Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10 Giới Tinh Hoa
Chương 10 Giới Tinh Hoa

❊ ❊ ❊

Trong nền văn minh Hồi giáo cũng như trong tất cả các nền văn minh khác mà lịch sử từng nói đến, có một sự phân biệt được chấp nhận, giữa các nhóm nhỏ những người có nhiều hay ít đặc quyền đặc lợi và quảng đại quần chúng còn lại. Trong tiếng A-rập thông dụng, hai nhóm ấy được chỉ định bằng các từ khassaamina có nghĩa là “riêng” và “chung”. Trên nguyên tắc, Hồi giáo mang tính bình đẳng, không công nhận bất kỳ một sự hơn trội nào của một tín đồ so với một tín đồ khác dựa trên dòng giống, chủng tộc, quốc tịch, hay địa vị xã hội. Cũng như các tôn giáo đơn thần khác, Hồi giáo cổ điển chấp nhận một sự bất bình đang cơ bản giữa nam giới và phụ nữ, giữa người tự do và người nô lệ, người có đạo và người ngoại đạo, các quy định của Thánh luật Hồi giáo làm cho người ngoại đạo bị hạ xuống một địa vị thấp hèn. Ngoài các bất bình đẳng đã được xác định và công nhận ấy, pháp luật và giáo lý Hồi giáo không công nhận bất kỳ một phân biệt nào khác giữa các tín đồ. Chỉ lòng sùng đạo và việc thiện mới mang lại danh vọng cho con người vì lòng sùng đạo và việc thiện còn cao hơn cả tiền của, quyền uy hay dòng dõi.

Trong thực tế, những ai may mắn có được tiền của, quyền uy hay ngay cả học vấn, vẫn thường muốn truyền các ưu thế ấy cho con cháu mình, đó là một xu hướng không sao tránh khỏi trong tất cả các xã hội loài người, từ đó dẫn đến việc hình thành những nhóm người có đặc quyền đặc lợi cha truyền con nối. Cho đến thời đại Ottoman, có rất ít chế độ chính trị tồn tại đủ lâu để xây dựng và duy trì được một giai cấp quý tộc cương quyết bảo vệ quyền lợi của mình; phần lớn các chế độ Hồi giáo Trung cổ đều bị lật đổ bởi nội loạn hay, thường xuyên hơn, bị quân ngoại xâm đến chinh phục. Những vua chúa mới sẽ cùng gia tộc, thủ hạ, vây cánh của mình, lại lập nên một giai cấp quý tộc mới lắm của, nhiều quyền. Mỗi cuộc chinh phục rõ ràng là tạo thế mạnh cho những người cùng sắc tộc với kẻ chiến thắng, nhưng trừ hai trường hợp ngoại lệ, các đặc quyền ấy không tồn tại được lâu dài. Hai ngoại lệ ấy là trường hợp người A-rập đã xây dựng nên và cai trị trong một chính quyền Hồi giáo và người Thổ, từ cuối thời Trung cổ cho đến thời Cận đại, đã gần như luôn luôn giữ độc quyền chính trị và quân sự. Cùng với thời gian, cả hai, mỗi bên một kiểu, đã mất đi bản sắc dân tộc ban đầu của mình - người A-rập thì hoà mình vào dân chúng địa phương đã được A-rập hoá, còn người Thổ thì trộn lẫn với giới thượng lưu quốc tế nắm giữ quyền cai trị và hành chính của đế quốc Ottoman.

Các nhà thần học khi giải thích Thánh luật Hồi giáo chỉ bàn đến thứ hạng trong xã hội trên một vấn đề duy nhất, đó là trường hợp có liên quan đến nguyên tắc kafaa, có thể dịch đại khái là nguyên tắc bình đẳng về dòng dõi và địa vị xã hội trong hôn nhân. Nguyên tắc này nhất thiết không phải là sự công nhận các đặc quyền của giới quý tộc. Nó cũng không hề cấm đoán những cuộc hôn nhân không tương xứng và các luật gia còn lâu mới thống nhất được ý kiến thế nào là không tương xứng. Mục đích của nguyên tắc này là để bảo vệ danh dự của các gia đình khả kính bằng cách cho phép họ, nếu họ muốn, huỷ bỏ những cuộc hôn nhân không tương xứng. Nguyên tắc kafaa có thể do người cha hay người đỡ đầu hợp pháp của người phụ nữ, nêu ra để ngăn người này lấy chồng mà không được phép, để huỷ bỏ cuộc hôn nhân nếu nó không được phép hay được phép một cách gian dối, với điều kiện là người phụ nữ không có con hay không có thai trong cuộc hôn nhân ấy. Nó cũng được nêu ra để ngăn người phụ nữ kết hôn với một người đàn ông có địa vị xã hội thấp hơn, như thế để cho gia đình khỏi bị ô danh. Còn khi người đàn ông lấy một phụ nữ có địa vị kém hơn thì không ai phản đối, vì theo quan điểm của các luật gia, người phụ nữ dù sao cũng thấp hèn hơn, do đó cuộc hôn nhân này không hề đưa đến bất kỳ một thiệt thòi nào cả.

Các luật gia cũng có ý kiến rất khác nhau về cách định nghĩa thế nào là có địa vị ngang nhau. Đối với một số người, điều này chỉ liên quan đến tôn giáo mà thôi và chỉ đề ra để bảo vệ một người phụ nữ ngoan đạo khỏi bị bắt buộc phải lấy một người chồng nghịch đạo. Trên tất cả các mặt khác, theo đại luật gia Malik ibn Anas thì “Mọi người dân Hồi giáo đều bình đẳng với nhau, theo đúng lời thần khải của Thượng đế.”[1] Nhưng theo một trường phái luật học khác, có lẽ do chịu ảnh hưởng của các quan điểm và thực tiễn về tôn ti trật tự trong nước Ba Tư thời Tiền Hồi giáo, thì ngoài lòng sùng đạo và phong tục tập quán thì kafaa còn liên quan đến nhiều vấn đề khác nữa. Đó là những vấn đề về dòng dõi, nghề nghiệp, tình hình tài chính và — đối với con cháu những người ngoại đạo đã quy theo Hồi giáo hay những nô lệ được trả tự do — thời điểm gia đình họ theo đạo hay được tự do.

Rõ ràng là sự phân biệt giữa khassaamma không chỉ đơn thuần mang tính kinh tế, phân biệt giữa những người có của và không có của. Đề tài về anh hàn sĩ và tên trọc phú cũng có nhan nhản trong văn học Hồi giáo như trong bất kỳ nền văn học nào khác. Nhưng điều khá rõ ràng là qua nhiều thế hệ mà không khấm khá lên thì khó lòng mà được nhận vào hàng ngũ khassa. Sự khác nhau giữa hai tầng lớp ấy cũng không phải là về dòng dõi, nguồn gốc và địa vị mặc dù các tiêu chí ấy có trong định nghĩa. Con của một người cha khassa và lớn lên trong một gia đình khassa ít ra cũng được xem là có danh vị khassa. Và cũng như ở các thời buổi và địa điểm khác, các danh dự xã hội vẫn còn tồn tại sau khi những thực tế kinh tế và chính trị vốn là nguồn gốc của các danh dự ấy không còn nữa. Dù cho uy quyền và của cải đã mất hết nhưng người ta vẫn còn giữ một cảm giác về ưu thế trong xã hội. Nghề nghiệp rõ ràng là quan trọng và các tác giả Hồi giáo Trung cổ đã quan tâm rất nhiều đến việc xếp hạng các ngành nghề, công việc làm ăn để xác định vị trí của chúng trên bậc thang xã hội.

Học vấn cũng là yếu tố quyết định có ý nghĩa đặc biệt trong một xã hội mà kinh sách có vị trí thánh thần, một xã hội tôn thờ ngôn ngữ của kinh sách ấy và trọng vọng những ai biết sử dụng ngôn ngữ ấy một cách thuần thục. Lúc đầu chỉ có một ngôn ngữ, sau đó có hai và cuối cùng là ba thứ tiếng — A-rập, Ba Tư và Thổ — đã xác định bản sắc văn hoá của những vùng chính ở Trung Đông Hồi giáo và mang đến cho giới trí thức trong vùng một mức độ thống nhất về văn hoá và tư tưởng đáng chú ý. Nếu giới amma bình dân sử dụng nhiều Thổ ngữ và tiếng địa phương khác nhau thì giới khassa được gắn bó với nhau qua một ngôn ngữ văn học chung, có cùng một truyền thống cổ điển và theo các hướng dẫn trong kinh sách cho nên cùng nhau chia sẻ một loạt những quy luật đạo đức và cách ứng xử giống nhau. Ban đầu, dưới các triều đại Áp-bát ở Baghdad và Fatima ở Cairo, không cần phải quy theo tôn giáo thống trị mới được nhân vào giới thượng lưu, nhiều nhà thơ, nhà khoa học, nhà thông thái theo Cơ Đốc giáo hay Do Thái giáo vẫn kề vai sát cánh với các đồng nghiệp Hồi giáo của mình, không những chỉ với tư cách đồng nghiệp mà còn là bạn, là đồng môn, là học trò, là thầy của họ. Về sau, một phần vì những xung đột trên mặt trận tôn giáo ở cả trong và ngoài nước, mà các thái độ trở nên cứng rắn hơn, và những cộng đồng không phải Hồi giáo, mặc dù vẫn còn được hưởng cách cư xử khoan dung độ lượng do luật Hồi giáo quy định, đã dần dần bị tách rời và cô lập khỏi cộng đồng Hồi giáo. Vào cuối thời Trung cổ, đầu thời Cận đại, nếu các thầy thuốc hay các chuyên gia khác không phải Hồi giáo vẫn còn được trọng dụng, nhiều khi ở những vị trí cao nhất, thì các tiếp xúc trên mặt xã hội và ngay cả trên mặt trí tuệ giữa những người khác nhau về tôn giáo đã giảm đi rất nhiều.

Các tài liệu văn học và các nguồn tư liệu từ xưa để lại mà ngày nay chúng ta còn nắm giữ hầu như hoàn toàn có xuất xứ từ giới khassa, cho nên không tránh khỏi việc các ghi chép của thời trước hoặc các tài liệu lịch sử thời nay căn cứ vào các ghi chép ấy, chỉ phản ánh chủ yếu các mối quan tâm, các hoạt động và các sự việc của giới khassa. Chỉ gần đây, các nhà sử học mới nghiên cứu đến đời sống của đám bình dân không đặc quyền đặc lợi, của những nông dân, thợ thủ công hay những dân nghèo thành thị. Mặc dù có được một vài tài liệu đáng gây kinh ngạc viết từ thời Trung cổ, việc nghiên cứu này chủ yếu giới hạn vào giai đoạn Ottoman vì chỉ trong giai đoạn ấy hiện nay mới còn lại nhiều tư liệu chi tiết.

