Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5 Những Dân Tộc Đến Từ Các Thảo Nguyên
Chương 5 Những Dân Tộc Đến Từ Các Thảo Nguyên

❊ ❊ ❊

Vào thế kỷ XI cả chính quyền lẫn xã hội Hồi giáo biểu hiện nhiều dấu hiệu suy đồi nội bộ. Các triệu chứng cũng đã xuất hiện từ trước: đế quốc bị xé nhỏ thành một loạt các quốc gia tự trị; quyền lực và uy tín của giáo chủ bị giảm sút ngay cả ở thủ đô; toàn bộ cấu trúc chính trị và hành chính mà đế quốc Hồi giáo xây dựng được trên những nền móng thừa hưởng của các thể chế By-dăng và Iran Sasanid thì nay bị đổ vỡ. Trong khi thực quyền của các giáo chủ và của nhà nước Hồi giáo bị rơi vào tay những nhà quân phiệt có quân đội ủng hộ thì ngay cả địa vị của giáo chủ như là người đứng đầu giáo phái Sun-ni của Hồi giáo cũng bị kéo xuống mức thấp nhất vì đa số dân chúng đi theo những giáo phái tà nghịch và phần lớn lãnh thổ đế quốc từ Iran qua Ai Cập, ngay cả thủ đô là nơi giáo chủ ngự trị cũng bị các tướng tá và vua chúa theo Si-i cai quản.

Các dấu hiệu suy tàn trong đời sống kinh tế chỉ xuất hiện về sau. Dòng họ Buyid đã khôi phục lại trong một thời gian trật tự và phồn vinh ở những vùng trung tâm. Triều đại Fatima cũng mang lại một giai đoạn thịnh vượng nhất trong lịch sử Ai Cập thời Trung cổ. Thế nhưng, các khó khăn dần dần đến ở phía Đông và sau đó ngay cả Ai Cập. Việc buôn bán với Trung Quốc đã có thời thu nhiều lợi lộc thì nay bị trì trệ và tan biến một phần cũng do tình hình nội bộ của nước này. Việc buôn bán với Nga và các nước vùng Baltic phát triển mạnh ở các thế kỷ thứ VIII, IX, X thì bị thu hẹp rồi ngừng hẳn ở thế kỷ XI. Kim loại quý ngày càng hiếm thì ngay cả ngành nội thương của đế quốc cũng bị bóp nghẹt và một hình thức kinh tế bán phong kiến được phát triển nhanh chóng.

Trong đời sống văn hoá, các thế kỷ thứ VIII, IX và X đã chứng kiến một tốc độ phát triển rất khả quan. Kinh tế được cải thiện thì nhiều thành thị mọc lên cùng với những dân cư có nhiều thời gian nhàn rỗi, giàu thị hiếu và có tính tò mò. Việc dịch các tác phẩm khoa học và triết học Hy Lạp ra tiếng A-rập đã khởi xướng phong trào “Phục hưng của Hồi giáo” trong khi dòng Hồi giáo Sun-ni chính thống, do phản ứng trước các tri thức Hy Lạp và các đạo lý thế tục Ba Tư, cũng đổi mới và làm phong phú thêm cho nền văn hóa A-rập để càng ngày càng gắn bó hơn với nó. Tuy nhiên sự phát triển văn hoá này không được bền vững và thường xuyên. Đây là một nền văn hoá thành thị chỉ dành riêng cho một số người dân thành phố có thì giờ nhàn rỗi. Mối quan hệ của nó với truyền thống và qua truyền thống đến đời sống tôn giáo sâu xa của đạo Hồi thì thật là mỏng manh và không rõ rệt.

Trong cả thế kỷ XI và đầu thế kỷ XII, các điểm yếu của đế quốc càng hiện rõ sau những cuộc tấn công hầu như đồng loạt và trên mọi mặt của cả thù trong và giặc ngoài. Trên lục địa châu Âu, quân Cơ Đốc giáo tiến nhanh ở Sicily và Tây Ban Nha, thu hồi lại nhiều đất đai từ tay Hồi giáo trong một chiến dịch mà đỉnh cao là cuộc xâm lăng vùng Cận Đông của Thập tự quân, ở Phi châu, một phong trào tôn giáo của người Berber đã thành công trong việc thiết lập một đế quốc Berber tại Tây Ban Nha và Bắc Phi. Xa hơn một chút, về phía Đông, hai bộ lạc A-rập Hilal và Sulaym từ miền Thượng Ai Cập là nơi họ cư ngụ, tràn sang gây rối và tàn phá Libya và Tunisie đến nỗi cả vùng Bắc Phi A-rập không bao giờ còn hồi phục được. Trên biên giới phía Bắc của giáo quốc, nơi mà trong các thế kỷ trước đã bị người By-dăng và người Khazar tấn công thì nay lại xảy ra việc người Gruzia theo Cơ Đốc giáo xây dựng lại một đế quốc Gruzia trải dài từ Biển Đen đếh các sườn đồi của Daghestan rồi từ đó tiến vào lãnh thổ Hồi giáo.

Nghiêm trọng hơn cả, do các hậu quả vĩnh viễn của nó, là đợt xâm lăng từ phía Đông của những dân tộc nói tiếng Altaic (Thổ, Mông cổ, Mãn Châu) sông trên các thảo nguyên lớn của châu Á. Người Hồi giáo lần đầu tiếp xúc với người Thổ trên biên giới phía Đông của đế quốc; trong một thời gian dài người Thổ được dùng làm nô lệ, loại nô lệ đặc biệt được đào tạo từ bé để phục vụ trong quân ngũ sau này được gọi là Mamluk- một từ A-rập có nghĩa là “vật sở hữu” — để phân biệt họ với các nô lê thấp hèn hơn làm các công việc trong gia đình hay kinh tế. Người Thổ nô lệ cũng đã từng xuất hiện trong đế quốc dưới các triều đại Áp-bát đầu tiên và cả trước nữa nhưng phải đợi đến triều giáo chủ al-Mutasim (833-842) thì lính Thổ mới được sử dụng một cách rộng rãi. Ngay trước khi lên ngôi ông cũng đã có một đạo quân nô lệ người Thổ và sau đấy, cứ hằng năm bắt các tỉnh miền Đông triều cống nhiều nô lệ gốc Thổ. Dưới các triều kế tục, quân Thổ trở thành một sức hậu thuẫn lớn của giáo chủ, họ dần dần thế chân người A- rập và Ba Tư trong quân đội và nắm được quyền lực chính trị hàng đầu. Khi giới quân sự đa số là người Thổ và khi các chế độ Hồi giáo bị giới quân sự khống chế thì người Thổ dễ dàng xây dựng được một quyền lực áp đảo trong mười thế kỷ. Từ năm 868, triều đại độc lập đầu tiên ở Ai Cập Hồi giáo là do một người lính nô lệ gốc Thổ lập ra rồi phần lớn các chế độ kế tiếp ở Ai Cập cũng có cùng nguồn gốc. Ở Iran, các triều đại quốc gia tồn tại được một thời gian, nhưng triều đại quan trọng và lâu dài nhất - triều đại Saman — phải phụ thuộc vào hậu thuẫn của binh lính Thổ cho nên chẳng bao lâu thì bị triều đại Ghaznavid (962-1186), một triều đại Thổ mạnh nhất, thay thế; triều đại Ghaznavid cũng do một người nô lệ gốc Thổ phục vụ cho dòng Saman lập ra.

