, với một mớ hỗn tạp các kiểu dáng và các chủ đề nhập về từ châu Âu, đã minh họa cho những mục tiêu đầy tham vọng và những phương hướng lộn xộn của các cuộc cải cách vào thế kỷ XIX.

Nhìn chung thì ảnh hưởng của phương Tây không phải là lớn cho lắm và chỉ một nhóm nhỏ trong dân chúng mới tiếp cận các tư tưởng của châu Âu, sự du nhập có giới hạn này cũng bị khống chế và đôi khi bị đập tan do các phong trào phản kháng như phong trào dẫn đến việc phá huỷ nhà máy in đầu tiên bằng tiếng Thổ năm 1742. Nếu các thất bại quân sự là nguyên nhân dẫn đến việc đế quốc Ottoman mở cửa đón các tư tưởng phương Tây thì trong thế kỷ XVIII tác động của nó yếu hẳn đi vì lúc này đế quốc Ottoman bảo vệ được vị trí của mình và ngoài ra còn giành được một vài chiến thắng. Nhưng sự thúc đẩy trở lại và rõ ràng là với cường độ cao hơn khi đế quốc phải ký Hiệp định Kucuk Kaynarca, khi vùng Crimea bị mất và khi người Pháp đến chinh phục Ai Cập.

Từ những năm đầu của thế kỷ XIX, đế quốc Ottoman lại phải đương đầu với một hiểm họa khác cho sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Ngoài các đạo quân nước ngoài đang tiến đến biên giới quốc gia, đế quốc còn phải đối phó với những thủ lĩnh địa phương và các phong trào chống đối nổi lên khắp mọi nơi đòi quyền tự trị và ngay cả quyền độc lập. Nhiều phong trào chỉ là sự tiếp diễn của một xu hướng đã thấy rõ trong thế kỷ XVIII; đó là sự thành lập các vùng tự trị đứng đầu là các ayan, các derebey, và một số pasha bất phục tùng đã xây dựng cho mình những công quốc ở những địa phương họ được phái đến cai trị. Các cố gắng của chính phủ hoàng gia Ottoman để khôi phục quyền lực ở thủ đô cũng gặp nhiều chống đối. Ban đầu, những người chống đối giành được những thắng lợi đáng kể, và năm 1808, một liên minh các ayanderebey cùng một số quan chức của chính phủ trung ương mở đại hội ở Istanbul để ký một thoả thuận tương hỗ và đưa ra nhiều yêu sách. Hoàng đế Mahmud II mới lên ngôi phải dằn lòng đáp ứng các yêu sách ấy. Rồi đến đầu thế kỷ XIX, hoàng đế Ottoman lại phái hạ bút ký một bản hiến chương công nhận nhiều đặc quyền phong kiến và nhiều vùng tự trị nằm trong đế quốc.

Trong các vùng trung tâm đế quốc, hoàng đế dần dần khôi phục lại và củng cố uy quyền của mình. Nhưng ở các vùng xa thì việc này có vẻ khó khăn hơn. Đặc biệt là ở những nước nói tiếng A-rập, như Arabia, Iraq, Liban, và trước hết là Ai Cập, các vị vua chúa độc lập muốn lấy lại quyền kiểm soát thật sự và chỉ thần phục hoàng đế Ottoman một cách tượng trưng mà thôi. Vị thống đốc nổi tiếng của Ai Cập từ 1805 đến 1848, Muhammad All Pasha, đã ra mặt chống đối hoàng đế Ottoman trên cả các mặt quân sự và ngoại giao, và chỉ có sự can thiệp của các cường quốc Âu châu mới ngăn không cho ông đánh bại hoàn toàn hoàng đế. Tuy nhiên, ông cũng biến được Ai Cập thành một vương quốc tự trị có quyền cha truyền con nối, và đưa đất nước ấy tiến lên con đường hiện đại hoá. Con cháu ông còn cai trị Ai Cập mãi cho đến giữa thế kỷ XX. Họ đã nhiều lần thay đổi danh hiệu, từ pasha sang khedive để biểu thị địa vị gần như của một quốc vương trong đế quốc Ottoman, rồi sau đó lại chuyển sang danh hiệu hoàng đế và quốc vương, để khẳng định tính độc lập của họ và sư ngang hàng của họ đối với hoàng đế Ottoman và vua nước Anh.