Các nguồn tư liệu dùng trong nghiên cứu lịch sử đạo Hồi - như sách vở, thư từ và các tài liệu khác — chủ yếu là từ hai nhóm đối tượng xã hội chính: nhóm những nhân viên thư lại hành chính và nhóm các nhà tôn giáo. Bộ máy hành chính đã có từ thuở xa xưa và chắc là được hình thành trong vùng Trung Đông. Nó ra đời để đáp ứng một số nhu cầu cụ thể, đặc biệt là để tổ chức và bảo trì các hệ thống tưới tiêu ở những xã hội sống trong các lưu vực. Trong nửa sau của thiên niên kỷ thứ IV TCN, các hoàng đế pha-ra- ông nước Ai Cập cổ đã tiến hành việc tát cạn đầm lầy, mở rộng tưới tiêu, xây dựng đô thị và phát triển thương mại trên bộ và trên biển để mang tới Ai Cập các loại gỗ và khoáng sản cần thiết. Khi mở mang chính quyền và bộ máy hành chính, xây dựng các đền đài miếu mạo, người ta phải cần đến một hệ thống kế toán và thống kê. Để làm việc này, người ta phải phát hiện ra bí mật của chữ viết, và cùng với nó là một giai cấp mới trong xã hội của những nhân viên và thư lại với những khả năng mang tính cách mạng về ghi chép, thu gom và truyền đạt các kiến thức. Ở Ai Cập, trải qua các chế độ và cả những nền văn minh khác nhau — của các hoàng đế pha-ra-ông, của các vua chúa Hy Lạp, của người La Mã, người By-dăng Cơ Đốc, người A-rập và những người Hồi giáo kế tiếp nhau — hành chính quan liêu trở nên phồn thịnh. Cũng tương tự như vậy, ở Iraq và Iran, một truyền thống hành chính cổ từ thời các vua chúa Babylon hay Ba Tư cổ đã tiếp tục tồn tại dưới các triều Sasamd và các triều các giáo chủ và vương tước Hồi giáo. Điển hình là viên thư lại Erza, mà cả một tập của Thánh Kinh Do Thái mang tên ông ta đã mô tả chức năng và tài nghệ của ông.

Có vài điểm đặc trưng cho tổ chức hành chính ấy, trong số đó quan trọng và tồn tại lâu dài nhất là tính liên tục của hình thức chính quyền và cách hoạt động quan liêu giấy tờ của nó. Thư từ và tài liệu kế toán là những thành phần cốt yếu của các văn bản hành chính; nhân viên hành chính phải giỏi viết lách và tính toán. Phần lớn các tài liệu cổ điển của Hồi giáo được các thư lại viết để cho các thư lại khác đọc và chúng phản ánh những nét đặc biệt của họ cùng các vấn đề họ quan tâm trên mặt nghiệp vụ. Qua các văn bản này, người ta hình dung được một bộ máy hành chính có những chức năng phân định rõ ràng cùng với một tổ chức có tôn ti trật tự. Mỗi nhân viên phụ trách một công việc do cấp trên giao phó. Chức vụ của họ được xác định và quyền hạn được khoanh vùng. Trong hệ thống này ta thấy rõ một chuỗi dây chỉ huy và cũng là những nấc thang danh vọng. Mỗi người gần như biết rõ những gì đang đợi mình ở phía trước và phải làm những gì để có được sự thăng tiến mong muốn. Hình thức tổ chức có trật tự này cũng kéo theo các công tác kiểm tra và giám sát và áp dụng nguyên tắc quan trọng về trách nhiệm.

Một đặc trưng khác của bộ máy hành chính là phương thức tuyển mộ và cách trả lương. Người thư lại tiêu biểu là một nhân viên ăn lương nhà nước. Thu nhập của người này không do thừa kế mang lại, không phải vì làm chủ hay kiểm soát được một nguồn sinh lợi hay vì có một địa vị nào đó. Người này không sở hữu hay nắm trong tay nguồn sinh lợi của mình và cũng không phải là người nhận một tài trợ. Tiền lương của người ấy chỉ là để trả công. Trong những bộ máy hành chính được tổ chức tốt và có hiệu quả thì lương được trả bằng tiền mặt. Khi tài chính eo hẹp, nhà vua trả lương bằng những đặc ân - đây là cách chắc chắn dẫn đến sự tan rã của bộ máy hành chính.

Trong hàng nghìn năm lịch sử, trải qua bao cuộc thay đổi chính phủ, tôn giáo, văn hoá và ngay cả chữ viết và tiếng nói, các bộ máy hành chính ở Trung Đông tỏ ra khá bền vững và liên tục. Trong những thế kỷ tính từ khi có đao Cơ Đốc cho đến khi Hồi giáo ra đời, nửa phía Tây Trung Đông có các hệ thống hành chính Hy Lạp và nửa phía Đông là hệ thông hành chính Ba Tư. Từ Iraq trở sang phía Tây, trong những vùng đất dưới quyền cai trị của người La Mã và về sau là người By-dăng, công tác hành chính sử dụng tiếng Hy Lạp chứ không phải tiếng Latin và vẫn còn duy trì các thủ tục của các vương quốc Hy Lạp. Các sử gia đã gặp nhiều may mắn khi các điều kiện đặc biệt ỏ Ai Cập như một nền hành chính tập trung, tình hình chính trị khá ổn định và liên tục, khí hậu khô ráo, làm cho rất nhiều tài liệu hành chính được bảo quản tốt cho đến ngày nay. Các sử gia nhờ đó mà có thế theo dõi một cách chi tiết, điều khó thực hiện ỏ các nơi khác, các diễn biến hành chính trong nước Ai Cập thuộc La Mã, thuộc By-dăng rồi thuộc Hồi giáo để thấy bộ máy hành chính hoạt động và đôi khi biến đổi như thế nào. Dù không có những tài liệu tương tự cho vùng Syria nhưng có nhiều khả năng là ở đây cũng giống như bên Ai Cập. Ở đây cũng vậy, một nền hành chính La Mã rồi By-dăng tiến hành các công tác thường ngày của chính phủ, giữ số sách kế toán và trao đổi công văn bằng tiếng Hy Lạp. Rất nhiều, nếu không nói là phần lớn, nhân viên đều là dân bản xứ đã Hy Lạp hoá chứ không phải là người gốc Hy Lạp. Khi xảy ra cuộc chinh phục của Hồi giáo, đại đa số thành phần này là người theo đạo Cơ Đốc.

Trong đế quốc Ba Tư, các điều kiện khí hậu cũng như những xáo trộn chính trị đã làm cho người ta không có được một kho tài liệu tương tự như ở Ai Cập. Nhưng các bằng chứng bên ngoài từ Thánh Kinh Do Thái hay từ các tác giả Hy Lạp cho thấy có một văn phòng chính phủ có tính nghiệp vụ cao hoạt động tích cực dưới quyền các hoàng đế Ba Tư xưa, còn các nguồn tài liệu Hồi giáo về sau cũng mô tả một hệ thống đăng ký phức tạp các hoạt động thuế vụ và tài chính khác. Có lẽ ngành hành, chính Ba Tư là nơi đã sản sinh ra các tập số sách đóng dưới dạng các bộ Kinh Thánh trong đó người ta ghi chép các sự kiện và được bảo quản để dùng cho tham khảo về sau. Giấy cói được dùng nhiều trong các văn phòng La Mã và By-dăng thì không đóng thành sách được nên các tài liệu viết trên giấy cói thường được lưu trữ theo từng cuộn. Giấy da cừu, dê và giấy da bê, tiện lợi và bền hơn, được dùng rất nhiều trong thời Cơ Đốc và được đóng thành sách có hình dạng như ngày nay. Loại da này cũng được dùng trong đế quốc Ba Tư để đóng sách ghi chép và còn giữ lại dưới thời A-rập, nên được các vị chủ nhân mới thường xuyên tham khảo. Khi có giấy bản thì việc ghi chép và giữ gìn sổ sách trỏ nên rất phố biển trên lãnh Thổ Hồi giáo.

Có lẽ thí dụ điển hình kỳ lạ nhất của tính liên tục trong hành chính là tình hình sau cuộc chinh phục của Hồi giáo vào thế kỷ thứ VII. Đế quốc Ba Tư đã bị xoá sổ, nhiều vùng đất rộng lớn của đế quốc By-dăng bị chiếm rồi sáp nhập vào một đế quốc A-rập Hồi giáo mới. Nhưng các tài liệu trên giấy cói ở Ai Cập cho thấy rằng dù có thay đổi gì đi nữa thì các công việc hằng ngày của chính phủ vẫn đều đều như cũ. Các nhà chức trách theo Cơ Đốc giáo ở Ai Cập vẫn thu những loại thuế cũ với những phương thức không hề thay đổi, họ vẫn viết các báo cáo hành chính như xưa, vẫn ghi ngày tháng theo lịch Cơ Đốc như trước kia vẫn làm. Thuế má thu được nay đã chuyển hướng đến một kho bạc khác nhưng tất cả mọi việc đều như cũ. Người ta chỉ nhận thấy, qua các tài liệu, những đổi thay thật sự diễn ra một cách từ từ trải dài trên hơn một thế kỷ. Chỉ khá lâu sau mới thấy xuất hiện các tài liệu trên giấy cói viết bằng hai thứ tiếng, Hy Lạp và A-rập. Rồi sau đó, càng ngày càng nhiều tài liệu tiếng A-rập, ít tiếng Hy Lạp và đến cuối thế kỷ thứ VIII chỉ còn tài liệu viết bằng tiếng A-rập trên giấy cói, tiếng Hy Lạp đã biến mất. Qua các bằng chứng có được, hình như ở Syria và Iraq cũng tương tự như vậy và cả ở vùng phía Đông, khi tiếng A-rập thay thế chữ viết và tiếng Ba Tư cổ.

Ngay cả khi có các thay đổi này thì cũng không có nghĩa là các nhân viên hành chính bị đuổi hay bị thay thế. Rất lâu sau khi người A-rập đến chinh phục, giới viên chức hành chính cũ vẫn giữ được các bí mật nghiệp vụ, đặc biệt là hệ thống kế toán của họ. Có nhiều câu chuyện trong biên niên sử A-rập kể lại việc người A-rập đến chiếm đóng và muốn nắm hết mọi công việc trong chính phủ, nhưng họ đã không thành công vì không ai ngoài các kế toán viên lưu dụng có thể đọc các sổ sách kế toán và không ai ngoài các công chức văn phòng có thể đảm đương việc trao đổi công văn giấy tờ. Mặc dù làm chủ trên các mặt trận chính trị và quân sự trong đế quốc, người A-rập đành phải thúc thủ, để mặc các viên chức lưu dụng tiếp tục công việc của họ. Đến khi cuộc chinh phục Hồi giáo được hai thế kỷ thì các vua chúa A-rập mới thành công trong việc bắt viên chức của mình dùng tiếng A-rập và thống nhất được các thủ tục hành chính trong toàn đế quốc. Nhưng ngay việc này cũng không nhất thiết có nghĩa là giới hành chính quan liêu cũ đã bị bỏ rơi mà chỉ đơn giản là họ đã thành thạo tiếng A- rập. Cùng với tiếng nói mới, nhiều người trong số họ cũng quy theo Hồi giáo nhưng không phải ai ai cũng làm như thế. Cho đến thế kỷ XIII và XIV, còn có nhiều tín đồ Hồi giáo sùng đạo ở Ai Cập phàn nàn rằng những người Copt, tức là người Cơ Đốc vẫn còn làm việc trong chính quyền và chuyên thu thuế, và như vậy thì một người Hồi giáo lương thiện cũng không được đối xử công bằng ngay trên đất nước họ.