Đấy chỉ là trường hợp của những người lính riêng lẻ hay những nhóm binh lính phục vụ cho các quốc gia Hồi giáo với tư cách là nô lệ hay lính đánh thuê rồi nắm được quyền bính. Năm 960, một sự kiện xảy ra mang một ý nghĩa hoàn toàn khác; đó là việc quy theo Hồi giáo cùng toàn thể thần dân mình, của dòng họ Karakhanid, một triều đại Thổ sống ngoài biên giới của Hồi giáo. Trước đấy chỉ có các cá nhân hay nhóm nhỏ người dân tình nguyện theo đạo Hồi. Nay thì lần đầu tiên, cả một dân tộc Thổ tự do với số nhân khẩu lên đến 200.000 căn lều, theo sử sách A-rập, đi theo Hồi giáo lập nên vương quốc Thổ Hồi giáo đầu tiên nằm phía bờ bên kia sông Jaxartes. Sau khi theo tôn giáo mới, người Karakhanid có vẻ như đã quên hẳn gốc Thổ của họ thời Tiền Hồi giáo và hoà nhập hoàn toàn vào nền văn minh Hồi giáo Trung Đông.

Một đặc điểm của Hồi giáo Thổ là ngay từ buổi đầu, người Thổ đã tham gia hết mình vào tôn giáo mới. Một phần vì họ nhận thấy tính đơn giản và mãnh liệt của tôn giáo mới ngay từ khi được tiếp xúc với nó trên ranh giới của Hồi giáo và thế giới không có lòng tin và một phần vì ngay sau khi gia nhập đạo Hồi họ đã phải tiến hành cuộc thánh chiến chống lại những người anh em không tôn giáo cho nên người Thổ theo Hồi giáo đã gắn chặt ban sắc dân tộc mình vào Hồi giáo, điều mà người A-rập và Ba Tư chưa bao giờ làm. Người Thổ không có gì có thế xem là tương đương với các bản anh hùng ca trong hồi ức của người A-rập trên bán đảo A-rập tiền Hồi giáo hay niềm hãnh diện của người Ba Tư trong lịch sử vinh quang của nước Iran cổ. Nền văn minh, các quốc gia, các tôn giáo hay văn học của quá khứ Thổ tiền Hồi giáo đều bị xoá bỏ và quên lãng, chỉ còn lại một vài đoạn thi ca dân gian hay các truyền thuyết trong phả hệ. Đối với người Thổ cũng như người phương Tây, chính từ “Thổ” cũng đồng nghĩa với từ “Hồi giáo”. Không một dân tộc nào có thể so sánh với dân tộc Thổ khi nói đến lòng trung thành hết mực và tình gắn bó keo sơn với đạo Hồi. Vì thế cho nên thật không có gì là đáng ngạc nhiên khi có những triều đại Thổ đứng ra chủ trì và phát triển một cuộc hồi sinh mãnh liệt của Hồi giáo Sun-ni.

Vào đầu thế kỷ XI, giáo quốc Fatima vẫn còn là một cường quốc với bờ cõi được mở rộng từ Ai Cập qua miền Tây Arabia vào đến Syria, nhưng ở đây phải chia sẻ quyền lực với các triều đại Bedouin địa phương của người dân sa mạc. Ở Iraq và Tây Iran thì có các triều đại Iran cai trị trong số đó quan trọng nhất là gia tộc Buyid tại các tỉnh trung tâm. Về phía Đông, di sản của dòng Saman được chia cho hai triều đại - Ghaznavid ở phía nam sông Oxus và Karakhanid ở phía Bắc. cả hai đều có gốc Thổ nhưng họ rất khác nhau. Triều đại thứ nhất trị vì trên một nước Hồi giáo cổ điên đứng đầu là một viên tướng Thổ với một quân đội gồm toàn người nô lệ Mamluk Thổ; triều đại thứ hai trị vì trên một quốc gia Thổ đứng đầu là một Hãn vương với một đạo quân gồm những người Thổ tự do trong bộ lạc của ông.

Cũng vào thời kỳ này, hai cuộc di dân lớn của người Thổ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của vùng Trung Đông và của cả miền Đông Âu trong một khoảng thời gian. Rất xa về phương Bắc, phía bên kia sông Jaxartes là nơi người Thổ Oghuz sinh sống và xa hơn nữa, quanh vùng sông Irtish là người Kipchak. Người Kipchak di cư vượt các sông Irtish và Jaxartes, đẩy lui người Oghuz, sau đấy tiến vào nước Nga và Đông Âu, ở đây họ thường được gọi là người Polovtsi hay người Kuman. Còn người Orghuz bị đuổi khỏi nơi cư trú của mình và tiến vào lãnh thổ Hồi giáo. Có nhiều đợt di cư như thế nhưng quan trọng nhất là đợt do dòng họ Seljuk lãnh đạo. Seljuk, thủy tổ dòng họ này có lẽ đã vào đất Hồi giáo cuối thế kỷ thứ X, định cư ở tỉnh Bukhara và quy theo Hồi giáo. Con cháu dòng họ này thường mộ quân binh để phục vụ các triều đại Hồi giáo, Ghaznavid là triều đại cuối cùng mà họ phục vụ. Về sau họ phản lại dòng Ghaznavid và nắm được quyền bính. Hai người cháu của Seljuk là Tughrul và Chagri đưa quân vào Khorasan, dẹp tan triều đại Ghaznavid và chiếm cứ các thành phố lớn ở đây.

Chẳng bao lâu họ lập ra triều đại riêng của mình. Năm 1037, trong các đền thờ Hồi giáo ỏ Marv và Nishapur các lời cầu nguyện được đọc nhân danh dòng Seljuk. Họ nhanh chóng chiếm được hết miền Đông Iran rồi đến lượt miền Tây Iran cũng bị đoàn quân người Thổ của họ chinh phục. Năm 1055, Tughril đưa quân vào Baghdad, cướp được chính quyền từ tay vương tước Buyid cuối cùng. Trong thế giới Hồi giáo, một đế quốc mới đã ra đời. Năm 1079, người Seljuk đánh chiếm Syria và Palestine từ tay các vua chúa địa phương và triều đại Fatima đang bị suy tàn. Họ làm được điều mà người A-rập và Ba Tư không hề thực hiện thành công, đó là chinh phục phần lớn Anatolia của đế quốc By-dăng, vùng này cho đến ngày nay vẫn còn là đất của người Thổ Hồi giáo.

