Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17 Những Tư Tưởng Mới
Chương 17 Những Tư Tưởng Mới

❊ ❊ ❊

Vào tháng Chín năm 1862, All Pasha, lúc ấy đang là Bộ trưởng Ngoại giao của đế quốc Ottoman, viết một bức thư cho vị đại sứ của mình Paris, trong đó ông đưa ra một cái nhìn toàn cục, các nhà ngoại giao thường gọi là “tour d’horizon”. Ông đánh giá tình hình ngoại giao chung ở châu Âu, quan sát từng nước và cuối cùng là Italia, lúc ấy đang gian khổ đấu tranh cho thống nhất dân tộc. Trong thư, All Pasha nhận xét:[1]

Nước Italia dù chỉ có một chủng tộc, nói cùng một thứ tiếng, theo cùng một tôn giáo mà đang gặp bao nhiêu là khó khăn trong vấn đề thống nhất. Cho đến nay, những gì mà họ đạt được chỉ là hỗn loạn và rối ren. Hãy tưởng tượng việc gì sẽ xảy ra nếu ở Thổ Nhĩ Kỳ, ta thả lỏng cho mọi nguyện vọng dân tộc khác nhau… Chắc phải một thế kỷ và bao nhiêu đầu rơi, máu chảy thì công việc của đất nước mới có được một tình trạng khả quan và ổn định.

All Pasha quả là một nhà tiên tri chính xác, mặc dù thực tế đã cho thấy dự trù “một thế kỷ” của ông còn chưa đủ. Thật ra thì ông biết tiên đoán hơn là biết quan sát chính trường đương thời, vì con vi khuẩn của chủ nghĩa dân tộc đã gây cho ông bao nhiêu lo sợ, thì, ta có thể nói một cách chính xác, đã thâm nhập được vào thể xác chính trị, đang bắt đầu gây viêm nhiễm, tiêu hao sức lực và cuối cùng huỷ hoại đế quốc Ottoman.

Nguồn bệnh, cách thức và thời điểm nhiễm bệnh có thể được xác định một cách chính xác, thật là một trường hợp hãn hữu trong ngành nghiên cứu lịch sử. Nó bắt đầu với các tư tưởng của Cách mạng Pháp, được người Pháp tích cực truyền bá và được hân hoan chào đón bởi một thiểu số dân chúng Ottoman, lúc đầu chỉ là một thiểu số nhỏ bé nhưng tiếp tục lớn dần và đã có thời kỳ chiếm đa số. Sự giao lưu giữa vùng Trung Đông Hồi giáo và châu Âu Cơ Đốc giáo thật không có gì là mới mẻ. Từ nhiều thế kỷ đã có những sự trao đổi hàng hoá và cả kỹ thuật, đôi khi trên một quy mô rất lớn. Trước kia, Trung Đông đã từng mang đến cho châu Âu những thị hiếu và những kỹ thuật mới. Nhưng từ khi thế lực quân sự và kinh tế của châu Âu tăng lên thì chiều trao đổi lại từ Tây sang Đông thay vì từ Đông sang Tây. Tuy nhiên, nó chủ yếu chỉ là những trao đổi hàng hoá vật chặt, ít hay hầu như không có trao đổi trên mặt trí tuệ. Trong thời Trung cổ, hướng chuyển động của các luồng tư tưởng gần như chỉ từ Đông sang Tây; các xã hội nghèo nàn, lạc hậu của Âu châu chỉ là những học trò của thế giới Hồi giáo trong các lĩnh vực y học và toán học, hoá học và thiên văn, triết học và ngay cả thần học. Nhưng từ cuối thời đại mà các sử gia Tây phương gọi là Trung Đại thì phương Đông Hồi giáo chẳng còn gì để dạy cho châu Âu và châu Âu cũng không cần học hỏi gì nữa. Còn sót lại một ít ảnh hưởng của Hồi giáo trong hội họa, văn chương và nghệ thuật nhưng thật ra không đáng kể. Chủ đề trong truyện Robinson Crusoe của Defoe có lẽ được rút ra từ một tiểu thuyết triết lý A-rập thời Trung cổ, vài năm trước đã có một bản dịch sang tiếng Anh của tiểu thuyết ấy. Khi bản dịch sang tiếng Pháp của tập truyện kể vĩ đại của người A-rập, tập “Nghìn lẻ một đêm”, được xuất bản giữa những năm 1704 và 1717, thì khắp châu Âu đã có một phong trào văn học mô phỏng và bắt chước trong hầu hết các ngôn ngữ. Âm nhạc của người Maure ở Tây Ban Nha và người Thổ ở vùng Balkan đã để lại một dấu ấn khá rõ rệt trong cả âm nhạc dân gian và sau đó là âm nhạc nghệ thuật ở những nước vùng ven châu Âu; trong khi mà thỉnh thoảng, một cuộc viếng thăm của một vị đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ và đoàn tuỳ tùng của ông đến một thủ đô Âu châu nào đấy cũng đủ tung ra một kiểu dáng mới gọi là turquerie trong kiến trúc, trang trí nội thất và đôi khi trong trang phục nữa.