Sư tồn tại kỳ lạ của truyền thống hành chính vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của việc hình thành những đại gia tộc các nhân viên thư lại. Lịch sử truyền thống tập trung sự chú ý vào các giáo chủ, các vương gia, các chỉ huy quân đội và các tỉnh trưởng, các nhân vật chính trị và quân sự có tên tuổi. Nhưng ít ra cũng xứng đáng được để ý đến là những con người hiếm khi được nêu tên và rất khó phát hiện ra họ trong các tài liệu, nhiều khi cũng không phát hiện được, đó là các cục vụ trưởng, các chánh văn phòng, các giám đốc tài chính, các thanh tra và nhân viên thuế vụ cùng những người dưới quyền họ mà từ đời này qua đời khác, từ thế kỷ này qua thế kỷ khác vận hành bộ máy chính quyền, thường xây dựng nên những truyền thống có tính triều đại và rốt cuộc làm cho họ trở thành một loại quý tộc của bàn giấy. Trong một bức thư gửi bạn đồng nghiệp, một viên chức ở đầu thế kỷ thứ VIII, đã nói lên với lòng tự hào vai trò của họ trong việc phục vu nhà nước và phục vụ xã hội:[2]

Thượng đế… đã cho bạn làm thư ký với những chức vụ rất cao cả, vì bạn là người có văn hoá và đạo đức, có hiểu biết và phán đoán. Nhờ có tài năng của bạn mà các cơ quan của giáo quốc có trật tự ngăn nắp, công việc quản lý đúng đắn. Nhờ có các khuyến cáo của bạn mà Thượng đế làm cho chính phủ hợp lòng dân, đất nước phồn vinh. Giáo chủ không thể không có bạn và ngoài các bạn thì không tìm đâu ra được người có năng lực. Vì vậy, đối với bậc quân vương, bạn là tai để Người nghe, mắt để Người thấy, lưỡi để Người nói và bàn tay để Người đánh xuống.

Nguyện vọng tự nhiên của các nhân viên hành chính, cũng chẳng khác gì những người có chức có quyền khác, là truyền lại các đặc quyền của họ cho con cháu, điều này đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng trong lĩnh vực giáo dục. Hình như các đế quốc Hồi giáo không phát triển một hệ thống tuyển mộ qua thi cử; cũng giống như nghề in và thuốc súng, đây là một phát minh của Trung Quốc chỉ qua phương Tây rồi mới được đưa trở lại vào thế giới Hồi giáo. Ở đây người ta tuyển mộ qua thực tập. Vào một thời điểm thích hợp, một viên chức chính phủ có thế giới thiệu con, cháu hay người mình bảo lãnh cho cơ quan, người này sẽ được nhận vào làm việc với cấp bậc khá thấp, ban đầu không có lương nhưng dần dần được lên chức. Đến thời hiện đại, cách làm này vẫn còn tồn tại; việc đỡ đầu, quyền bổ nhiệm, cất nhắc hay cả quyền tiến cử đã trở nên những lợi khí chính trị mạnh mẽ trong vùng. Cũng như trên nhiều nơi khác, quan hệ cá nhân trở thành rất quan trọng và có hiệu lực trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, không giống những hoạt động khác, trong lĩnh vực hành chính, có ô dù đỡ đầu và che chở cũng chưa đủ. Người thực tập cũng phải có một trình độ học vấn để có được những kỹ năng cần thiết. Do đó mà co một sự gắn bó giữa giới viên chức và giới học thức trong xã hội, tuy không khăng khít như ở châu Âu Cơ Đốc giáo nhưng cũng không phải là không quan trọng, nhất là vào cuối thời Trung cổ.

Có được hai thành phần trí thức và học vấn khác nhau, thế giới Hồi giáo Trung cổ đã phát triển hai loại văn học và giáo dục khác nhau. Một loại được gọi la adab, gồm các tác phẩm thi ca, lịch sử, văn chương cùng hàng loạt các tác phẩm khác thể hiện những gì mà một người có văn hoá phải biết và yêu mến. Còn loại kia, mang tên ilm, dịch theo nghĩa đen là “tri thức”, dành riêng cho các nhà giáo lý, gồm chủ yếu là các tác phẩm về khoa học tôn giáo - như Kinh Cô-ran và các bản thuyết giải, các truyền thuyết về Đấng Tiên tri, sách viết về đời sống, về các câu chuyện gương mẫu của Người và các vị phụ tá; từ đó rút ra hai ngành khoa học song song với nhau là thần học và giới luật học.

Dần dần, các nền hành chính By-dăng và Ba Tư cũng có những đổi thay, được thích nghi, đồng hoá, A-rập hoá và Hồi giáo hoá. Một kỷ nguyên mới bắt đầu với các cuộc xâm lược từ thảo nguyên dẫn đến việc người Thổ và sau đó người Mông Cổ đến làm chủ vùng Trung Á của thế giới Hồi giáo, thế giới này còn bị xâu xé bởi những xung đột tôn giáo giữa người Sun-ni và người Si-i, giữa các dòng Áp-bát và Fatima, giữa những người ôn hoà và quá khích trong nội bộ mỗi nhóm. Trong giai đoạn này có một sự thay đổi đáng kế trong việc đào tạo, trong đặc tính và trong quan điểm của giới viên chức nhà nước. Người ta chú trọng rất nhiều đến tôn giáo, đặc biệt là đến luật pháp và các thủ tục của Hồi giáo, trong giáo dục và đào tạo. Giới viên chức càng ngày càng trở thành sản phẩm của một nền giáo dục tôn giáo do các nhà giáo lý ulema khống chế.

Các viên chức hành chính, còn được gọi là các thư lại (tiếng A-rập là katity tao thành một nhóm người đông đảo, có quyền thế và tự tin trong xã hội Hồi giáo. Họ có y phục riêng, một loại áo choàng gọi là darraa, có thủ lĩnh riêng, đó chính là tể tướng vizier, người cầm đầu bộ máy hành chính dưới quyền giáo chủ hay quốc vương. Trước thời chính phủ bị quân sự hoá, nhân vật này đứng đầu các giới chức khác và khi có lễ lạc, ông thường đứng sau biểu tượng của chức vụ mình: một bình mực.

Người ta thường nói là Hồi giáo không có một hàng giáo phẩm. Trên mặt giáo lý thì điều này hoàn toàn đúng. Trong Hồi giáo không có tục phong chức giáo sĩ và cũng không có chức vụ này, không có thánh lễ với quyền hành lễ chỉ dành riêng cho giáo sĩ được phong. Trên nguyên tắc, bất kỳ ai có đầy đủ hiểu biết cũng có thể dẫn lễ cầu nguyện, thuyết giáo trong đền hay hành lễ trong các đám tang hay đám cưới. Cũng trên nguyên tắc không có các giáo sĩ làm trung gian giữa Thượng đế và tín đồ. Vì không có chức vu giáo sĩ cho nên trên nguyên tắc không thể có hàng giáo phẩm, không có các giáo sĩ cấp cao và cấp thấp, hay giám mục, hồng y, không có các hội nghị toàn giáo hay hội nghị giám mục. Một số người có thể dành cả đời mình cho việc tu hành, nhưng họ phải kiếm sống bằng cách khác, thí dụ như làm một nghề lương thiện trong thủ công nghiệp hay trong thương mại. Trong vấn đề này, quan điểm của Hồi giáo khác xa Cơ Đốc giáo và rất gần Do Thái giáo vì sau khi Thánh Điện Do Thái bị phá, và hàng giáo phẩm bị giải tán, người Do Thái không chấp nhận một hàng giáo phẩm mới, các pháp sư rabbi của họ chỉ được xem như những người thầy và những luật gia. Trong sách Châm Ngôn của các Đức Cha, một tài liệu của các pháp sư Do Thái có lẽ được sưu tầm vào thế kỷ thứ III, có một câu khá nổi tiếng để khuyên những người học và dạy kinh Torah Do Thái: “Đừng xem nó như một vương miện để tôn vinh mình, cũng đừng xem nó như một cái thuổng để đào đất.” Có lẽ trong kinh sách Hồi giáo cũng có những câu tương tự.

Lẽ tất nhiên là sự thật thì có hơi khác, và cùng với thời gian, các giáo sĩ Hồi giáo cũng như các pháp sư Do Thái giáo mất đi tính chất nghiệp dư của họ. Khi các giới luật trở nên đầy đủ và phức tạp hơn thì cần phải có những người chuyên trách để quản lý chúng và làm công tác xét xử. Khi khối lượng các tài liệu tôn giáo, lúc đầu chỉ có các kinh sách, tăng lên vì có thêm nhiều bài bình luận, giải thích và được hệ thống hoá thì cũng cần nhiều chuyên gia dành toàn bộ thời gian cho công tác nghiên cứu chúng. Dù không có tục lệ phong chức giáo sĩ, nhưng cả người Do Thái lẫn người Hồi giáo đều phát triển những hệ thống cấp chứng chỉ, theo đó một sinh viên, sau khi đã qua một khoá học ấn định, sẽ được giáo viên của mình hay các giáo viên khác cấp giấy chứng nhận đã trở thành một học giả thực thụ, một chuyên gia trong ngành khoa học tôn giáo. Rồi cũng vì các nhá thần học và cả các sinh viên thần học cũng phải ăn để sống cho nên người ta tạo ra một hệ thống để cung cấp các nhu cầu vật chất cho họ. Vẫn còn đúng khi nói là Hồi giáo không có hàng giáo phẩm, nhưng lại có một tầng lớp những chuyên gia được đào tạo về tôn giáo mà có lẽ không ngoa nếu gọi họ là giới giáo sĩ. Cũng như các thư lại, họ có trang phục riêng để dễ phân biệt mà bộ phận quan trọng nhất là khăn quấn đầu. Khăn này trở thành biểu tượng và đặc quyền của họ và các chức năng ấy vẫn được duy trì.

Giới giáo sĩ ulema bao gồm nhiều cấp, từ người hành lễ trong làng hay trong đền thờ bé nhỏ đến các chức sắc cao cấp như các vị qadi và mufti. Ta cũng nên nhớ rằng trong Hồi giáo, trên nguyên tắc, chỉ có một pháp luật do Thượng đế truyền qua thần khải. Do đó, pháp luật là một trong những ngành khoa học tôn giáo và những người chuyên giải thích pháp luật là một thành viên của giới giáo sĩ ulema. Những người này gồm có vị qadi, một quan toà do nhà vua cử ra để thi hành Thánh luật, vị mufti, một cố vấn pháp lý để đưa ra những phán xét hay những ý kiến về các vấn đề luật pháp còn đang bàn cãi, vị muhtasib, một thanh tra thương mại và đạo đức do chính phủ bổ nhiệm mà nhiệm vụ được quy định trong câu khuyến cáo hay được nhắc đến của Kinh Cô-ran để mọi tín đồ Hồi giáo phải tuân thủ, “làm việc thiện và tránh điều ác” (3:104,110; 22:41, vv…). Cho đến thế kỷ XIX thì không có luật sư, đây là một chức năng và nghề nghiệp mà trước đây pháp luật Hồi giáo không hề biết đến.