Các cuộc chinh phục của người Seljuk tạo nên một trật tự mới trong vùng Trung Đông, lần đầu tiên kể từ thời các giáo chủ Áp-bát, cả vùng lại được thống nhất dưới sự lãnh đạo của một chính thể duy nhất. Dòng Seljuk theo giáo phái Sun-ni của Hồi giáo, họ vẫn duy trì giáo chủ để làm vì và lại còn giúp giáo chủ củng cố địa vị trên hai mặt - trước hết là mở mang bờ cõi của giáo quốc, sau đây là dẹp tan các chế độ ly khai không chịu công nhận giáo chủ là lãnh đạo tối cao của Hồi giáo. Nhưng quyền lực thật sự đều nằm trong tay các Đại Vương tước Seljuk vì đã có công xoá bỏ các tiểu vương quốc gây ra sự chia cắt manh mún của để quốc và trên mặt Tây, đã chiến thắng các để quốc By-dăng và Fatima thù địch. Danh hiệu Vương tước (Sultan) mà Tughril tự phong cho mình sau khi chiếm được Baghdad năm 1055, trước đấy cũng đã được các sử gia gán cho các vua chúa dòng Buyid hay Ghaznavid, nhưng họ chưa phải là các lãnh đạo của giáo quốc. Có vẻ như các vương tước Seljuk là những người đầu tiên sử dụng danh hiệu ấy một cách chính thức và được khắc trên tiền tệ. Danh hiệu này về sau luôn luôn được dùng để chỉ những người nắm quyền lực tối cao.

Trong nửa sau của thế kỷ XI, các đại vương tước Seljuk cai quản một để quốc thống nhất gồm hầu như toàn bộ lãnh Thổ của giáo quốc Hồi giáo trên miền Tây Nam châu Á cộng thêm đất Anatolia. Sau khi Đại Vương tước thứ ba là Malik Shah qua đời năm 1092, nội chiến lại nổ ra giữa những người con của ông và quá trình phân chia đế quốc mà cuộc chinh phục Seljuk đã làm gián đoạn thì nay lại tiếp diễn, lần này do việc các thành viên hay các thuộc hạ của gia tộc Seljuk tranh giành lẫn nhau. Các tiểu vương quốc quan trọng nhất do các vua chúa dòng Seljuk cầm đầu ở Kirman, Iraq, Syria và Anatolia đều nhất nhất thần phục đại vương tước đóng đô ở Khorasan.

Chính trong giai đoạn chính quyền suy yếu và tranh giành quyền lực này mà vào năm 1096, quân Thập Tự Chinh đổ bộ lên vùng Cận Đông. Trong ba thập kỷ đầu tiên, vì có sự chia rẽ trong thế giới Hồi giáo nên quân xâm lăng dễ dàng tiến nhanh dọc bờ biển Syria vào Palestine rồi lập nên một chuỗi các công quốc phong kiến Latin ở Antioch, Edessa, Tripoli và Jerusalem. Nhưng ngay cả trong giai đoạn chiến thắng đầu tiên, quân Thập tự chinh cũng chỉ quanh quẩn ở vùng bờ biển và sườn núi nhìn sang Địa Trung Hải và thế giới phương Tây. Trong đất liền về phía các sa mạc và trên lãnh thổ Iraq, cuộc phản công đang được chuẩn bị. Các tiểu vương Seljuk đang cai quản Aleppo và Damascus không làm được gì nhiều lắm và lực lượng phản công đến từ xa hơn về phía Đông. Năm 1127, Zangi, một sĩ quan Thổ trong quân đội Seljuk, chiếm được Mosul rồi dần dần lập ra một quốc gia Hồi giáo hùng mạnh ở Syria và miền Bắc Lưỡng Hà. Người con Zangi tên là Nur al-Din chiếm được Damascus năm 1154 rồi thành lập tại Syria một chính quyền Hồi giáo thông nhất và lần đầu tiên trở thành một đối thủ đáng gờm của quân Thập tự chinh.

Vấn đề đặt ra cho cả hai phía là việc kiểm soát Ai Cập, nơi mà giáo quốc Fatima đang đi đến sụp đổ hoàn toàn. Một sĩ quan người Kurd tên là Salah al-Din - phương Tây thường gọi là Saladin - được gửi đến Ai Cập giữ chức tế tướng wazir cho triều đình Fatima đồng thời cũng đại diện cho các quyền lợi của Nur al-Din. Năm 1172, ông xoá bỏ chế độ Fatima, lập lại ở Ai Cập quyền lực tối cao trên danh nghĩa cho các giáo chủ dòng Áp-bát và trở thành chúa tể ở Ai Cập, chịu thần phục Nur al-Din một cách khá mập mờ. Sau khi Nur al-Din qua đời năm 1174, những người kế tục ông bị Saladin gianh mất đất Syria Hồi giáo để làm bàn đạp cho cuộc Thánh Chiến năm 1187 chống Thập tự quân. Lúc Saladin qua đời năm 1193, ông đã tái chiếm Jerusalem và đanh đuổi Thập tự quân khỏi các vùng đất Hồi giáo, chỉ để lại cho họ một dải hẹp dọc bờ biển. Chỉ sau khi đế quốc của Saladin gồm Syria và Ai Cập bị tan ra thành nhiều mảnh nhỏ dưới quyền cai trị của những người kế tục ông thì các tiểu quốc của quân Thập tự chinh mới kéo dài cuộc sống trầy trật của họ thêm được một thế kỷ nữa cho đến khi quân Mamluk lập lại được một quốc gia Syria-Ai Cập vào thế kỷ XIII thì các tiểu quốc này cùng các nước nhỏ trên đất Syria mới bị tiêu diệt hoàn toàn.

Trên đất Anatolia, cuộc chiếm đóng của người Thổ hình như đã hoàn tất nhờ các đợt di cư tự phát của những bộ lạc hơn là do chủ ý của các Đại Vương Tươc Seljuk. Sau khi chinh phục xong, một thân vương Seljuk là Suleyman ibn Kutlumush được phái đến đây và vào cuối thế kỷ XII, một vương quốc Thổ hùng mạnh đã được xây dựng ở Anatolia với thủ đô là Konya (tên cũ là Iconium). Triều đại Seljuk ở Anatolia tồn tại đến tận thế kỷ XIV. Trong giai đoạn này, miền Trung và Đông Anatolia dần dần trở thành đất của người Thổ. Dân di cư Thổ từ phía Đông ồ ạt tiến vào đây và một nền văn minh Hồi giáo Thổ chẳng mấy chốc thay thế nền văn minh Cơ Đốc Hy Lạp.