Trong một thế kỷ rưỡi mà Trung Đông chịu ảnh hưởng và bị đặt dưới quyền cai trị của người phương Tây, nghĩa là từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, biết bao thay đổi lớn lao đã đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trong chừng mực nào đó thì những thay đổi ấy có được là do tác động hay sự can thiệp của những người đứng đầu các quốc gia phương Tây hay các cố vấn của họ. Tuy nhiên, nhìn chung thì xu hướng của các vị này là rất thận trọng và bảo thủ trong các chính sách của họ, cho nên những thay đổi cốt yếu nhất lại không do những người phương Tây mang đến mà chính là thành quả của những người Trung Đông đã Tây hoá.

Trong lĩnh vực kinh tế, sự đóng góp trực tiếp của các vua chúa Trung Đông là khá khiêm tốn. Tại một số nước, như Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, các chính phủ đôi khi xây dựng rồi thực thi những kế hoạch phát triển kinh tế do nhà nước điều khiển, qua các chương trình công nghiệp hoá áp đặt và cấp tốc, vì họ thấy công nghiệp hoá là nền tảng của sự giàu có và sức mạnh ở các nước phương Tây. Trong nửa đầu của thế kỷ XIX, các chương trình ấy được phát động với quy mô lớn nhưng không thu được nhiều kết quả bền vững. Trong nửa sau của thế kỷ XIX, các chính phủ lại chuyển qua việc xây dựng hạ tầng cơ sở, hay “tài nguyên cố định của xã hội”, như là các công trình thuỷ lợi, giao thông vận tải và các công trình tương tự, dành các hoạt động kinh tế trực tiếp sản xuất cho doanh nghiệp tư nhân. Trừ trường hợp của nông nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân ấy thường nằm trong tay người ngoại quốc hay các thành phần thiểu số.

Nỗ lực chính của các chính phủ Trung Đông được tập trung vào hai mục tiêu là hiện đại hoá quân đội và tập trung hành chính. Hai mục tiêu gắn liền với nhau ấy được đưa ra là nhằm khôi phục lại uy quyền của chính phủ, ở trong nước đang phải giáp mặt với những thế lực ly khai và chống đối, ở ngoài nước thì phải đương đầu với những quân thù ngày càng hùng mạnh. Để đạt đến các kết quả mong muốn, các chính phủ bắt đầu tung ra những chương trình cải cách rộng lớn.

Ban đầu, những cải cách ấy chỉ thuần tuý trong lĩnh vực quân sự vì phải đáp ứng các nhu cầu sống còn trong một thế giới nằm dưới sự thống trị của các lực lượng vũ trang châu Âu. Nhưng xây dựng một quân đội hùng mạnh không phải chỉ đơn thuần là hai vấn đề huấn luyện và thiết bị mà việc sử dụng các huấn luyện viên và mua vũ khí có thể giải quyết được. Một quân đội hiện đại cần có những sĩ quan chỉ huy có học thức, do đó phải có cải cách giáo dục; cần có những cơ quan để quản lý, do đó phải có cải cách hành chính; cần có những nhà máy để cung cấp hậu cần, do đó phải có cải cách kinh tế; cần có tiền bạc để trả lương cho lính, do đó phải có những cải tiến và những mô hình tài chính táo bạo.

Những nhà cải cách quân sự không có ý định gì khác ngoài việc mở một cửa cống trong con đê ngăn cách hai thế giới Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, một cửa cống chỉ cho thoát ra một dòng chảy hạn chế và điều chỉnh được. Nhưng thật ra thì họ đã cho tràn ra một dòng thác lũ mà họ không điều khiển nổi. Mang đến các vũ khí và kỹ thuật Âu châu là những con người với những tư tưởng của châu Âu có tác dụng phá huỷ nền trật tự cũ. Các tư tưởng mới ấy lại càng được phổ biến rộng rãi qua các tiếp xúc cá nhân được tăng cường, qua các quan hệ giáo dục, ngoại giao, thương mại và nhiều hình thức du lịch khác. Chúng còn được quảng bá xa hơn nữa nhờ có việc học ngoại ngữ ngày càng phát triển ở Trung Đông, nhờ công sức của những nhà dịch thuật ngày càng đông đảo, nhờ các kỹ thuật in ấn và từ những năm 1820 trở đi nhờ các tạp chí và sau đó là các nhật báo.