Trong những thế kỷ đầu của lịch sử Hồi giáo, mối quan hệ giữa nhà nước và giới giáo sĩ không được mặn mà cho lắm, nhiều khi còn mang tính ngờ vực lẫn nhau. Đối với người thật sự ngoan đạo, nhà nước là một thứ gì không tốt đẹp nhưng cần thiết và người tốt không được dính dáng vào. Phục vụ trong chính quyền là một việc hèn hạ và nhiều khi còn mang tội nữa bởi vì các thu nhập của nhà nước có được là do uy hiếp người dân, ai nhận lương của nhà nước là đã tham gia vào hành động tội ác này. Trong tiểu sử của những người ngoan đạo hay của các nhà hiền sĩ, thường hay có chuyện họ từ chối nhận chức vụ và lương bổng do nhà nước cấp. Nhận thì có danh vọng nhưng từ chối thì giữ trọn được tấm lòng liêm khiết. Chức vụ qadi lẽ tất nhiên là do nhà nước bổ nhiệm, nhưng trong văn học và đạo đức dân gian thì qadi lại là là một nhân vật hay bị chế giễu. Chức mufti, vì mang tính độc lập nên được kính trọng hơn. Chức này do các vị mufti tiền nhiệm đề cử và lương bổng đến từ các khoản thù lao hay do các quỹ tôn giáo cấp. Theo thông lệ, các nhà giáo lý ulema cũng như các cơ quan của họ, để chi trả mọi chi phí, dựa rất nhiều trên các quỹ tôn giáo - tiếng A-rập gọi là waqf, một loại tài sản không chuyển nhượng được dùng cho những mục đích tôn giáo.

Trong việc phân chia quyền lực không chính thức và thiếu mạch lạc giữa nhà nước và giới giáo sĩ ulema, thì nhà nước giao toàn quyền cho các ulema quản lý tất cả những vấn đề có liên quan đến Thánh luật Hồi giáo. Sự công nhận này thêm vào việc các giáo sĩ không dính dáng gì đến nhà nước - đặc biệt là những người không giữ các chức vụ công cộng - làm cho họ có một uy tín đạo đức rất lớn. Trong Hồi giáo, Thánh luật điều hành mọi quan hệ xa hội và quan hệ cá nhân cho nên những người được quyền giải thích nó có một tác động rất sâu rộng trong toàn xã hội. Quảng đại quần chúng dựa vào Thánh luật để được hướng dẫn, để làm cơ sở cho các quyết định trên một loạt vấn đề kế cả và đặc biệt là việc hôn nhân, ly dị và thừa kế.

Quan hệ, hay nói cho đúng hơn là sự không có quan hệ, giữa những người đại diện cho tôn giáo và nhà nước đã làm nảy sinh nhiều khó khăn nghiêm trọng trên thực tế. Các nhà giáo lý đã cho ra đời những quan điểm riêng của họ về các quyền lợi và nghĩa vụ chính trị, mà trên nhiều mặt, các vua chúa cho là khó lòng thực hiện. Nhiều khi các vua chúa cần đến sự hậu thuẫn của các nhà giáo lý, và lúc ấy, để đổi lấy hậu thuẫn, họ thường được yêu cầu phải áp dụng một chính sách lý tưởng dựa trên một quá khứ thiêng liêng, huyền bí. Đối với các nhà giáo lý Sun-ni, quá khứ ấy là tấm gương của bốn vị giáo chủ tài ba và của giáo chủ Umar II dòng Umayya. Đối với các nhà giáo lý Si-i, chỉ có các tấm gương của Đấng Tiên tri và của giáo chủ Ali là có giá trị, các vị giáo chủ “tài ba” thì cũng chắng tài ba gì cho lắm.

Không bao giờ có được sự rút lui hoàn toàn của các nhà giáo lý ulema khỏi chính trường, nhưng giữa hai bên đã dần dần đi đến một sự hoà hoãn, một tạm ước. Các vua chúa phục tùng Thánh luật trên nguyên tắc, cố gắng làm gì không lộ liễu trái với các quy định trong đó, thỉnh thoảng lại tham khảo ý kiến của các ulema và còn phong chức tước cho họ nữa. Về phần các ulema thì họ tránh không có quan hệ quá mật thiết với chính quyền, khi một người trong số họ chịu nhận quan tước thì phải tỏ vẻ bất đắc dĩ để khỏi bị những người ngoan đạo hơn nghi ngờ.

Hậu quả của các quan hệ ấy là giới giáo lý ulema bị chia thành hai nhóm. Một nhóm gồm những người rất sùng đạo, được cả các đồng nghiệp lẫn quần chúng tôn sùng là những người ngay thẳng và thanh liêm để bảo vệ cho sự thật, còn nhóm kia, có thể xem là nhóm thoả hiệp hay thực dụng, thì gồm có các ulema đã chịu phong chức tước và qua đó đã mất hết uy tín đạo đức. Tình trạng ấy, khi các nhà giáo lý ulema ít lương tâm và kém thận trọng ra làm quan cho nhà vua trong khi các ulema sùng đạo và có lương tâm tìm cách tránh, đã dẫn đến những hậu quả tai hại cho cả nhà nước và tôn giáo. Quần chúng nhân dân rõ ràng là quý trọng những ai khước từ giàu sang phú quý không chịu dấn thân vào quan trường, nhiều khuyến cáo trong các bài viết về tôn giáo rõ ràng là những lời kêu gọi tẩy chay công tác trong bộ máy chính quyền.

Nhiều đổi thay đã xảy ra trong các thế kỷ XII và XIII. Đây là thời buổi có những cuộc đấu tranh tôn giáo lớn và, trong một thời gian, tưởng chừng như đã đe dọa đến sự tồn vong của Hồi giáo và cộng đồng các tín đồ. Hồi giáo bị tấn công từ mọi phía, bên ngoài từ các hướng Tây và Đông, bên trong từ những kẻ thù nội bộ. Đứng trước các hiểm họa, hàng ngũ giáo dân được siết chặt lại, những thành phần trong xã hội Hồi giáo trước đây chia rẽ và ngay cả chống đối lẫn nhau thì nay tập hợp lại. Các quan chức nhà nước, cả dân sự lẫn quân sự, có quan tâm nhiều hơn đến tôn giáo, còn các giáo dân thì ít có ác cảm hơn đối với nhà nước.

Trong việc xích lại gần nhau của nhà nước và tôn giáo và giữa những người ở cả hai phe, tác nhân quan trọng nhất là vai trò của các madrasa, một hình thức chủng viện hay trường học và đã trở thành các trung tâm giảng dạy đại học chính của Hồi giáo. Trong buổi đầu, giáo dục tiểu học và trung học thường được phổ biến trong các đền thờ, hay với sự cộng tác của các cơ sở này. Đến thế kỷ thứ IX và X, trong một số đền thờ Hồi giáo có mở các lớp giảng dạy Đại học, chủ yếu là đào tạo về các ngành khoa học tôn giáo nhưng không phải chỉ riêng các ngành này mà thôi. Các trung tâm ấy được cả nhà vua và các tư nhân bảo trợ. Một vài trung tâm lớn có các thư viện dùng cho cả sinh viên và các học giả. Cũng có những thư viện bán công trong đó có các sách về những môn không tôn giáo như toán học, y học, hoá học, triết học và âm nhạc. Đến thế kỷ thứ IX, giáo chủ al-Mamun dòng Áp-bát cho lập tại Baghdad “Cung Trí tuệ” nổi tiếng, cơ sở đầu tiên trong số rất nhiều trung tâm đại học. Có lẽ nó mô phỏng theo trung tâm đại học cổ ở Gondeshapur nước Ba Tư, một nơi đào tạo và nghiên cứu khoa học Hy Lạp, đặc biệt là y học, do các người Cơ Đốc giáo dòng cảnh giáo Nestorius sáng lập khi lánh nạn truy hại tôn giáo của By-dăng chạy sang Ba Tư dưới triều Sasanid. Chính trung tâm này chắc cũng đã phỏng theo các trường cổ của Hy Lạp ở Alexandria và Antioch.

Trường học madrasa dưới dạng cổ điển của nó có lẽ được lập ra lần đầu tiên vào thế kỷ XI rồi sau đó có rất nhiều trường được xây dựng trong khắp thế giới Hồi giáo. Trường thường gắn liền với một đền thờ, đôi khi nó nằm riêng nhưng có một chỗ thờ cúng nhỏ - một loại miếu thờ - để cho các giáo viên và học sinh sử dụng, về sau nó được tổ chức rất giống một trường đại học với một chương trình giảng dạy và một thời khoá biểu, một tập thể giáo sư chuyên trách có lương bổng, các học bổng và các cơ sở dành cho sinh viên. Cũng như các trường học trong nhà thờ ở châu Âu thời Trung cổ, các trường madrasa đào tạo chủ yếu các ngành tôn giáo và luật pháp, trong Hồi giáo, hai ngành này chỉ là hai nhánh của một môn chung. Về sau, cũng như các trường đại học Tây phương, các trường madrasa đóng một vai trò quan trọng trong việc đào tạo một giai cấp tri thức nói chung.

Đến khi những viên chức nhà nước tỏ vẻ quan tâm sâu sắc đến tôn giáo, thì những nhà chuyên nghiệp trong tôn giáo cũng muốn tham gia vào công vụ. Trong đế quốc Ottoman, có lẽ phần nào chịu ảnh hưởng của các tổ chức Cơ Đốc giáo mà người Ottoman tiếp xúc trong các vùng đất họ mới chiếm, các giáo sĩ hồi giáo cũng bắt đầu tham gia chính quyền. Cả các qadimufti đều do chính phủ bổ nhiệm và cho cai quản một vùng đất mà nếu ta gọi là giáo phận thì cũng không phải là không thích hợp. Ở giai đoạn này, giới giáo sĩ trở thành nhánh thứ ba của chính phủ hoàng gia sau các giới viên chức hành chính và quân sự. Họ cũng có cấp bậc riêng, trên cùng là sheykh-al-Islam, vị mufti cao nhất của thủ đô mà ta có thể gọi là Giáo trưởng của đế quốc Ottoman cũng không sai mấy.

Điều không tránh khỏi là khi các giáo sĩ ulema sát cánh với nhà nước thì họ rời xa dân chúng và mất đi phần lớn ảnh hưởng trước đây họ có được. Đối với đa số tín đồ, vị trí của họ nay được thay thế bởi các tu sĩ sheykh dòng Xu-phi, những người có một cách tu khác hẳn. Từ cuối thời Trung cổ, dòng Xu-phi được tổ chức thành những hội đoàn có những phương pháp thần bí khác nhau. Các thủ lĩnh và thành viên của các hội đoàn này, thường được gọi là các thầy đồng dervish đã lấp vào những chỗ trống của Hồi giáo chính thống. Các cuộc họp và các nghi lễ của họ mang đến niềm an ủi và sự cảm thông trên mặt tinh thần và đôi khi, tình đoàn kết và tương trợ trong đấu tranh để đáp ứng các nhu cầu của con người.

Các tác giả Hồi giáo thời Trung cổ thường chia xã hội - có lẽ họ muốn nói là phân loại những người điều hành xã hội - ra làm hai nhóm chính, nhóm những người cầm gươm và nhóm những người cầm bút. Nhóm đầu lẽ tất nhiên gồm những người trong giới quân sự và nhóm thứ hai gồm cả nhưng viên chức nhà nước và các giáo sĩ. Tuy nhiên, cũng còn một số người mặc dù sống bằng các nghề trí óc hay văn chương nhưng không hoàn toàn phù hợp với một trong hai nhóm trên. Thí dụ như các thầy thuốc, thường hay được nhắc đến trong các bài viết về lịch sử hay các tiểu sử, đôi khi vì họ là cố vấn y tế cho vua, đôi khi vì công tác của họ trong các bệnh viện đa có rất nhiều trong thế giới Hồi giáo, cũng có lúc vì công trình nghiên cứu của họ và các tác phẩm họ viết ra. Lý luận và thực hành của ngành y tế Hồi giáo thời Trung cổ có vay mượn từ các nguồn Hy Lạp, nhưng người Hồi giáo cũng đóng góp thêm rất nhiều, và ở cuối thời Trung cổ, trình độ y học lý thuyết và thực hành trong thế giới Hồi giáo vượt rất xa tất cả những gì có ở châu Âu.