Trong khi ấy thì các vương quốc Seljuk ở phương Đông bị suy yếu vì ngoài các tranh chấp xảy ra triền miên lại còn phải đương đầu với nhiều thế lực thù địch cả trong nội bộ và từ bên ngoài đến. Trên phía Đông Bắc, một dân tộc khác của thảo nguyên, dân Kara-Khitay, bắt đầu xuất hiện dọc biên giới đế quốc Hồi giáo. Họ thuộc dòng giống Mông cổ từ Trung Quốc tràn sang và đang đi tiền trạm cho một quân thù hung hãn khác. Vào giữa thế kỷ XII, họ đánh bật được người Karakhanid khỏi vùng Transoxania rồi thiết lập một đế quốc rộng lớn trải dài từ sông Oxus qua sông Yenisei đến tận biên giới Trung Quốc. Một cuộc Thánh chiến chống lại quân thù ngoại đạo được khởi động, nhưng năm 1141, vương tước Seljuk là Sanjar bị thua ở trận đánh trên thảo nguyên Karvan và phải bỏ chạy. Tiếng vang từ thất bại thảm hại này của quân đội Hồi giáo truyền đến tận châu Âu Cơ Đốc giáo và làm phấn chấn tinh thần đã bị khiếp nhược của quân Thập tự chinh. Nhiều bộ lạc Thổ nổi lên chống lại chính quyền Seljuk và sau khi Sanjar chết năm 1157, vương quốc của ông bị xé tan thành nhiều tiểu quốc, phần lớn đặt dưới quyền các sĩ quan Seljuk cũ. Ngay cả vị giáo chủ ở Baghdad cũng tạm thời khẳng định lại tính độc lập và quyền lực tôn giáo của mình bằng cách duy trì một hình thức giáo quốc tại thủ đô cũ của Hồi giáo Sun-ni. Về phía Đông, viên thống đốc Thổ của vùng Khwarezm, một tỉnh nằm ở bờ Nam biển Aral, cũng xây dựng được một đế quốc mới tuy không tồn tại lâu dài nhưng lúc ấy có vẻ đang trên đà thu gom vào tay cả đất đai và quyền lực của các đại vương tước Seljuk.

Giai đoạn phát triển di cư của người Thổ và củng cố ưu thế chính trị và quân sự của họ cũng là giai đoạn có những thay đổi quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội cũng như trong văn hoá và tư tưởng tôn giáo của cả vùng.

Để quản lý đế quốc, chính quyền Seljuk sử dụng nhiều công chức Ba Tư và một bộ máy hành chính Ba Tư đã được xây dựng khá vững vàng. Một nhân vật nổi bật của thời kỳ ấy là tể tướng Nizam al-Mulk, người đã phát triển và hệ thống hoá xu hướng tiến lên chế độ phong kiến đã được thế hiện qua hình thức khoán thuế ở triều đại trước. Những sai lầm của giai đoạn trước bây giờ trở thành thông lệ trong tổ chức xã hội và hành chính mới dựa chủ yếu vào đất đai chứ không phải vào tiền của. Các sĩ quan quân đội được phân đất đai, hay chính họ đã chiếm đoạt, để đổi lại, họ có nhiệm vụ cung cấp một số binh lính cho nhà nước. Họ không những được hưởng tiền công khoán trích ra từ thuế điền thổ mà ca một phân lợi tức, do đó nhà nước, vì công quỹ bị thâm hụt nên đã phải đặt ra nhiều loại thuế khóa và nhiều khoản đóng góp ngoài các thuế điền thổ và thuế thân mà luật Hồi giáo đã quy định.

Trong một giai đoạn nhiều biến cố như vậy thì các rối loạn xã hội thật khó lòng tránh khỏi. Giới quý tộc Iran cảm thấy mình bị hất cẳng và nghèo đi vì có nhóm quân binh người Thổ lên nắm quyền. Giới địa chủ bị tổn hại nặng nề khi xuất hiện những người chủ đất mới sống trong các thành thị. Tiền tệ phát hành càng ngày càng ít cho nên giới thương gia và thủ công nghiệp phải gánh chịu những hậu quả nặng nề.

Phong trào chống đối chính vẫn là giáo phái Si-i Ismaili, nhưng dưới một hình thức đã biến đổi theo chiều hướng cấp tiến. Sau khi giáo chủ Fatima là al-Mustansir qua đời năm 1094, giáo phái Ismaili bị tách làm hai, một nhóm công nhận người con thứ của giáo chủ lên ngôi ở Cairo, nhóm kia thuộc phe người con trưởng đã bị gạt ra một bên rồi bị hành quyết ở Alexandria. Những người Ismaili ở Iran do Hasan-i Sabbah cầm đầu không chịu thần phục vị giáo chủ Fatima mới và cắt đứt mọi quan hệ với Cairo. Đồng thời, họ xây dựng một giáo thuyết mới và khởi động một chiến dịch chống đối tích cực và mãnh liệt trên mọi vùng lãnh thổ của dòng Seljuk. Giáo phái Ismaili cải cách của Hasan-i Sabbah được gọi là “Tân Thuyết giáo” và những tín đồ đi theo thường mang tên “Bọn Ám sát” (Assassin). Tên Assassin xuất xứ từ chữ A-rập hashish có lẽ dùng để mô tả cách xử sự kỳ quặc của những người này. Nghĩa hiện đại của từ Assassin (Ám sát) ở châu Âu chỉ rõ phương thức hành động chính trị của họ.

Năm 1090, Hasan-i Sabbah kiểm soát đươc vùng núi non hiểm trở Alamut ở miền Bắc Ba Tư. Tại đây cũng như nhiều căn cứ khác thành lập ở Syria vào thế kỷ sau, các đại thủ lĩnh của giáo phái chỉ huy những nhóm giáo dân trung thành và cuồng tín tiến hành một chiến dịch khủng bố và “ám sát” chống lại các vua chúa Hồi giáo nhân danh một giáo chủ imam kỳ bí đang ẩn mình. Quân của các đại thủ lĩnh gây ra một loạt các vụ ám sát táo tợn các chính khách và nhà quân sự Hồi giáo kể cả Nizam al-Mulk vào năm 1092. Chiến tranh khủng bố của nhóm Assasin chỉ bị dập tắt vào thế kỷ XIII khi quân Mông Cổ đến xâm lược, sau đó giáo phái Ismaili chỉ còn là một nhóm tà giáo sống vất va vất vưởng.