Dưới sức mạnh của vũ khí phương Tây, lòng tin đã có từ lâu về tính ưu việt của mình đã bị vỡ tan kéo theo nhiều sự vỡ mộng trong xã hội Hồi giáo. Điều này được thể hiện trước hết qua các phong trào cải cách, nhằm hiện đại hoá quân đội kèm theo việc cải tổ nhà nước Hồi giáo và qua việc chấp nhận một số sản phẩm của nền văn minh Tây phương mà ý đồ là chỉ giới hạn trong lĩnh vực kỹ thuật khá hẹp mà thôi. Nhưng các tư tưởng ngoại lai đã nhanh chóng thâm nhập vào, và chính việc can thiệp của các thế lực ngoại quốc đã gây nên một phản ứng gay gắt.

Ban đầu, các phản ứng ấy được đưa ra trên mặt tôn giáo. Trong thế kỷ XVIII, cũng đã có hai phong trào quan trọng ra đời, để bằng những cách khác nhau, bày tỏ phản ứng của Hồi giáo trước sức mạnh ngày càng tăng của phương Tây. Lúc đầu thì cả hai chỉ là những phản đối chống lại cái mà người ta nhận định là quá trình thối rữa bên trong Hồi giáo vì đã không còn giữ được sự trong sáng của đức tin, cả hai phong trào đều không tránh khỏi việc chê trách sự can thiệp của nước ngoài.

Một trong hai phong trao ấy là nhánh cải cách của các thầy đồng dervish Naqshbandi, thuộc dòng tu Xu-phi. Nhánh này được thành lập tại Ấn Độ, về sau truyền đến Trung Đông, ban đầu là các nước A-rập rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ và cuối cùng là các nước vùng Caucasus, ở Ai Cập, một học giả Ấn Độ theo nhánh Naqshbandi đã chủ trì sự hồi sinh của ngành A-rập học, và đang bắt đầu quá trình phục hưng của Ai Cập thì bị cuộc xâm lăng của Pháp làm gián đoạn, ở Arabia, một người Ấn Độ khác theo nhánh Naqshbandi đã có những tác phẩm đề cao phẩm giá vĩ đại của những người A-rập cổ và sự trong sáng của đạo Hồi nguyên thuỷ, về sau những thêm thắt chỉ làm cho các tác phẩm ấy bị bóp méo đi. Những tư tưởng này có lẽ đã đóng góp vào sự phát triển ở trung tâm Arabia của một phong trào lớn thứ hai vào thời buổi ấy, đó là phong trào Wahhabi. Tuy nhiên, những người Wahhabi lại chống đối mãnh liệt dòng Xu-phi huyền bí mà họ cho là biểu hiện của sự thối rữa và mục nát của tôn giáo vào lúc ấy. Người Wahhabi rất đạo đức trên nguyên tắc và năng nổ trong hành động, họ đã chiếm được phần lớn bán đảo A-rập, và vào cuối thế kỷ XVIII, họ đã có khả năng tranh giành với đế quốc Ottoman trên biên giới của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Lực lượng của họ bị tan rã vào năm 1818, nhưng tín ngưỡng Wahhabi vẫn còn tồn tại. Nhiều lần, tín ngưỡng này sống trở lại ở Arabia và tạo được một ảnh hưởng rất lớn, mặc dù gián tiếp, trong các nước Hồi giáo. Dù giáo lý Wahhabi có ít người theo trong vùng Trung Đông, nhưng vì nó nói lên sự hồi sinh của tôn giáo nên tạo được lòng sùng bái của nhiều người Hồi giáo ở khắp các nước và mang lại cho họ một tinh thần chiến đấu mới trong các cuộc xung đột sắp đến chống quân xâm lược Âu châu.

Khi quân xâm lược tiến vào thì cuộc kháng chiến không phải được tiến hành dưới sự chỉ đạo và động viên của các vua chúa, các tể tướng, các binh sĩ hay các nhà bác học mà lại được phát động bởi các lãnh đạo tôn giáo bình dân, đại diện cho một trong các phong trào hồi sinh ấy, và họ đã có thể nâng cao tinh thần chiến đấu và huy động được mọi tiềm năng của nhân dân.