Tuy nhiên đến đầu thời Cận đại, ngành y học Hồi giáo lại bị tụt lùi khá xa. Chỉ có một số ít các tài liệu y học châu Âu được dịch ra tiếng A-rập. Vào thế kỷ XV và XVI, một số người tỵ nạn Âu châu, phần lớn gốc Do Thái, hành nghề y ở các nước Hồi giáo. Đến thế kỷ XVII, XVIII một số người dân Ottoman theo Cơ Đốc giáo sang châu Âu học ngành y rồi về nước hành nghề. Phải đợi đến thế kỷ XIX mới có nhiều vị hoàng đế có đầu óc cải cách, gửi sinh viên sang các trường y ở châu Âu và mời thầy nước ngoài về dạy trong các trường y mới mở ra trong nước, nhờ đó cứu được ngành y thoát khỏi vòng kiềm tỏa của truyền thống y học Hy Lạp và Hồi giáo vẫn tồn tại từ thời Trung cổ mà không hề có đổi mới nào cả.

Một nhánh quan trọng trong nhóm các nhà cầm bút — hay nói đúng hơn là những người sử dụng lời nói - là các nhà thơ. Một vị vua chúa tầm thường nhất cũng nuôi ít nhất là một nhà thơ để ca tụng mình bằng những vần thơ dễ nhớ và dễ quảng bá. Các vị đại vương thì có trong triều cả một tập thể thi gia chẳng khác gì một bộ tuyên truyền của chính phủ. Nhiều nhà thơ cũng phục vụ những gia đình giàu có, làm thơ ca tụng các lễ cưới xin, dịp sinh quý tử hay những sự kiện khác. Vào thời buổi chưa có các phương tiện truyền thông đại chúng thì thi ca và các nhà thơ có một chức năng quan trọng trong việc truyền bá tin tức hay tô điểm cho hình ảnh một cá nhân.

Nếu nhà thơ tô điểm cho hình ảnh hiện thời của hoàng đế thì người viết sử lại lo cho hình ảnh của nhà vua truyền cho hậu thế. Trong thời Trung cổ, khác với nhà thơ, người viết sử không phải là người làm nghề tự do mà cũng không phải là nhân viên của triều đình. Họ phần lớn thuộc về giới viên chức hay giới giáo sĩ. Có lẽ vì vậy mà dưới triều các giáo chủ, họ vẫn giữ được một mức độ độc lập và tự do khá cao trong các lời phát biểu, về sau thì các vua chúa có thói quen bổ nhiệm các nhà viết sử cùng với các nhà thơ của triều đình, dưới thời đế quốc Ottoman cách làm này được chính thức hoá với sự ra đời của chức vụ sử gia của Hoàng đế do chính Hoàng đế cử ra. Nhiệm vụ chính của người giữ chức này là tiếp tục công việc của các vị tiền nhiệm để ghi chép các biên niên sử của đế quốc. Chức vụ này được duy trì qua nhiều thế kỷ cho đến khi đế quốc Ottoman sụp đổ; sử gia cuối cùng lúc ấy trở thành chủ tịch đầu tiên của Hội Nghiên cứu Lịch sử Ottoman.

Lẽ tất nhiên cũng có các nghề khác, nhưng phần lớn các nhà thiên văn, nhà chiêm tinh, nghệ sĩ và người viết thư pháp, kiến trúc sư và kỹ sư đều bằng cách này hay cách khác nhập ngạch vào cơ quan nhà nước đã sử dụng họ. Trong thời Ottoman, các nghề kiến trúc và kỹ thuật hầu như hoàn toàn thuộc về quân đội.

Trong vùng Trung Đông cũng như ở mọi nơi khác trên thế giới, các vua chúa phát triển quân đội đôi khi để chiến đấu chống ngoại xâm nhưng luôn luôn là để giữ vững trật tự trong nước và bảo vệ uy quyền của quốc gia.

Dưới thời chiếm đóng của người La Mã, quốc phòng và an ninh được các quân đoàn La Mã đảm nhiệm với sự giúp đỡ của các lực lượng phụ trợ người bản xứ. Quân số đóng trong vùng này không lớn lắm. Ngay cả ở Syria gần biên giới với Ba Tư, và là nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất trong số các tỉnh miền Đông, cũng chỉ đóng 4 quân đoàn trong thời bình, so với 8 quân đoàn đóng ở Âu châu trên vùng biên giới nước Đức. Lẽ tất nhiên là trong thời chiến, quân số tăng lên và khi cần thì các quân đoàn có thể điều động từ nơi khác đến hay được tăng cường thêm. Trong các cuộc chiến tranh ở Armenia (58-66 CN) hay trong cuộc nổi dậy của người Do Thái (66¬70 CN), đã có nhiều đợt chuyển quân, đặc biệt là quân đoàn 10, quân đoàn Fretensis, được điều động từ Bắc Syria đến Jerusalem rồi đóng luôn ở đấy, trỏ thành quân đoàn trấn thủ của tỉnh Judea mới được thành lập trong đế quốc La Mã.

Các quân đoàn lúc đầu chỉ tuyển mộ những công dân La Mã, nhưng khi người dân các tỉnh xa dần dần được hưởng quyền công dân thì họ cũng được gọi nhập ngũ. Có nhiều bằng chứng cho thấy trong vùng Tiểu Á và vùng Cận Đông cũng như ở các nơi khác trong đế quốc, binh sĩ người bản xứ có thể phục vụ ơ các nơi khác trong vùng chứ không phải chỉ chính quê hương mình. Các quân đoàn La Mã thường được các lực lượng phụ trợ giúp đỡ, đặc biệt là trong các công tác bảo vệ an ninh. Các lực lượng này có thể là quân của các vua chư hầu đã được tổ chức theo kiểu quân La Mã, cũng có thể do chinh người La Mã tuyển mộ và huấn luyện, thí dụ như các đơn vị đặc biệt cưỡi lạc đà có tên là Alae Dromedariorum và các đơn vị kỵ binh xạ thủ. Những người trong các bộ lac A-rập vùng biên giới sa mạc phục vụ trong các đơn vị này mang đến những hiểu biết trực tiếp và kinh nghiệm về các phương pháp chiến đấu sẽ rất có ích khi xảy ra cuộc chinh phục Hồi giáo. Các nhiệm vụ cảnh sát thường do những tiểu đoàn lính phụ trợ đảm nhiệm; tên của các lực lượng này còn sót lại trong từ ngữ A-rập là shurta, thường dùng để chỉ lực lượng cảnh sát của các giáo chủ và các chế độ Hồi giáo khác.

Đế quốc Ba Tư với một lực lượng quân sự hùng mạnh là một đối thủ đáng gờm của La Mã. Nếu bộ binh do các lãnh chúa tuyển mộ từ thành phần nông dân không được người La Mã đánh giá cao cho lắm thì các đơn vị kỵ binh đánh thuê và các lực lượng phụ trợ gồm những người quen chiến đấu sống ở vùng biên giới lại là những đội quân thiện chiến. Thành phần cốt lõi của quân đội Ba Tư được tuyển mộ từ giới quý tộc; kỵ binh đính giáp Ba Tư (cataphract), cưỡi ngựa, mặc áo đính giáp, vũ trang bằng cung và giáo là một trong những lực lượng giỏi chiến trận nhất thời bấy giờ. Còn các cung thủ kỵ binh của người Parthia với chiến thuật đánh chớp nhoáng cũng được người La Mã kính nể. Một sáng kiến lớn của quân đội Ba Tư là cái bàn đạp ở yên ngựa giúp cho người kỵ binh mặc giáp trụ đâm lao mạnh hơn, do đó kỵ binh trở thành một thứ “thiết giáp xa” ở thời đầu Trung cổ.

Dưới triều Hoàng đế Chosroes I (531-579) trong đế quốc Ba Tư có nhiều đổi thay, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự, quân đội trở nên chuyên nghiệp và ít theo cách tổ chức phong kiến hơn. Binh lính được trả lương và phụ cấp để sắm trang bị, được huấn luyện lâu và kỹ càng hơn, có kỷ luật cao hơn. Thay vì có một chỉ huy tối cao độc nhất, chức Eranspahbadh, một chức vụ tương đương với Bộ Trưởng Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, và khi cần thiết làm cả nhiệm vụ đàm phán hoà bình, thì nay trong quân đội có một hàng ngũ tướng lĩnh, thống đốc quân sự và sĩ quan. Quân đội của Chosroes thắng được nhiều trận trong việc dẹp tan nội loạn, bình định biên giới, đuổi quân Ethiopia khỏi Yemen, đánh tan quân Hung Nô Hephthalite và trong cuộc chiến chống đế quốc By-dăng, chiếm được Syria, tàn phá thành Antioch. Tuy nhiên, quân đội ấy đã bị thất bại trước cuộc tân công của người Hồi giáo A-rập.

Trên bán đảo A-rập Tiền Hồi giáo, khái niệm về một đội quân chính quy, chuyên nghiệp tách rời khỏi tập thể nam giới trưởng thành cũng như khái niệm về một chế độ quân chủ thường đi đôi với nó thì thật là xa vời và không được ai ưa thích. Đôi khi nhiều người dân của các vương quốc trên vùng biên giới phía Bắc có phục vụ trong các đơn vị vũ trang phụ trợ của cắc đế quốc By-dăng và Ba Tư, và có lẽ trong các quốc gia tiên tiến hơn ở miền Nam có một tổ chức quân đội dưới hình thức này hay hình thức khác. Nhưng ở miền Bắc và miền Trung Arabia thì quân đội chỉ đơn giản là những người dân bộ lạc có vũ khí, tập hợp lại để đi cướp phá hay đi chiến đấu.

Qua các chuyện kể ở đầu thời đại Hồi giáo, ta đã thấy có những đổi thay đáng kể. Đấng Tiên tri và các người kế nhiệm không phải lãnh đạo chỉ một bộ lạc mà đứng đầu một cộng đồng tôn giáo - chính trị gồm những người có nguồn gốc khác nhau và trước đây đôi khi còn chống đối nhau. Họ sẽ phải chiến đấu liên tục, ban đầu thì chống lại bộ lạc Quraysh vô thần và sau đó, khi Đấng Tiên tri đã qua đời thì tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phục. Các cuộc chiến tranh này diễn ra trong một thời gian dài và trên một bình diện rộng cho nên bắt buộc quân đội phải ngày càng chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Các tài liệu A-rập cho thấy, có sự phân biệt mà trước đây ở miền Trung và Bắc Arabia không có, giữa binh lính và dân thường, trong đám binh lính lại có sự phân biệt giữa quân sĩ chuyên nghiệp phục vụ dài hạn và lính phụ trợ hay không chuyên nghiệp phục vụ ngắn hạn. Theo một nguyên tắc mà về sau các luật gia mới đề ra, nhiệm vụ thánh chiến jihad thuộc về mọi tín đồ nam giới Hồi giáo khoẻ mạnh trong bảo vệ và thuộc về toàn thể cộng đồng Hồi giáo trong tấn công. Trường hợp tấn công có lẽ phản ánh tình hình trong các cuộc chinh phục khi các bộ lạc phải cung cấp một chỉ tiêu quân số, phần lớn chỉ tiêu này gồm những người tình nguyện.