Các hoạt động của nhóm Assasin là những cố gắng cuối cùng của người Si-i để lật đổ giáo chủ và chính quyền Sun-ni. Trong lúc ấy có một cuộc hồi sinh lớn của giáo thuyết Sun-ni mà về sau mọi khía cạnh của đời sống Hồi giáo như trong tư tưởng hay văn học đều bị ảnh hưởng. Nguồn gốc của nó có thế tìm thấy trong quá khứ. Định chế tôn giáo từ lâu đã tách rời khỏi chính phủ và vẫn khư khư giữ các đặc quyền của mình trong các lĩnh vực học thuyết, pháp luật, giáo dục và hành động xã hội. Chúng được phát triển theo logic nội tại của chúng và chỉ bị tác động một cách gián tiếp bởi các nhu cầu và áp lực của chính quyền nhà nước. Mặc dù tình trạng này mang đến vài thuận lợi nhưng nó lại làm cho việc điều hoà phối hợp bị thất bại. Mối căng thẳng giữa tôn giáo và chính quyền còn tăng lên khi các chiến thắng của giới quân sự trong cuộc tranh giành quyền lực làm cho quan hệ giữa nhà nước và nhân dân chỉ dựa trên sức mạnh và chỉ hạn chế trong việc thu thuế. Hố sâu ngăn cách lại càng rộng thêm khi giai cấp quân phiệt không cùng một chủng tộc và càng tách biệt với nhân dân, khi quyền lực chính trị tối cao lại trong tay những bè phái không tuân thủ các nguyên tắc chính trị cơ bản của Hồi giáo chính thốhg. Mất đi những sợi dây liên lạc cuối cùng về đạo đức và trực tiếp giữa vua chúa và thần dân, trong một xã hội xây dựng trên ý niệm thần quyền thì Hồi giáo phải trải qua những khủng hoảng nghiêm trọng. Chính quyền nằm trong tay giới quân sự và các bè phái, bộ máy hành chính thì bị những viên thư lại không chế, những người này vẫn còn mang tư tưởng văn hoá và phương pháp làm việc của thời Tiền Hồi giáo. Ngay cả trong lĩnh vực tôn giáo, các giáo phái tà nghịch lại có một uy lực cám dỗ để thay thế cho giáo lý Sun-ni và họ được nhiều người ủng hộ, nhất là trong các thành thị.

Cuộc hồi sinh của giáo phái Sun-ni nhen lên vào đầu thế kỷ XI trong vùng Khorasan, nơi mà dưới sự cai trị của triều đại Ghaznavid gốc Thổ theo giáo phái Sun-ni đang là vùng đất quan trọng độc nhất trong thế giới Hồi giáo không thuộc Si-i. Người Si-i đã nhiều lần tích cực rủ rê vua Mahmud của Ghazna (971-1030) theo mình nhưng không thành công, trái lại nhà vua lại đi theo giáo phái Karami. Mặc dù chính họ cũng bị quy là tà giáo, nhưng giáo phái Karami đã trở thành mũi nhọn trong cuộc đấu tranh chống Si-i để phục hồi Sun-ni. Sứ mệnh này được người Ghaznavid trao lai cho dòng Seljuk để mang ngọn cờ hồi sinh Sun-ni đến Baghdad và xa hơn nữa về hướng Tây. Người Sun-ni đã xem việc dòng Seljuk chiếm đươc Baghdad như cuộc giải phóng khỏi ách thống trị của người Si-i Buyid.

Các mục tiêu của cuộc hồi sinh Sun-ni, dù đạt được một cách ngẫu nhiên hay cố ý, cũng gồm ba điểm: lật đổ các chế độ Si-i để phục hồi chức vụ giáo chủ; xây dựng và quảng bá một lời giải đáp của giáo phái Sun-ni cho những thách thức Si-i về mặt giáo lý; và khó nhất là việc sáp nhập các định chế tôn giáo vào đời sống chính trị của đạo Hồi.

Mục tiêu thứ nhất đã gần như đạt được, về phía Đông, triều đại Buyid và các triều đại Si-i khác đã bị lật đổ và tính thống nhất chính trị của đạo Hồi Sun-ni được vãn hồi. Sau khi giáo quốc Fatima bị dẹp năm 1171, trong tất cả các đền thờ Hồi giáo từ Trung Á đến Phi châu, kinh cầu nguyện được đọc lên nhân danh giáo chủ Sun-ni ở Baghdad. Ngay cả nhóm Assassin, dù chưa hoàn toàn bị tiêu diệt và vẫn còn ẩn núp trong các hang ổ trên núi, nhưng cũng không bao giờ có khả năng lật đổ chính quyền Sun-ni nữa. Chính là nhờ sức mạnh quân sự, quyết tâm chính trị và đức tin tôn giáo của người Thổ mà các điều trên mới trở thành hiện thực. Họ cũng mang đến cho thế giới Hồi giáo một mãnh lực để đương đầu và chiến thắng quân ngoại đạo, hiến dâng cho Hồi giáo mảnh đất Anatolia và đẩy lui các cuộc tấn công của người Tây phương Cơ Đốc giáo.

Cuộc chiến đấu chống tà giáo Si-i đã đi đến thắng lợi khả quan. Nó bùng ra ở Khorasan trên đà tiến công của cuộc hồi sinh chính trị Sun-ni. Đầu thế kỷ XI, các nhà thần học và luật gia Sun-ni đã cho mở các trường học giáo lý chính thống tên là madrasa theo mô hình của các trường truyền giáo Ismaili ở Cairo và nhiều nơi khác, nơi mà các lãnh đạo Fatima đào tạo những nhân viên tuyên truyền cho giáo lý của họ. Sau cuộc chinh phục của dòng Seljuk, Nizam al-Mulk cho xây một madrasa ở Baghdad và sau đó xuất hiện nhiều trường khác trong các đô thị trên toàn đế quốc. Saladin và nhưng người kế tục ông đã phát triển hệ thống madrasa ở Ai Cập. Trong các trường học giáo lý ấy, các giảng viên Sun-ni cố gắng xây dựng và truyền đạt một câu trả lời của giáo phái Sun-ni cho các lý luận ban đầu đến từ các trường học và nhà truyền giáo Fatima ở Ai Cập và sau đó đến từ các phái viên bí mật của nhóm Assassin dưới một hình thức cấp tiến hơn.

Chiến thắng của giáo phái Sun-ni hầu như hoàn toàn. Giáo lý Si-i, dưới cả hai hình thức, đã mất hết uy tín do sự yếu hèn và các chính sách sai lầm của các dòng Buyid và Fatima trước đấy. Về mặt lý luận, các giáo lý Sun-ni cuối cùng và có uy tín của các trường phái Ashari và Maturidi đã làm cho các nhà giáo điều Si-i bị tan tác chỉ còn lại một nhóm nhỏ. Về mặt tôn sùng của dân gian, hầu hết các nội dung về cảm xúc của giáo phái Si-i được chuyển qua giáo phái Xu-phi (Sufism). Mặc dù người Xu-phi (Sufi) biếu hiện tính trực giác và huyền bí trong tôn giáo của quảng đại quần chúng chống lại tính giáo điều khô khan của nhà nước chính thống và tập thể giáo sĩ, nhưng họ vẫn không rời xa giáo lý Si-i.

Về sau, các định chế tôn giáo không những được phục hồi mà còn thật sự có một vị trí còn tốt hơn trước đây trong thời kỳ nhà nước Hồi giáo mới ra đời. Một guồng máy hành chính Sun-ni với những nhân viên được đào tạo trong các madrasa đã thay thế các viên thư lại ngày trước; họ là những người của tôn giáo với những cấp bậc được phân định rõ ràng, với các đặc quyền được bảo vệ chặt chẽ, lần đầu tiên họ chiếm lĩnh một vị trí chính thức được công nhận là một cột trụ của cấu trúc xã hội và của chính quyền. Sự phân chia làm hai nhánh là thần quyền và thế quyền, lòng tín và uy lực, luật pháp và chủ nghĩa cơ hội vẫn được duy trì và còn được thế chế hoá trong các chức vụ đi song song với nhau của giáo chủ và của vương tước. Nhưng định chế tôn giáo đã có thêm nhiều lợi thế.