Chính trong các đế quốc có thuộc địa — Trung Á thuộc Nga, Ấn Độ thuộc Anh, Bắc Phi thuộc Pháp - mà người ta sẽ thấy rõ ngay giai đoạn tiếp của phản ứng mà Hồi giáo đưa ra trước các tác động của phương Tây, đó là sự thích nghi và sự hợp tác. Trong cả ba vùng đất này, nhiều nhà lãnh đạo nổi lên và khuyên dân mình nên học tiếng của những người cai trị họ để có thể tiếp thu các kiến thức hiện đại cần thiết cho tiến bộ. Trong vùng đất nằm giữa lòng Trung Đông, mặc dù chưa có nước ngoài đến thống trị, nhưng các vua chúa có đầu óc cải cách và các nhà trí thức chủ trương hiện đại hoá cũng nói lên những điều tương tự.

Trong các phong trào và các hoạt động cải cách thế kỷ XIX, người ta có thể nhận ra hai xu hướng rõ rệt luôn luôn xung đột với nhau. Một xu hướng được hình thành từ các lý thuyết Trung Âu và những ý tưởng của nó rất được các nhà cải cách độc đoán hoan nghênh và áp dụng. Cũng như các vị vua chúa Trung Âu mà họ noi theo, các nhà cải cách này cho là họ biết những gì là có lợi cho dân chúng, và trong việc thực hiện chính sách mới, họ không cần đến một chính phủ bình dân, như người ta thường gọi. Theo quan điểm của họ thì quần chúng nhân dân, từ xưa đến nay đã quen vâng lời và làm theo lệnh trên, nên chưa thể nắm trong tay vận mệnh của chính mình, và cần được giáo dục và dẫn dắt bởi những người mà sứ mạng lịch sử là giáo dục và dẫn dắt, tức là các nhà trí thức và giới quân sự.

Quan điểm thứ hai bắt nguồn từ Tây Âu chứ không phải từ Trung Âu và chịu ảnh hưởng của các lý thuyết tự do chính trị, và ở một mức độ thấp hơn, tự do kinh tế. Đối với những người theo xu hướng này ở Thổ Nhĩ Kỳ và sau đấy là ở các nước khác thì quyền lợi của nhân dân cần phải được đảm bảo bằng một chính thể đại nghị và lập hiến để theo kịp đà tiến lên của đất nước. Theo phương Tây, tự do phải là cơ sở thật sự của quyền lực, của sự phồn vinh và sự lớn mạnh.

Từ tự do còn có nhiều nghĩa. Vào đầu thế kỷ XIX, khi các tư tưởng chính trị của châu Âu mới được đưa vào và trước khi người châu Âu đến trực tiếp cai trị họ, thì người Trung Đông còn chưa dùng từ tự do để chỉ một giá trị cộng đồng, tức là không bị người ngoài đô hộ, hay nói một cách khác đúng nghĩa hơn, đó chính là độc lập. Lúc ấy họ còn dùng từ tự do theo nghĩa của phương Tây, để chỉ vị trí của một cá nhân trong cộng đồng, với nghĩa là tình trạng người công dân không bị chính phủ o ép một cách bất hợp pháp và tuỳ tiện, về sau, quan niệm tự do được phát triển rộng thêm để chỉ quyền của người công dân được tham gia vào việc thành lập và điều hành chính quyền. Việc du nhập, thích nghi và trong một chừng mực nào đó việc áp dụng những tư tưởng ấy là những triển khai chính trên mặt chính trị ở Trung Đông vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Lần đầu tiên có các thử nghiệm với những hội đồng và hội nghị tư vấn, tất cả đều được chỉ định, là vào khoảng đầu thế kỷ XIX, khi cả ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, những hội đồng theo kiểu này được triệu tập để bàn về những vấn đề như nông nghiệp, giáo dục và thuế khoá. Năm 1845, hoàng đế Ottoman cũng triệu tập một hội đồng đại biểu các tỉnh, mỗi tỉnh được chọn hai đại biểu “trong số những người được dân chúng kính nể và tín yêu, những người thông minh và có học thức, nắm được các yêu cầu để xây dựng phồn vinh và hiểu rõ các nguyện vọng của dân chúng”.[1] Mặc dù chất lượng đại biểu đề ra cao như thế nhưng thử nghiệm này không thành công và phải bãi bỏ. Sau đấy, ở Iran sự việc cũng xảy ra giống y như thế.