Ngay những người là nòng cốt lâu dài của các quân đội Hồi giáo cũng chưa phải là lính chuyên nghiệp thường trực. Khi không phải chiến đấu, họ có thể và thường có những nghề khác. Chỉ trừ một số ít ngoại lệ, họ không sống trong doanh trại xa gia đình. Tuy nhiên chiến tranh vẫn là nghề nghiệp và nguồn thu nhập chính của họ. Họ sống nhờ được chia phần rộng rãi các chiến lợi phẩm thu được trong các cuộc chiến tranh chinh phục.

Trừ trường hợp ở Syria, vì đã trở thành thủ phủ của đế quốc dưới triều các giáo chủ Umayya, còn ở các nơi khác, quân đội Hồi giáo thường đóng trong những đồn lính về sau trở thành các thành phố trú quân. Đó là trường hợp của Basra và Kufa ở Iraq, Fustat ở Ai Cập, Kairouan ở Tunisie, và Qom ở Ba Tư. Ở Syria, lính A-rập phục vụ trong những quân khu, mỗi quân khu có một quân đoàn, từ Bắc xuống Nam có các quân khu Himms, Damascus, Jordan, Palestine, tất cả đều dựa trên cách chia lãnh Thổ cũ của đế quốc By-dăng. Quân A-rập ở Syria tham gia vào các chiến dịch theo mùa trên biên giới By-dăng và những cuộc viễn chinh quy mô như trận tấn công vào Constantinople. Khi đã có nhiều kinh nghiệm và trở nên thiện chiến, và khi lương bổng được nâng lên, họ mang tất cả các đặc tính của một đội quân chính quy, đó là quân của giáo chủ Umayya đóng ở Syria, ở Iraq và Ai Cập thì không có tổ chức tương tự như thế đối với các binh sĩ A- rập đã định cư vì họ trở lại quy chế dân quân bộ lạc, không thích phục vụ trong quân đội chính quy.

Triều Áp-bát cũng tiếp tục cách tổ chức như trên với một thay đổi là quân chính quy ở Syria được thay thế bằng quân kéo đến từ Khorasan, vùng đất nằm ở phía Đông Iran, nơi dấy nghiệp của dòng Áp-bát và đạo quân này trong một thời gian dài là chỗ dựa chính của triều đại.

Việc này mang đến một đổi thay quan trọng. Quân đội của giáo chủ lúc đầu đại đa số là người A-rập và không hề có toan tính tuyển mộ dân bản xứ ở Syria và Ai Cập, dù sao thì những dân này sau nhiều thế kỷ bị La Mã và By-dăng đô hộ cũng không còn ý nguyện và năng khiếu để dấn thân vào binh nghiệp. Tình hình lại rất khác trong các tỉnh Iran cũ ở miền Đông đế quốc. Người Iran, khác với những người láng giềng phương Tây, không phải chỉ đã đơn thuần thay đổi người đứng đầu để chế. Họ vẫn còn giữ những kỷ niệm thời huy hoàng của họ trước đây cùng với truyền thống quân sự, cho nên một khi quy theo đạo Hồi, họ cảm thấy phải đóng một vai trò hàng đầu cả trong chính phủ và quân đội. Điều này cũng đúng, mặc dù theo một cách khác hẳn, đối với người dân Berber không chịu thần phục trong các tỉnh cũ của La Mã nằm trên đất Bắc Phi và cũng chịu sự đô hộ của người A-rập.

Từ trước, các thủ lĩnh A-rập đã đưa những người mawali vào quân đội của họ, đây là những dân không phải A-rập đã quy theo Hồi giáo và là khách hàng của các bộ lạc; trong quân đội, họ có những cấp bậc và lương bổng thấp hơn người A-rập. Họ đóng một vai trò ngày càng quan trọng, đặc biệt là trên vùng biên giới; nhờ có những người dân thiện chiến sống ở đây mà quân đội Hồi giáo chinh phục được thêm nhiều đất. Người Berber ở Bắc Phi là thành phần chính trong quân đội Hồi giáo đi chinh phục Tây Ban Nha. Các dân tộc ở Bắc Iran và Trung Á đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền đạo Hồi đến các dân tộc anh em của họ sống bên kia biên giới.

Nhưng ngay cả trong những chiến thắng lớn ban đầu, những dân này cũng chỉ là dân biên giới, lính phụ trợ chứ không phải thuộc quân đội của giáo chủ và họ thường đóng quân xa thủ đô. Việc đưa quân Khorasan vào Iraq của dòng Áp-bát là một thay đổi lớn. Quân Khorasan trên nguyên tắc là người A-rập nhưng họ đã sống trong vùng này qua nhiều thế hệ, đã lập gia đình với các phụ nữ Iran và sống theo phong tục Iran. Ít lâu sau, đạo quân này có cả những người Iran thật sự quê quán ở miền Đông Iran.

Dần dần, dòng Áp-bát bỏ việc tự động trả lương cho những người A-rập có tên trong sổ lính. Từ thế kỷ thứ X trở đi chỉ những người thật sự phục vụ trong quân ngũ mới có lương. Có hai loại lính: lính chuyên nghiệp thường trực có lương và quân tình nguyện trong một chiến dịch thì được trả bằng chiến lợi phẩm.

Quân cảnh vệ Khorasan của các giáo chủ Áp-bát cũng không tồn tại được lâu hơn quân chính quy ở Syria của các giáo chủ Umayya trước đấy, chỉ sau chừng một thế kỷ dưới triều Áp-bát mà đạo quân ấy được thay thế bằng một quân đội có cách tuyển mộ hoàn toàn khác hẳn - một phương thức có tác động đến tương lai quân sự và chính trị của các quốc gia Hồi giáo trong hàng nghìn năm và hơn thế nữa.

Người nô lệ được vũ trang và quân phụ trợ tuyển từ đám dân man di đều không phải là những điều mới lạ. Trong một thời gian, cảnh sát của thành Athens cổ gồm toàn người nô lệ Scyth được vũ trang, họ thuộc quyền sở hữu của thành phố. Nhiều quan chức La Mã cũng có quân bảo vệ vũ trang, thường là người man di. Khi tuyển lính từ các dân tộc “hiếu chiến” sông trên hay ngoài biên giới, các vua chúa Hồi giáo cũng chỉ bắt chước người La Mã, người Ba Tư và người Trung Quốc trước đấy và các đế quốc phương Tây cũng sẽ làm như vậy nhiều thế kỷ về sau. Nhưng lịch sử quân sự của các quốc gia Hồi giáo lại có một nét độc đáo mới: người lính nô lệ là thành viên của một đạo quân nô lệ, dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh nô lệ và, đây là điều nghịch lý tột cùng, họ phục vụ cho các vua chúa nô lệ của những triều đại nô lệ.

Paul Rycaut, một du khách người Anh đến Thổ Nhĩ Kỳ vào giữa thế kỷ XVII đã quan sát và giải thích rõ tính hợp lý của hệ thống ấy. Khác với các vua chúa phương Tây có những người phục vụ tuyển mộ trên các tiêu chuẩn “Gia đình, Dòng dõi và Quý tộc” thì, theo lời Rycaut:[3]

[Người Thổ]… thích được phục vụ bởi người của mình, những người mà họ đã nuôi dưỡng và đào tạo, những người phải phục vụ lại chủ bằng những gì mà chủ đã ban cho; những người mà chủ đã nhồi vào đầu tính khôn ngoan và đạo đức, đã đưa vào miệng đồ ăn thức uống để nuôi thân thể và khi đến tuổi trưởng thành, phải bồi thường lại cho chủ những công và của chủ đã bỏ ra, đó là những người phục vụ mà chủ có thể nâng đỡ mà không gây ghen tị, hay đạp đổ mà không tạo nguy hiểm.

Những người thanh niên được chỉ định để đảm nhiệm các trọng trách của quốc gia… phải được bắt trong chiến tranh hay từ những vùng xa xôi giới thiệu đến… Chính sách tuyển mộ này thật rõ rệt, vì được giáo dục trên những nguyên tắc và những tục lệ khác, chúng sẽ thù ghét bố mẹ, vì đến từ những vùng xa xôi, chúng sẽ không có người quen biết, từ trường học đến công sở, chúng không có bạn bè thân thuộc của riêng chúng và chỉ biết có Chủ nhân mà cách dạy dỗ cũng như nhu cầu bắt chúng phải luôn luôn phục tùng.

Rõ ràng là cách tuyển mộ này được đưa ra để giải quyết một trong số những vấn đề cố hữu của mọi vua chúa chuyên quyền: làm thế nào để có được những người giúp việc trong quân đội cũng như trong bộ máy dân sự có năng lực và đáng tin cậy mà không tạo ra trong quốc gia một nhóm người đầy quyền lực và gắn bó với nhau, có khả năng lấn áp và đôi khi tiếm đoạt cả vương quyền, những thời điểm và đất nước khác, nhiều vị vua cũng có những giải pháp khác cho vấn đề này. Trước kia, các giáo chủ Hồi giáo lập ra những đạo quân chuyên nghiệp gồm những binh lính người nước ngoài bị bắt làm nô lệ từ nhỏ và chỉ trung thành với tổ chức đã đào tạo và huấn luyện họ. Vì xuất thân từ những vùng đất xa xôi hay nằm ngoài biên giới, họ không có bạn bè thân thuộc trong đám dân bản xứ, mà ngay đến việc trao đổi tiếp xúc với những người này, họ cũng đã gặp nhiều khó khăn. Bị tách rời khỏi gia đình và môi trường gốc trên cả mặt địa lý và văn hoá, họ cũng chẳng có anh em, họ hàng để trông cậy nhờ vả. Và cứ mỗi thế hệ binh sĩ nô lệ lại không kế tiếp bằng một thế hệ con cái của mình mà bằng một lớp nô lệ khác từ xa đến, cho nên họ khó lòng trở thành một tầng lớp quân sự để dễ dàng biến thành một giai cấp quý tộc có khả năng tranh giành quyền lực với nhà vua chuyên chế.

Hệ thống này cũng không phải là hoàn hảo. Nhiều khi các binh sĩ nô lệ tập hợp lại thành từng nhóm sắc tộc và có cả những trung đoàn lấy người cùng quê quán hay cùng bộ lạc. Đôi khi, đặc biệt là trong đế quốc Ottoman, những người nô lệ vẫn giữ liên lạc với gia đình và quê hương mình rồi khi có chức có quyền, họ kéo anh em bà con đến để cùng hưởng thụ. Giống như mọi người, người nô lệ trong quân ngũ cũng lo cho tương lai của con cái, và mặc dù ít khi đưa được con vào quân đội, họ vẫn có thể tìm cho chúng những vị trí ở các nơi khác như trong chính quyền hay tổ chức tôn giáo. Vào cuối thời Trung cổ, biết bao gia đình quyền quý thuộc giới thư lại hay tôn giáo đều bắt đầu bằng cách này.