Đạo Hồi của người Thổ ngay từ buổi đầu đã quyết tâm bảo vệ và tăng cường lòng tin và uy quyền của Hồi giáo và không bao giờ xa rời tính chiến đấu ấy. Đạo Hồi ấy ra đời trên biên giới phía Đông qua các đấu tranh chống những kẻ ngoại đạo; nó chuyển sang biên giới phía Tây để làm bức thành ngăn các tấn công của Cơ Đốc giáo; nó làm chủ giáo quốc khi chính đạo Hồi đang phải được bảo vệ trước ba mũi giáp công của quân ngoại đạo ở phương Đông, Cơ Đốc giáo ở phương Tây và bọn tà giáo ngay trong lòng mình. Cuộc chiến đâu lâu dài, gian khổ nhưng kết cục thắng lợi không khỏi không để lại những vết tích trong xã hội và các thế chế Hồi giáo về sau dưới thời người Thổ nắm quyền lãnh đạo. Trong chế độ Seljuk, toàn bộ cơ cấu chính quyền và hành chính đều thấm nhuần một đức tin mãnh liệt. Nó biểu hiện rõ nhất trong sự gia tăng quyền lực, trong sự cải thiện về tổ chức của hệ thống chỉ huy Sun-ni và trong việc đặt trọng tâm vào giáo dục tôn giáo cũng như vào lòng mộ đạo ngay cả của nhân viên nhà nước. Các định chế tôn giáo đã xây dựng giáo lý, tăng cường tính đoàn kết và mở rộng ảnh hưởng của mình đến nhân dân và nhà nước. Sự nhất thể hoá của nó vào cơ cấu quyền lực chính trị sẽ xảy ra dưới triều các hoàng đế Ottoman.

Trong khi ấy, một hiểm họa đang hình thành, hiểm họa lớn nhất đối với sự sống còn của mình mà Hồi giáo chưa bao giờ gặp phải. Từ góc Đông Bắc xa xôi của châu Á, một nhà quý tộc Mông Cổ là Thiết Mộc Chân, qua một cuộc đấu tranh gian khổ, đã thống nhất được các bộ lạc du mục và làm chủ đất nước Mông Cô dưới danh hiệu Thành Cát Tư Hãn. Mùa xuân năm 1206, ông triệu tập một đại hội của tất cả các bộ lạc Mông cổ ở gần thượng nguồn sông Onon, giương cao lá cờ trắng mang chín chùm đuôi ngựa và ra lệnh cho mọi người tuyên thệ lòng trung thành với cá nhân ông. Thế là đế quốc Mông cổ hùng mạnh đã ra đời.

Trong những năm tiếp theo, các sắc tộc Mông cổ khác và dân Thổ chưa có tôn giáo bị bắt buộc phải thần phục ông, và Thành Cát Tư Hãn đã sẵn sàng dẫn dắt các dân tộc của thảo nguyên bước vào một cuộc chinh phục vĩ đại. Năm 1218, khi cả vùng Đông Bắc châu Á đã nằm gọn trong tay, ông bắt đầu hướng sang phía Tây. Quân Mông cổ dưới sự chỉ huy của viên tướng Jebe Noyon đánh chiếm được Kara Khitay và làm chủ cả vùng lãnh thổ đến tận sông Jaxartes, tiếp giáp với nước Khwarezm của một vị hoàng đế Hồi giáo gốc Thổ. Mùa xuân năm sau, tại thị trấn biên giới Utrar trên bờ sông Jaxartes, viên thống đốc Khwarezm ra lệnh cho quân lính tàn sát một đoàn người ngựa từ Mông cổ trở về, tất cả 450 thương nhân trong đoàn theo Hồi giáo đều bị giết.

Phản ứng trả thù của Thành Cát Tư Hãn đã đến ngay lập tức và rất nặng tay. Năm 1219, ông đưa quân vượt sông Jaxartes vào lãnh thổ của Hồi giáo, năm 1220 ông chiếm được các thành phố Bukhara, Samarkand và cả vùng Transoxania. Năm sau, người Mông Cổ dễ dàng vượt sông Oxus rồi tràn qua Marv và Nishapur để bắt đầu chinh phục miền Đông Iran.

Cái chết của Thành Cát Tư Hãn năm 1227 làm ngừng cuộc chinh phục trong thời gian ngắn, nhưng Hãn vương mới lên kế vị lại nhanh chóng tiến quân. Năm 1230, một cuộc tấn công mới đánh tan tàn quân của nước Khwarezm. Đến năm 1240, quân Mông cổ chiếm được miền Tây Iran rồi tiến vào Gruzia, Armenia, và Bắc Lưỡng Hà. Năm 1243, họ đánh bại quân của vương tước dòng Seljuk ở Anatolia.

Vào khoảng giữa thế kỷ, một cuộc Tây chinh mới lại được thực hiện. Hoàng tử Hulagu, một người cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, tuân lệnh vị Đại Hãn đóng đô ở Bắc Kinh đưa quân vượt sông Oxus để đi chinh phục đất đai cua người Hồi giáo đến tận Ai Cập. Chỉ trong vài tháng, các kỵ binh Mông Cổ tóc xoã ngang lưng ào ào vượt qua Iran, đè bẹp mọi kháng cự, ngay cả quân Assassin trong các pháo đài kiên cố cũng bị tiêu diệt hết, mặc dù trước đấy họ đã đẩy lui mọi cuộc tấn công.

Cuối cùng, vào tháng Giêng năm 1258, các đạo quân Mông cổ dồn dập tiến vào thành phố Baghdad. Vị giáo chủ cuối cùng, al-Mustasim, sau một cuộc kháng cự vô vọng ngắn ngủi đã xin hàng nhưng không thành công. Thành phố bị đốt phá, cướp bóc, rồi ngày 20 tháng Hai năm 1258, vị Thống lãnh các Tín đồ cùng toàn bộ gia thuộc mà quân Mông cổ lùng bắt được đã bị hành quyết. Dòng họ Áp-bát đã trị vì gần năm thế kỷ ở cương vị lãnh đạo Hồi giáo Sun-ni đến đó bị tiêu diệt.

Việc xoá bỏ một định chế lịch sử lớn là chức vụ giáo chủ, mặc dù đã bị suy yếu nhưng vẫn còn là trung tâm hợp pháp và biểu tượng thống nhất của Hồi giáo, đã đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn trong lịch sử Hồi giáo; không những hình thức bên ngoài của chính quyền đã thay đổi mà cả nội dung của nền văn minh Hồi giáo, bị tác động bởi các cuộc xâm lăng của các dân tộc thảo nguyên, đã chuyển theo những hướng khác trước. Nhưng các hậu quả tức thời về mặt tinh thần của việc xoá bỏ ấy hình như không lớn như người ta tưởng. Từ lâu, chức vụ giáo chủ đã tàn lụi và mất hết uy quyền cho nên việc làm của người Mông cổ chẳng qua chỉ là chôn vùi bóng ma của một cái gì đã chết. Đối với các cơ cấu chính trị và quân sự đang nắm thực quyền thì việc không còn chức vụ giáo chủ nữa cũng chẳng mang đến bất kỳ thay đổi nào cả. Trong tất cả các quốc gia Hồi giáo, chức vụ vương gia đã được các luật gia và các thể chế tôn giáo công nhận và các vương tước đã tự ban cho mình những danh hiệu tôn giáo và những đặc quyền trước đây chỉ dành riêng cho các giáo chủ.