Nhưng trong khi các hoàng đế sultanshah, các vị pasha đang đưa ra những thử nghiệm với các hội đồng tư vấn được chỉ định như vậy thì một số thần dân của họ bắt đầu tung ra những tư tưởng có tính cấp tiến hơn. Những người đến thăm châu Âu khi trở về đều hết lời khen ngợi hệ thống chính quyền đại nghị họ được thấy hoạt động ở đấy, và chẳng bao lâu nhiều nhân vật chính trị lưu vong cũng phụ họa với các sinh viên và cán bộ là những người cho đến lúc ấy được phép đi lại giữa Trung Đông và Âu châu. Trong những thập kỷ 1860 và 1870, chủ nghĩa lập hiến có vẻ như giành được chân đứng ở Trung Đông. Năm 1861, nhà vua Tunis, một triều đại quốc gia tự chủ chịu thần phục hoàng đế Ottoman một cách lỏng lẻo, công bố một bản hiến pháp, bản đầu tiên trong một nước Hồi giáo. Tuy nó bị xoá bỏ năm 1864, nhưng xu hướng vẫn còn tiếp tục. Năm 1866, quốc vương Ai Cập triệu tập một hội nghị tư vấn gồm 75 đại biểu được bầu ra cho một nhiệm kỳ 3 năm một cách gián tiếp qua các đoàn thể. Cùng lúc ấy, phong trào lập hiến cũng đang lớn mạnh ở Thổ Nhĩ Kỳ, và những người tích cực ủng hộ phong trào này vào năm 1867 đã phải sống lưu vong ở Anh và Pháp, thì năm 1876 có vẻ giành được một thắng lợi vang dội khi vị tân Hoàng đế Abdulhamid II phải công bố một bản hiến pháp Ottoman.

Giai đoạn đế quốc Ottoman lần đầu tiên có hiến pháp cũng chẳng kéo dài bao lâu. Có hai cuộc tuyển cử được thực hiện nhưng khi Quốc hội bắt đầu tỏ vẻ hung hăng thì nó bị hoàng đế giải tán ngay lập tức. Quốc hội Ottoman đầu tiên chỉ họp hai kỳ tổng cộng là 5 tháng cả thảy, nó sẽ không họp tiếp trong vòng 30 năm tiếp theo.

Sau khi Hoàng đế Abdulhamid tạm đình chỉ Quốc hội Ottoman thì chỉ có ở Ai Cập là còn một hình thức nào đó về một nghị viện dân cử. Có nhiều hội đồng được bầu ra và hoạt động được, quá trình này vẫn tiếp diễn sau khi người Anh đến xâm chiếm năm 1882. Năm 1883, một đạo “Luật Hữu cơ” được ban hành cho phép thành lập hai cơ cấu gần như các đại hội đại biểu, với thành phần cử tri giới hạn, quyền lực thu hẹp và thỉnh thoảng mới có một cuộc họp ngắn ngày. Năm 1813, cả hai được gộp lại làm một, quyền lực được nới rộng, nhưng khi chiến tranh bùng nổ năm 1914 thì mọi việc bầu cử và các hoạt động của hội đồng cũng chấm dứt.

Tại những vùng khác, có nhiều phát triển cấp tiến hơn đang xảy ra. Năm 1905, chiến thắng của nước Nhật theo chế độ lập hiến đối với nước Nga chuyên chế, chiến thắng đầu tiên từ nhiều thế kỷ của một nước châu Á đối với một cường quốc Âu châu, đã mang đến một thông điệp hết sức rõ ràng. Thông điệp này cũng đến với nước Nga thất trận khi mà, dưới áp lực của quần chúng, một chế độ đại nghị được thành lập. Chủ nghĩa lập hiến được xem là tiên dược của cuộc sống và ngay lập tức phải có liều thuốc ấy. Liều đầu tiên được tung ra ở Iran khi mà, vào mùa hè 1906, một cuộc cách mạng hiến pháp đã bùng nổ và bắt buộc hoàng đế phải triệu tập một Quốc hội và chấp nhận một hiến pháp tự do. Hai năm sau, một nhóm sĩ quan Ottoman, thường được mệnh danh là “Những người Thổ trẻ”, buộc hoàng đế phải chịu khôi phục hiến pháp năm 1876 và mở đầu giai đoạn thứ hai, dài hơn và quan trọng hơn nhiều so với giai đoạn đầu, của một chính phủ lập hiến và đại nghị trong đế quốc Ottoman.