Nhưng nhìn chung thì hệ thống này hoạt động khá tốt. Nhờ có nó mà thế giới Hồi giáo Trung Đông có được những quân đội hùng mạnh đủ sức chiến thắng và đánh đuổi quân Thập tự chinh và ngăn bước tiến của những kẻ thù nguy hiểm hơn nhiều là quân Mông Cổ. Chỉ ở một điểm mà các đạo quân nô lệ thường không làm hài lòng các vị vua chúa đã tạo ra và sở hữu chúng. Trên nguyên tắc, người lính nô lệ chỉ phục tùng hoàng đế. Nhưng thật ra, họ lại trung thành với đơn vị của họ và với các sĩ quan chỉ huy đơn vị. Chẳng bao lâu, các chỉ huy quân đội, chính họ cũng xuất thân từ thành phần nô lệ, trở thành những chủ nhân thật sự ở các địa phương và ngay cả thủ đô, lấn áp các giáo chủ đã mất hết quyền lực. Cuối cùng thì nhiều chỉ huy nô lệ cũng lên ngôi vua, đôi khi lập nên những triều đại riêng mặc dù không tồn tại lâu dài; đôi khi, như ở Ai Cập vào cuối thời Trung cổ, áp đặt nguyên tắc là tuyển mộ và thừa kế phải dành riêng cho thành phần nô lệ, ngay cả cho chức vụ quốc vương.

Trong buổi đầu của thời đại Hồi giáo, cũng thấy nói đến binh lính lây từ thành phần nô lệ, nhưng phần lớn là những người đã được trả tự do phục vụ cho chủ hay cho chủ cũ của mình. Người đầu tiên lập ra những đạo quân nô lệ, theo các sử gia, là giáo chủ Áp-bát al-Mutasim, trị vì từ 833 đến 842 CN. Đạo quân cận vệ của ông gồm toàn lính nô lệ gốc Thổ, bị bắt từ bé trên các vùng thảo nguyên ngoài biên giới đế quốc Hồi giáo và được huấn luyện để phục vụ trong quân đội. Chẳng bao lâu, các lực lượng chiến đấu và đồn trú của hầu hết các giáo chủ Hồi giáo chỉ gồm lính nô lệ, chủ yếu người gốc Thổ. Trong phần đất Viễn Tây của Hồi giáo, ở Bắc Phi và Tây Ban Nha, khi nào có khả năng, người ta cũng tuyển mộ lính nô lệ gốc Xla- vơ, còn ở Maroc và Ai cập đôi khi cũng có lính nô lệ da đen. Nhưng đại đa số lính nô lệ đều có gốc Thổ, cho đến khi người Thổ theo đạo Hồi thì việc này trở nên không hợp pháp cho nên các Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ lại phải bắt lính nô lệ trong số các dân tộc không Hồi giáo ở vùng Caucasus và vùng Balkan.

Đến khi có những thay đổi chiến thuật và nhất là khi có sử dụng các hoả khí thì các đạo quân nô lệ theo kiểu cũ trở nên lạc hậu. Quân đội nô lệ quy mô lớn cuối cùng, quân Janissary của đế quốc Ottoman còn tồn tại đến thế kỷ XIX, nhưng từ đầu thế kỷ XVII, người ta đã thôi không còn tuyển mộ nô lệ vào hàng ngũ này nữa. Tuy thế, truyền thống này chưa mất hẳn; các vua chúa Ai Cập vẫn còn sử dụng nhiều lính nô lệ da đen trong thế kỷ XIX. Năm 1863, khi Hoàng đế Ai Cập gửi một đoàn quân sang Mexico để giúp đồng minh của mình là Hoàng đế Pháp Napoléon III thì phần lớn binh sĩ đều là nô lệ da đen đã bị bắt sung quân trong vùng Thượng lưu sông Nil.

Trên mặt kinh tế, nguồn gốc chính của sự giàu có và quyền uy do phồn vinh mang lại, chính là đất đai và kinh doanh. Các thành viên của giới thượng lưu nắm quyền cai trị đất nước: viên chức, sĩ quan, giáo phẩm và ngay cả hoàng gia cũng thường đầu tư một phần tiền bạc của mình vào một trong hai lĩnh vực ấy, có khi là cả hai.

Ngay từ buổi đầu, các lời dạy của Hồi giáo đều lấy thương mại làm trọng, trước hết là trong Kinh Cô-ran, thí dụ những câu chấp nhận cho tín đồ làm thương mại và cấm cho vay nặng lãi. Có những đoạn khác nói về sự hợp pháp của nghề buôn bán lương thiện và đi cả vào những vấh đề cân đong đứng đắn, về việc trả nợ đúng thời hạn, thực thi đầy đủ các hợp đồng hay những vấn đề tương tự (Cô-ran 2:275 và tiếp theo; 282 và tiếp theo; 4:33; 6:153). Việc Kinh Cô-ran chấp nhận thương mại trong đời sống còn được khẳng định qua nhiều câu gán cho Đấng Tiên tri và các vị kế nhiệm tán dương người thương nhân lương thiện.

Nhiều câu truyền thuyết còn đi xa hơn nữa, không lên án các xa xỉ phẩm trao đổi qua tay các thương gia như tơ lụa, vải thêu, kim hoàn và người nô lệ cả nam lẫn nữ. Theo một câu truyền thuyết thì Đấng Tiên tri có nói: “Khi Thượng đế ban của cải cho ai thì Người muốn kẻ ấy phô trương ra.” Còn ấn tượng hơn nữa là một câu chuyện trong một cuốn sách của dòng Si-i viết về giáo chủ imam Jafar al-Sadiq. Có một lần, một đệ tử của imam trách ông về việc ăn mặc sang trọng khi mà các bậc tiền nhân chỉ mang quần áo tầm thường và đơn giản. Imam trả lời rằng các bậc tiền nhân sống trong thời buổi khó khăn còn ông đang ở trong một giai đoạn sung túc và ở thời nào phải ăn mặc theo thời ấy.”[4]

Những truyền thuyết chắc chắn là giả mạo ấy rõ ràng muốn biện minh cho lối sống xa hoa và nghề buôn bán hàng xa xỉ phẩm chống lại các xu hướng khổ hạnh mà các kinh sách Hồi giáo thường nhắc đến. Muhammad al-Shabayni (mất năm 804) cho rằng việc làm ăn kiếm sống không những chỉ đơn thuần được phép mà còn là một nghĩa vụ của người Hồi giáo. Theo ông thì bổn phận trước tiên của con người là phục vụ Thượng đế, nhưng muốn làm tốt việc này thì con người phải ăn, mặc, có nơi ở cho tử tế. Muốn được vậy chỉ có cách là làm việc và kiếm ra tiền.[5] Tác giả còn nói thêm là không chỉ hạn chế trong việc kiếm đủ sống vì người Hồi giáo cũng có quyền mua và dùng đồ xa xỉ phẩm. Quan điểm của al-Shabayni và nhiều tác giả về sau là tiền thu được qua buôn bán hay làm thủ công nghiệp thì làm vừa lòng Thượng đế hơn là tiền lương do chính phủ cấp, dù làm nghề quân sự hay dân sự. Một trong số các tác giả A-rập cổ điển nổi tiếng nhất, al-Jahiz (mất năm 869) lại còn đi xa hơn nữa. Trong một bài viết mang tựa đề “Tôn dương thương nhân và lên án các viên chức nhà nước”, ông nhấn mạnh đến tính an toàn, phẩm giá và tính độc lập của thương nhân tương phản với tính bấp bênh, sự nhục nhã và thói nịnh hót của những kẻ phục vụ giáo chủ; ông cũng biểu dương lòng ngoan đạo và sự thông thái của các thương nhân để chống lại những lời vu khống của nhiều kẻ khác. Ông thêm rằng, chính Thượng để đã tỏ ra đồng ý với nghề buôn bán như một cách sống khi Người lựa một cộng đồng thương nhân để truyền lại lời thần khải cuối cùng của mình. Một nhân vật nổi tiếng như al-Ghazali (mất năm 1111), nhà thần học Hồi giáo bậc thầy thời Trung cổ cũng viết một bài tả chân dung người thương gia lý tưởng và bảo vệ cho nghề buôn bán, xem đây là cách chuẩn bị con người cho thế giới mai sau.

Trong một nền kinh tế mà thành phần nông nghiệp chiếm vị trí cốt yếu thì làm chủ hay kiểm soát được ruộng đất có một tầm quan trọng hàng đầu trên các mặt xã hội và chính trị. Giới địa chủ lẽ tất nhiên đóng một vai trò quan trọng trong xã hội Hồi giáo cổ điển. Tuy nhiên, cũng cần phải định nghĩa lại danh từ địa chủ trong bối cảnh Trung Đông. Loại chủ đất độc lập và nhỏ được biết đến ở Tây Âu và các nơi khác thì cũng có Trung Đông, nhưng trong nhiều thời kỳ họ không nhiều lắm và không có tính đặc trưng. Ở những nơi mà nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thuỷ lợi, cần có sự chỉ huy tập trung và sự kiểm soát của nhà nước thì các trang trại nhỏ và độc lập khó lòng tồn tại. Trong phần lớn các quốc gia ở Trung Đông, phố biến nhất là các trang trại lớn với nhiều loại hình khác nhau. Các tài liệu, cả xưa và nay, viết về các điều kiện canh tác ở Trung Đông đều dùng các từ “ruộng đất phong kiến” và “thái ấp”. Nhưng đó là những từ đặc biệt của Tây Âu, có ý nghĩa phù hợp với lịch sử địa phương ở Tây Âu. Dùng các từ ấy để chỉ những thực tại xã hội và kinh tế rất khác như trong vùng Trung Đông thì cùng lắm cũng chỉ thế hiện một sự tương đồng lỏng lẻo, nhiều khi dẫn đến hiểu nhầm.

Có nhiều hình thức hợp pháp dành cho việc sở hữu ruộng đất. Một loại có tên là milk trong luật pháp Hồi giáo thì đại khái tương đương với quyền tư hữu ở các nơi khác. Loại hình tư hữu này dưới thời Ottoman, khi người ta bắt đầu có các sổ sách chi tiết, chủ yếu gồm các đất đai trong thành phố hay ở các vùng phụ cận. Ngoài đất xây dựng, chúng là các vườn nho, vườn cây ăn quả hay các vườn rau.

Hình thức tư hữu thì hiếm thấy ở nông thôn, trong các làng mạc; ở đây chủ yếu là đất nông nghiệp thuộc quyền sở hữu của các đại điền chủ, trên nguyên tắc đã được nhà nước cấp cho. Trong thời đại Hồi giáo, đất được cấp sớm nhất là khi các giáo chủ đầu tiên giao đất công cho một cá nhân Hồi giáo, đất này do các quốc gia A-rập mới thành lập chiếm được trong quá trình đi chinh phục. Có hai loại đất: một là cương thổ của các quốc gia bị chiếm, nghĩa là đất công của các chế độ By-dăng hay Ba Tư, thứ đến là đất do chủ cũ bỏ hoang. Khi người A-rập đi xâm chiếm Cận Đông, Ai Cập và Bắc Phi, nhiều đại điền chủ By-dăng bỏ chạy và tài sản của họ sung vào công quỹ, đất đai của họ được xem là cương thổ của các quốc gia thua trận. Ngoài ra, “đất hoang”, không trồng trọt và không khai thác cũng được nhà vua ban phát như vậy.