Xét theo góc độ khác, tầm quan trọng của các tàn phá do cuộc chinh phục của Mông cổ gây ra cũng có vẻ được thổi phồng lên. Đã có lúc người ta cho rằng những tàn phá của người Mông Cổ là nguyên nhân của sự suy đồi nền văn minh Hồi giáo cũ và lẽ tất nhiên là của tất cả các thất bại mà vùng Trung Đông gặp phải từ bấy đến nay trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trị. Nhiều sử gia hiện đại đã từ bỏ hay thay đổi cách nhìn này sau khi có những nghiên cứu sâu xa hơn hay dựa trên kinh nghiệm trực tiếp của các cuộc chiến tranh và tàn phá hiện đại mà đưa ra những phán đoán ít cứng nhắc hơn về một giai đoạn lịch sử dù sao cũng hiền lành hơn thời nay. Ngày nay, mọi người đều thống nhất ý kiến cho rằng các tàn phá do cuộc xâm lược của Mông cổ mang lại cũng không quan trọng, kéo dài hay rộng khắp như trước kia lầm tưởng. Hậu quả trực tiếp của nó, nếu so sánh với các tiêu chuẩn hiện nay thì chẳng là bao, nhưng cũng thật khủng khiếp, đó là những vùng đất rộng lớn bị cướp bóc, tàn phá, dân lành bị chém giết. Nhưng Ai Cập, là nơi mà từ bấy trở thành trung tâm của nền văn hoá A-rập, thì không hề bị người Mông Cổ chiếm đóng và chỉ bị ảnh hưởng một cách gián tiếp. Còn Syria thì chỉ phải gánh chịu những trận càn quét và sau chiến thắng có tính quyết định của quân Mamluk Ai Cập năm 1260 tại Ayn Jalut phá tan quân Mông cổ thì được bảo vệ vì đã sáp nhập vào vương quốc Ai Cập. Vùng Anatolia mặc dù trong một thời gian dài núp dưới bóng và chịu ảnh hưởng của chính quyền Mông cổ ở Iran nhưng vẫn còn đủ sức để nuôi dưỡng một đế quốc Hồi giáo cuối cùng và cũng là hùng mạnh nhất. Iran lẽ tất nhiên là quốc gia chịu đựng cuộc tấn công của Mông Cổ ác liệt nhất, nhưng không phải là khắp cả nước bị tàn phá. Ở miền Nam, các triều đại địa phương nhanh chóng đầu hàng quân Mông Cổ nên các thành phố không bị cướp bóc và cứ tiếp tục phát triển. Thành phố Fars, trước đây có tên là Persis, trở thành tâm điểm của đời sống quốc gia Ba Tư, và thành phố Shiraz nằm cách thủ đô cũ Persepolis khoảng 50 km, trở thành một nơi mà nền văn hoá Ba Tư phát triển mạnh trong thời kỳ Hậu Mông Cổ. Những nhân vật nổi tiếng thời ấy gồm có các thi hào Sadi (1184-1291) và Hafiz (khoảng 1320-1389), nhà thiên văn học Qutb al-Din (mất năm 1310) và kiến trúc sư Qawam al-Din (mất năm 1439), người đã xây đền thờ Hồi giáo Gawhar Shad ở Mashhad, một công trình được xem là vĩ đại nhất của nền kiến trúc Iran.

Ngay cả ở những vùng của Iran bị chiếm đóng, công cuộc phục hồi đã diễn ra nhanh chóng. Sau khi các va chạm ban đầu của cuộc chinh phục dần dần lắng xuống, các Hãn vương Mông cổ mang đến cho Iran một giai đoạn tương đối ổn định và khuyến khích việc xây dựng đời sống thành thị, công nghiệp và thương mại, nâng đỡ các ngành khoa học họ cho là có ích rồi sau khi quy theo Hồi giáo vào năm 1295 họ còn cho phát triển các ngành văn học và giáo dục Hồi giáo. Trong thế kỷ XIV, các Hãn vương Hồi giao đã cho xây dựng nhiều công trình tôn giáo tuyệt vời. Trên một mặt nào đó, cuộc chinh phục của Mông Cổ đã thật sự đưa đến một sinh lực mới cho nền văn minh Trung Đông đang trên đà xuống dốc. Cũng như những người A-rập trước đây khi lần đầu tiên hợp nhất trong cùng một quốc gia các nền văn minh Đông Địa Trung Hải và Iran để mở đầu cho một kỷ nguyên cua những tiếp xúc xã hội và văn hoá phong phú thì ngày nay người Mông Cổ cũng đặt dưới sự bảo trợ của cùng một triều đại các nền văn minh Trung Đông và Viễn Đông mà thương mại và văn hoá ngay lập tức đem lại nhiều mối lợi. Họ đồng thời cũng mở cửa cho những thông thương với châu Âu có ích cho cả hai bên. Nhiều người Âu châu đã lợi dụng thời cơ có những nhà lãnh đạo không Hồi giáo ở Trung Đông để khai thác các con đường bộ nối liền với Trung Quốc. Một thí dụ điển hình của những cuộc tiếp xúc đầy lợi ích giữa các nền văn minh khác nhau là bộ sách “Lịch sử Tổng hợp” (Jamial-Tawarikh) của sử gia người Ba Tư, Rashid al-Din (1247-1318). Rashid al-Din nguyên là một người Do Thái quy theo Hồi giáo, một thầy thuốc, nhà bác học từng giữ chức tể tướng dưới triều các Hãn vương Ghazan và Oljeitu, được giao nhiệm vụ biên soạn một cuốn lịch sử thế giới. Ông tập hợp một nhóm cộng tác viên gồm hai học giả Trung Quốc, một nhà sư tu khổ hạnh trên vùng Kashmir, một chuyên gia Mông Cổ về truyền thống bộ lạc, một thầy tu người Frank, một vài học giả Ba Tư rồi viết nên một cuốn sử ký thế giới vĩ đại gồm lịch sử từ nước Anh đến Trung Quốc. Chỉ qua việc viết lịch sử thế giới kế lại những gì xảy ra ngoài biên giới nước mình, Rashid al-Din và các người tài trợ ông đã đi trước các sử gia Âu châu hàng nửa thiên niên kỷ.