Những cải cách hiến pháp ban đầu rõ ràng là chịu ảnh hưởng và bắt chước châu Âu và cũng nói lên lòng mong muốn đối mặt với châu Âu sao cho ngang tài ngang sức. Chúng cũng là những hành động có tính chất làm dịu bớt căng thẳng, để có được những khoản tiền vay và các mối lợi khác, đồng thời cũng để ngăn chặn các vụ can thiệp và chiếm đóng. Nhưng chúng đã không đạt được các mục tiêu ấy. Cả hai thử nghiệm đại nghị ở Tunisie và Ai Cập, tuy lâu hơn một chút, đều không ngăn được tình trạng phá sản, rối loạn, và rốt cuộc bị người ngoại quốc đến xâm chiếm. Có người cho rằng chính các cải cách ấy đã đẩy nhanh quá trình đô hộ của nước ngoài.

Trong lúc ấy thì người châu Âu tấn công vào từ cả hai phía, và phản ứng của những người Hồi giáo Trung Đông lại được biểu lộ qua các hình thức tôn giáo. Từ những năm 1860 và 1870 có lẽ đã nảy sinh ra tư tưởng liên Hồi giáo, mong muốn thành lập một mặt trận chung của các dân tộc Hồi giáo chống lại sự đe dọa của các đế quốc Cơ Đốc. Có lẽ phần nào nó cũng chịu ảnh hưởng của những thành công Đức và Italia trong việc thống nhất dân tộc và thông nhất đất nước. Nhiều người ở Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng đế quốc Ottoman, chế độ Hồi giáo độc lập quan trọng nhất còn tồn tại, cũng có thể làm những gì mà nước Phổ đã làm được cho dân tộc Đức và vùng Piedmont làm được cho người Italia. Đáng chú ý là mục đích của công cuộc này là sự đoàn kết và thống nhất của mọi người Hồi giáo, một nhóm người gắn chặt với nhau bằng tôn giáo chứ không phải chỉ là một cộng đồng, không phải chỉ là người Thổ hay một quần thể có chung một nguồn gốc, một tiếng nói hay một lãnh thổ, vì những quan niệm này khó lòng động viên số đông những người Hồi giáo vào thời buổi ấy.

Một hình thức liên Hồi giáo được kiểm soát chặt chẽ đã trở thành chính sách chính thức của đế quốc Ottoman. Nó có ích ở cả trong nước vì nó hậu thuẫn hoàng đế trong việc kêu gọi thần dân Hồi giáo của mình trung thành với nhà vua chống lại các hình thức phiến loạn khác nhau, và cũng có ích ngoài biên giới đế quốc vì nó giúp hoàng đế có được sự ủng hộ của dân Hồi giáo không phải Ottoman và đặc biệt là của dân chúng Hồi giáo trong các lãnh thổ thuộc địa của Âu châu. Nhiệm vụ thứ hai này đòi hỏi một hình thức liên Hồi giáo cấp tiến và đấu tranh nhiều hơn là hình thức được chính quyền Ottoman bảo trợ. Một loạt các nhà lãnh đạo đã đảm nhiệm công việc này, vài người trong số họ gây được một ảnh hưởng rất lớn. Nhưng trong lúc này thì chủ nghĩa liên Hồi giáo không phải là yếu tố quan trọng trong chương trình chính trị của các thủ lĩnh cấp tiến vì nó còn bị che khuất bởi các tư tưởng tự do mà họ lĩnh hội được từ châu Âu và cũng bởi một khái niệm mới, khái niệm về quốc gia hay dân tộc.

❀ ❀ ❀

[1] Ahmed Lufti, Tarih, (Istanbul 1290-1328 lịch Hồi giáo), vol. 8,1.15¬ 17.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.