Những đất đai loại này do nhà nước làm chủ được giao cho nhiều cá nhân với quyền sử dụng mà trong thực tế là vĩnh viễn và sẽ không bị thu hồi lại. Đất ấy cũng được hưởng các quyền chuyển nhượng và thừa kế, điều kiện giao đất không phụ thuộc vào công trạng hay địa vị của người được giao. Nhưng người này phải trả cho ngân khố quốc gia một loại thuế điền thổ tính theo phần trăm thu nhập; chủ đất cũng có thể thu thuế từ nông dân sông trên đất của mình. Tiền chênh lệch giữa số thu được từ nông dân và số phải trả cho nhà nước lập thành thu nhập của địa chủ rút ra từ đất nhượng này.

Hệ thống này cũng giống, và có lẽ phỏng theo hệ thống thuế lâu dài emphyteusis của By-dăng, đã được sử dụng trong một thời gian nhưng cũng chấm dứt sau khi đợt chinh phục kết thúc. Nó được thay thế bằng một hình thức khác thông dụng hơn, không còn là cấp đất nữa mà là nhượng thuế điền thổ phải trả cho nhà nước. Trong hệ thống này, nhà nước cho một cá nhân quyền thu thuế trong một vùng, thường để trả công cho các đóng góp về mặt quân sự, như vậy ngân khố nhà nước không phải chi cho người ấy nữa. Trên nguyên tắc, các sĩ quan quân đội và các quan chức khác phải được trả lương bằng tiền, nhưng ngân khố nhà nước ngày càng hiếm tiền mặt cho nên cách trả lương cho các sĩ quan bằng nhượng thuế càng ngày càng nhiều và phát triển khắp nơi. Người được nhượng thuế phải tự lo liệu việc thu thuế, lẽ tất nhiên là họ không phải trả thuế cho nhà nước và thu thuế cho chính mình để thay vào khoản tiền nhà nước nợ họ.

Trên nguyên tắc, quyền thu thuế như vậy là để trả công. Vì một lý do nào đấy, người được giao quyền ấy không còn thi hành công vụ cho nhà nước nữa thì quyền này cũng chấm dứt. Khác với đất được cấp dưới thời các giáo chủ đầu tiên, quyền thu thuế đất này không phải là vĩnh viễn và có thể thu hồi lại được. Trên nguyên tắc, quyền ấy chỉ tạm thời, có giới hạn và bị bãi bỏ nếu các điều kiện để được hưởng không còn nữa. Nó cũng không có khả năng chuyển nhượng và thừa kế. Tuy nhiên, sau khi không còn thi hành công vụ cho nhà nước nữa, người ta vẫn giữ lại quyền này một cách bất hợp pháp. Chính ở điểm này mà hệ thống này bắt đầu giống chế độ phong kiến ở châu Âu thời Trung cổ trên một vài khía cạnh.

Tuy nhiên, giữa hai hệ thống có nhiều khác biệt hơn tương đồng. Người được nhượng thuế đất không hề có những quyền của các lãnh chúa phong kiến châu Âu thời Trung cổ. Họ không có quyền gì trên dân chúng vùng đất được giao ngoại trừ quyền thu thuế, lẽ tất nhiên là có thể sử dụng vũ lực cần thiết để thực hiện quyền này. Nhưng khác với các lãnh chúa châu Âu, họ không xử các vụ án, không được phép cấp những thái ấp nhỏ hơn cho người khác trong địa hạt của mình; và trên nguyên tắc, không được tuyển mộ dân trong khu vực để lập một đạo quân riêng, mặc dù về sau, điều này không phải là không xảy ra. Khác với các lãnh chúa phong kiến phương Tây, họ thường không sống trong địa hạt được giao và lại càng không cai trị địa hạt ấy như một tiểu công quốc tự trị.

Trong một cách sắp xếp khác, giống như một hợp đồng hơn là một ân huệ, nhà nước nhượng lại thuế thu trên một vùng đất, trên một bất động sản hay trên một nhóm dân nào đấy để đổi lấy một khoản tiền đã thoả thuận. Trong cách này, nhà nước và các viên chức của mình không còn trực tiếp định mức và thu thuế nữa. Các công việc ấy sẽ được giao cho một người trung gian, có thế là một tù trưởng bộ lạc, một người đứng đầu một cộng đồng tôn giáo hay chỉ là một doanh nhân đứng ra thầu khoán thuế để lấy lợi. Quyền khoán thuế có thế mua lại từ nhà nước hay từ giới quân sự hoặc từ những người được nhà nước nhượng thuế. Người nhận thầu khoán thuế phải trả cho công quỹ hay cho phía giao thầu một khoản tiền theo thoả thuận. Thu những gì và thu thế nào là chuyện riêng của người ấy. Nếu thấy cần thiết, nhà nước cử một viên thanh tra thuế làm đại diện cho mình, viên chức này chỉ giám sát chứ không tham gia vào quá trình thu thuế. Chỉ có nhà nước hay một người chủ tư nhân mới quan tâm đến sự phồn vinh lâu dài của tài sản đất đai. Người nhận khoán thuế chỉ lo việc thu hồi vốn đầu tư của mình là chính, rồi làm sao sinh lợi thêm. Khoán thuế đất thường chỉ trên những hợp đồng năm một.

Trong những giai đoạn mà tình hình bấp bênh hay có nhiều xáo trộn — lịch sử cho thấy không phải là hiếm có — thì diện tích đất giao hay đất khoán thuế có xu hướng tăng lên. Nhiều khi tình trạng này xảy ra khi có biến loạn, các đại địa chủ đứng ra bảo vệ những địa chủ khác nhỏ yếu hơn không đủ sức tự bảo vệ mình. Những khi khác thì do tự nguyện; một địa chủ nhỏ gặp cảnh nội chiến, ngoại xâm hay tình hình rối ren phải xin một đại địa chủ hùng mạnh giúp đỡ rồi thay vì trả tiền họ nhượng lại các quyền của mình cho người ấy. Hình thức bảo vệ này dần dần biến thành một cách chiếm đoạt đất của những đại địa chủ đối với những địa chủ nhỏ bé. Thỉnh thoảng có những vụ chiếm đoạt trắng trợn hơn, khi một chính thể mới lên thay thế một chính thể cũ nhờ chiến tranh xâm lược hay những cuộc nổi loạn thành công. Trong trường hợp này thì hoặc là các đất được giao hay khoán thuế vẫn được giữ nguyên, chỉ thay người hưởng thụ; hoặc là, điều thường hay xảy ra, nhà nước tịch thu toàn bộ rồi chia cắt lại để phân cho những người mới.

Nhìn chung thì ranh giới giữa đất tư hữu và đất công được nhà nước giao cho tư nhân quản lý không rõ rệt lắm. Khi chính quyền hùng mạnh thì thường có xu hướng nhà nước lấn áp các chủ đất tư hữu. Nhưng khi chính quyền yếu đi dẫn đến việc phi tập trung hoá thì lại có xu hướng ngược lại, các cá nhân tiếm đoạt quyền lực cũng như chiếm đoạt tài sản của nhà nước. Vào các thế kỷ XVII và XVIII chẳng hạn, lúc chính quyền trung ương suy yếu, ngay cả các đất khoán thuế cũng bị chuyển thành bất động sản có quyền thừa kế, trong thực tế chẳng sao phân biệt được với đất tư hữu. Từ “chiếm đoạt” đôi khi được dùng cho cả hai chiều - khi đất công thành đất tư và cả khi đất tư thành đất công.

Cũng như từ “phong kiến”, từ “quý tộc” khó áp dụng cho xã hội Trung Đông. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có những dấu hiệu cho thấy sự hình thành một tầng lớp địa chủ bằng nhiều cách sở hữu ruộng đất, trên lý thuyết là đất tư hữu, đất thuê, đất do nhà nước ban cho, hay cả đất khoán thuế rồi về sau truyền lại cho con cháu. Xu hướng chung của các vua chúa Hồi giáo là ngăn ngừa, chấm dứt hay đảo ngược quá trình này; họ muốn mọi quyền lực, tài sản, chức tước là do nhà nước trực tiếp ban cho chứ không phải được thừa kế hay từ một địa vị xã hội được bảo đảm và chấp nhận mang đến. Các vua chúa chuyên chế thường tìm cách phá huỷ hay tiêu diệt những thành phần xã hội mà, thay vì dựa vào các ân sủng do vua ban cho lại ăn nhờ trên những tài sản được thừa kế như các địa chủ, hoặc trên sự sùng bái và chấp thuận của dân chúng như các nhà giáo lý ulema hay các nhà quý tộc địa phương. Khi quyền lực của nhà vua vì một lý do nào đó bị suy yếu thì các nhóm xã hội tự lập và tự duy trì ấy vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng khi vương quyền vững mạnh, đặc biệt là sau một cuộc chinh phục mới, các nhóm nói trên thường bị suy yếu, đôi khi biến mất hay ít ra cũng bị thay thế.

Qua lịch sử Hồi giáo, ta có thể theo dõi cuộc đấu tranh liên tục ấy. Trong thời hiện đại, có vẻ như thắng lợi nghiêng về phía nhà nước chuyên chế và phần thua thuộc về các lực lượng xã hội có thể hạn chế quyền lực của nhà nước. Điều này xảy ra vì có các kỹ thuật mới được đưa vào, đặc biệt là kỹ thuật truyền thống và vũ khí hiện đại. Nhờ có chúng mà những rào cản vật chất đã có từ xưa ngăn không cho một chính quyền trung ương phát huy thế mạnh của nó cuối cùng đã bị dẹp bỏ. Trong các hệ thống cổ điển, uy quyền của vua chúa, trên nguyên tắc là tuyệt đối, thật sự đã bị một loạt quyền lực và chức vụ trung gian hạn chế. Khi những quyền lức ấy bị xoá bỏ, các chức vụ ấy không còn tồn tại nữa nhờ có hiện đại hoá, thì uy quyền của nhà vua không còn bị hạn chế nữa và ngay cả một nhà độc tài tầm thường của thời nay cũng có nhiều quyền lực hơn một giáo chủ A-rập, một hoàng đế Ba Tư hay một vương tước Thổ hùng mạnh nhất trước đây. Ngày nay đã hết những rào chắn cổ điển để ngăn chặn không cho một nền bao chính phát triển nữa. Nhưng vẫn còn tiếp tục sự tìm tòi một hình thức mới để hạn chế bạo quyền.

❀ ❀ ❀

[1] Malik Ibn Anas, Al-Mudawwana al-Kubra (Cairo 1323 lịch HG), vol. 4.1.13-14; cũng trong Al-Muwatta (Cairo 1310 lịch HG), 3, t. 57,262.

[2] Abd al-Hamid, Risala ilal-kittab trong Ahmad Zaki Safwat, Jamharat Rasail 1-Arab (Cairo 1937), vol. 2, t. 534; bản dịch tiếng Anh của Bernard Lewis, Islam from the Prophet Muhammat to the Capture of Constantinople (New York 1974) vol. 1,1.186.

[3] Paul Rycaut, The History of the Present State of the Ottoman Empire, 4th edition (London 1675), t. 45.

[4] Abu Amr Muhammad al-Kashshi, Marifat Akhbar al-Rijal (Bombay 1317 lịch HG) t. 249.

[5] Ibn Samaa, Al-Iktisab fil-rizq al-mustatab (Cairo 1938) t. 16 và tiếp theo.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.