Theo chiều ngược lại, sự thông thương trên mặt trí tuệ hầu như không có. Trong thời Trung cổ, châu Âu thật chẳng có gì hấp dẫn để có thể ban tặng cho các xã hội Hồi giáo vốn đã tiên tiến và tinh tươm hơn. Đến khi cán cân sức mạnh của trí tuệ và vật chất nghiêng về phía bên kia thì thế giới Hồi giáo không còn sự thèm khát tiếp thu như trước kia nữa. Đặc biệt là thế giới ấy đã khép kín cửa đối với tất cả những gì đến từ thế giới Cơ Đốc, nghĩa là đến từ một xã hội mà theo quan điểm của người Hồi giáo, đang còn ở giai đoạn đầu tiên và lỗi thời của nền văn minh tôn giáo so với một xã hội Hồi giáo đã đạt đến sự hoàn mỹ tối hậu. Có một vài thành tựu văn hoá được du nhập trong các lĩnh vực mà tiến bộ của Âu châu đã được công nhận từ lâu, chủ yếu là trên mặt quân sự. Đó là một số thông tin về địa dư và đo đạc bản đồ, ngay cả một tài liệu mô tả và một bản đồ đầu tiên của Tân Thế giới. Nhưng các thông tin này hầu như không gây ảnh hưởng gì đến đời sống tinh thần ở Trung Đông. Cũng tương tự như vậy đối với một số thông tin hạn chế về lịch sử mà đế quốc Ottoman cần đến để giao thiệp với các cường quốc châu Âu. Các tài liệu về lịch sử châu Âu thì có rất ít và chẳng được ai sử dụng. Những phong trào lớn như phong trào Phục hưng, cải lương, Thời đại Ánh sáng, Cách mạng khoa học hầu như không ai biết đến và cũng chẳng gây được tiếng vang nào cả. Chính Hồi giáo trước đây vài thế kỷ đã có thời kỳ Phục hưng của riêng mình với những ảnh hưởng đáng kể ở châu Âu. Phong trào Phục hưng và cải lương của châu Âu không hề có được tiếng vang nào ở Trung Đông. Tất cả các tư tưởng ấy và nhiều tư tưởng khác nữa theo sau đều bị xem là của riêng người Cơ Đốc và tức khắc bị loại bỏ vì chúng không xứng đáng được người Hồi giáo để ý và quan tâm đến.

Cách mạng Pháp là phong trào tư tưởng đầu tiên của châu Âu có tác động đáng kể đến Trung Đông, người dân đây nhờ đó mà bắt đầu có những thay đổi trong suy nghĩ và trong hành động. Lý do vì sao xảy ra điều này cũng khá rõ. Đây cũng là một cuộc xáo trộn lớn ở châu Âu mà các tư tưởng đề ra không dùng các từ ngữ của Cơ Đốc giáo, đôi khi một vài biểu hiện của nó lại có tính chất chống lại Cơ Đốc giáo. Chủ nghĩa thế tục thật ra không phải là thứ gì mà người Hồi giáo ưa chuộng, trái lại nữa là khác. Nhưng một phong trào không hề mang sắc thái của một tồn giáo đối nghịch mà đạo Hồi muốn thay thế một phong trào mà tất cả các kẻ thù truyền thống của người Ottoman ở châu Âu đều chống đối, thì lại là một chuyện khác. Các tư tưởng mới này có thể được nghiên cứu trên các điểm tích cực của chúng và biết đâu chúng có thể làm lộ ra các bí mật về sức mạnh và sự giàu có của phương Tây, những điều mà người Hồi giáo ngày càng quan tâm đến.

Một điểm tương phản mạnh mẽ giữa cuộc Cách mạng Pháp và các phong trào trước đó ở châu Âu là việc người Pháp có những biện pháp tích cực để tuyên truyền cho các tư tưởng của mình đến các dân tộc Trung Đông. Ban đầu thì phản ứng trước cuộc tuyên truyền cho Cách mạng Pháp rất nhỏ nhoi và chỉ khu trú trong số dân theo Cơ Đốc giáo của đế quốc Ottoman là chính. Nhung những người dân ấy truyền bá tín tức đi rất nhanh và chẳng bao lâu thì tác động đến giới cầm quyền và cả thần dân trong đế quốc. Để sử dụng một cách ví von, nhiều tác giả Ottoman đương thời ví những tư tưởng ấy của người Frank cũng lây truyền nhanh chóng như căn “bệnh của người Frank” mới xuất hiện.