Chỉ có ở một nơi là cuộc xâm lăng của Mông cổ đã gây ra những thiệt hại vĩnh viễn: Baghdad và Iraq sẽ không bao giờ lấy lại được vị trí trung tâm của mình trong thế giới Hồi giáo. Các hậu quả tức thời của cuộc xâm lăng ấy là sự sụp đổ của chính quyền dân sự kéo theo sự huỷ hoại của các công trình thuỷ lợi rất phức tạp mà nhờ có chúng đất nước này mới duy trì được phồn vinh và ngay cả cuộc sống của mình. Trong khi ở Iran, trật tự và phồn vinh được vãn hồi ngay sau khi chính quyền mới đi vào ổn định thì ở Iraq không ai lo cho việc tái thiết cả. Các nhà cầm quyền Mông cổ tại Iran lập thủ đô ở Azerbaijan và thành phố Tabriz, nơi họ cư trú, trở thành một đô thị trù phú. Iraq nay trở thành một tỉnh nằm kề biên giới để mặc cho dân Bedouin vào phá phách, họ tràn vào qua các kẽ hở người Mông Cổ đã mở ra, nhưng khác với người Mông cổ, một khi đã đến là họ không chịu bỏ đi. Từ nay trở đi, các lưu vực sông Tigris và Euphrates phía Tây bị ngăn cách với các quốc gia vùng Địa Trung Hải bằng một hàng rào cát và thép, phía Đông thì phải phụ thuộc vào một nước Ba Tư hùng mạnh đang trên đà tiến lên cho nên không còn là một hành lang thông thương cho các trao đổi mâu dịch Đông Tây. Các trao đổi này đã chuyển lên phía Bắc và phía Đông đến Anatolia và Iran, xuống phía Nam và phía Tây qua Ai Cập và Biển Đỏ, Iraq và thủ đô cũ của các giáo chủ trong nhiều thế kỷ sẽ bị kiệt quệ và không còn ai nhòm ngó.

Sau khi giáo quốc bị dẹp, ở vùng Trung Đông đã có hai khu vực văn hoá lớn. Trên miền Bắc là khu vực của nền văn minh Ba Tư, có trung tâm nằm trên cao nguyên Iran, về phía Tây trải dài sang Anatolia và đến các vùng đất châu Âu mà người Thổ Ottoman đánh chiếm được, về phía Đông đến tận Trung Á và các đế quốc Hồi giáo mới ở Ấn Độ. Trong những nước ấy, tiếng A-rập là ngôn ngữ của tôn giáo và của khoa học về tôn giáo, của pháp luật, truyền thuyết, giáo lý; nhưng ít ai biết đến văn học A-rập. Đời sống văn học và nghệ thuật bị khống chế bởi truyền thống của nước Iran Hồi giáo đã khởi đầu từ buổi “giao thời Iran”, được tiếp tục dưới các triều đại của người Thổ và có một cuộc hồi sinh cùng người Mông Cổ và các thế hệ tiếp nối. Về phía Đông và phía Tây Iran, trong vùng Trung Á và ở Anatolia, người Thổ có những ngôn ngữ và những nền văn học mới, được nuôi dưỡng và chịu ảnh hưởng nhiều của văn học cổ điển Ba Tư.

Về phía Nam của vùng văn minh Iran là những trung tâm cổ của nền văn minh A-rập với tỉnh Iraq đang suy sụp, các trung tâm mới ở Ai Cập và những chân rết của chúng ở phía Tây và phía Nam hướng về châu Phi. Ở những vùng ấy, mặc dù nghệ thuật và nhất là kiến trúc mang ít nhiều dấu ấn của Ba Tư nhưng nền văn học và tiếng Ba Tư thì ít ai biết đến và cách trau dồi văn học cứ theo phương thức cũ của cổ học A-rập.

Về mặt chính trị, đâu đâu cũng được đặt dưới quyền thống trị của các triều đại Thổ hay Mông cổ từ Địa Trung Hải đến Trung Á và Ấn Độ kể cả đế quốc Syria — Ai Cập của quân Mamluk vì nó được quản lý và bảo vệ bởi một giai cấp thống trị gồm những người Mamluk gốc Thổ đưa đến từ vùng Kipchak trên miền Bắc Biển Đen. Về sau, những người Mamluk này được bổ sung, đôi khi bị thay thế, bằng những người Circassi và những dân tộc từ vùng Caucasus.

Trong thời buổi có sự phân hoá về văn hoá ngày càng lớn và có những xung đột chính trị giữa hai vùng thì yếu tố liên kết chính là tôn giáo, đặc biệt là hình thức mới của giáo lý Xu-phi đã lan truyền rộng rãi từ khi có thỏa hiệp giữa lý luận huyền bí và lý luận chính thống mà al-Ghazali thực hiện được dưới thời Seljuk. Công cuộc hồi sinh của giáo lý Sun-ni vào thế kỷ XI đã đi thêm một bước nữa để làm sống lại và tập hợp Hồi giáo vào một mối, tuy nhiên nhiệm vụ ấy chưa phải đã hoàn thành. Dân nông thôn và dân du mục vẫn chưa được tiếp cận, chính những người du mục mới thật là quan trọng ở một thời điểm mà các chính quyền dân sự đang tan rã và thế giới Hôi giáo đang chứng kiến những cuộc di cư lớn. Các bộ lạc Thổ chịu ảnh hưởng rất nhiều của giáo lý Xu-phi. Trước đây, họ quy theo Hồi giáo theo lời khuyên của các tu sĩ và các người theo chủ nghĩa huyền bí đi lang thang khắp nơi, phần lớn gốc Thổ. Đức tin của họ rất khác những lý thuyết giáo điều phức tạp được dạy trong các trường giáo lý. Lý thuyết thoả hiệp của al-Ghazali đã mở đường cho sự thâm nhập lẫn nhau giữa các lý luận huyền bí và giáo lý chính thống. Cơn choáng váng gây ra bởi cuộc chinh phục và ách thống trị của người ngoại đạo đã làm cho các nhà thần học và dân thường xích lại gần nhau. Từ nay trở đi, cả những người theo chủ nghĩa huyền bí Xu-phi lẫn các nhà thần học giáo điều đều có chung một tôn giáo, đó là giáo phái Sun-ni chính thống, mặc dù có vô số cách hành đạo và vô số hình thức tín ngưỡng khác nhau và cả những xung đột không phải là không có.

Từ thế kỷ XIII, biểu hiện đặc trưng của đời sống tôn giáo trong dân gian là tình huynh đệ trong giáo thuyết Xu-phi. Giáo thuyết ấy đã trở thành mối liên kết những người Hồi giáo, biểu hiện chính của lòng sùng đạo. Về sau, nó cũng trở thành nguồn cảm hứng cho đời sống tinh thần và đôi khi cho cả uy quyền chính trị. Các triều đại trị vì ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, hai lực lượng đối nghịch nhau tranh giành quyền làm chủ vùng Trung Đông Hồi giáo, ngay từ lúc thời hiện đại mới bắt đầu đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của tư tưởng và cách tổ chức của chủ nghĩa Xu-phi.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.