Tự do, bình đẳng và bác ái không phải là những ý tưởng hoàn toàn mới lạ đối với người dân Hồi giáo. Tinh thần bác ái, tình thần huynh đệ giữa các tín đồ, cũng như sự bình đẳng giữa họ với nhau, chính là nguyên tắc cơ bản của họ không hề bị các đặc quyền về chủng tộc hay giàu sang gây cản trở. Trong quá trình tiến hoá của nhân loại, trên đất Hồi giáo cũng như trên các vùng khác, không sao tránh khỏi sự xuất hiện của các đặc quyền ấy, nhưng chúng không được Hồi giáo cho phép vì chúng xa lạ đối với Hồi giáo, chúng không có tính ổn định và được công nhận như ở Âu châu.

Bình đẳng giữa người theo đạo và người ngoại đạo lại là một chuyện khác. Nhưng sự hèn kém tự tạo ấy bất kỳ lúc nào cũng có thể huỷ đi một cách đơn giản qua việc gia nhập vào Hồi giáo. Sự bất bình đẳng đối với người nô lệ và người phụ nữ thì không dễ gạt bỏ như thế, nhưng hình như vào thời buổi ấy cũng như rất lâu về sau điều này không gây phản kháng lớn. Những người nô lệ được trả tự do có thể nắm những chức vu cao cấp và các nô lệ của hoàng đế Ottoman đã thật sự là những người đứng đầu đế quốc trong mọi lĩnh vực. Còn vấn đề bình đẳng đối với phụ nữ, địa vị thấp hèn của họ đã được chỉ rõ trong các lời thần khải và ghi sâu vào Thánh luật Sharia, thì trong lúc này không ai bàn đến. Ảnh hưởng của luật Sharia thật không phải là hoàn toàn tiêu cực, vì nó cho phép người phụ nữ Hồi giáo có một số quyền lợi, như quyền sở hữu tài sản chẳng hạn, mà những người chị em của họ phương Tây vẫn còn chưa có. Nhiều phụ nữ Tây phương đến thăm vùng Trung Đông cũng không quên nêu lên điểm này.

Việc bãi bỏ chế độ hợp pháp chiếm hữu nô lệ được thực hiện chủ yếu là sau khi phương Tây lập quyền đô hộ hay nhờ sư can thiệp hoặc dưới ảnh hưởng của phương Tây cũng chẳng gợi sự quan tâm hay gây nên nhiều tranh luận cho lắm. Ngược lại, việc giải phóng phụ nữ, rõ ràng là dưới ảnh hưởng của các tư tưởng Tây phương, thì không hề chịu áp lực hay có sự can thiệp của phương Tây, nêu có tiến bộ nào thì cũng đều nhờ các sáng kiến trong nước, việc này đã gây ra biết bao tranh luận gay gắt trong nội bộ. Và ngay một số tiến bộ hạn chế gặt hái được đã đủ để gây nên rất nhiều phản đối trong các giới Hồi giáo đấu tranh, cả những người cấp tiến lẫn những ngươi thủ cựu. Một hậu quả dễ thấy nhất của việc sống lại của đạo Hồi là cách ăn mặc của phụ nữ, chứ không phải của nam giới, trở lại theo lối truyền thống. Ở Iran, sau cuộc cách mạng Hồi giáo, đàn ông biểu lộ sự bác bỏ văn hoá phương Tây bằng cách mặc Âu phục nhưng không thắt cà-vạt. Đố với phụ nữ, người ta còn đòi hỏi hơn thế rất nhiều.

Trái với các quan niệm bình đẳng và bác ái thì quan niệm tự do, ít ra cũng theo ý nghĩa chính trị của nó, lại là một ý tưởng mới. Các từ ngữ “tự do” và “quyền tự do” trong các ngôn ngữ của Hồi giáo, đều có một nghĩa chính về pháp luật và một nghĩa phụ về xã hội. Một người đàn ông hay một phụ nữ tự do thì không phải là một người nô lệ có chủ. Từ tự do cũng được dùng trong một số trường hợp để chỉ một số đặc quyền và miễn trừ, thí dụ được miễn lao động khổ sai, hay được miễn những ràng buộc và những điều áp đặt khác. Tuy nhiên, người ta không hề dùng chữ “quyền tự do” trong các cuộc tranh luận rộng rãi giữa người Hồi giáo với nhau về tính chất của chính quyền hay trong việc so sánh các chính quyền tốt và xấu. Theo tục lệ Hồi giáo, đối nghịch với bạo quyền không phải là tự do mà là công lý, vì công lý được xem là nhiệm vụ của các vua chúa hơn là một quyền của người dân. Các quan niệm của châu Âu về quyền công dân, với những ý tưởng đi kèm theo như quyền tham gia và quyền lựa chọn đại biểu, lần đầu tiên được biết đến qua ảnh hưởng và nhất là qua tác động của nước Pháp Cách mạng.

Đã từ lâu, sứ quán Pháp ở Istanbul được biến thành một trung tâm tuyên truyền. Sách báo nói về Cách mạng được dịch sang nhiều thứ tiêng của đế quốc như tiếng Thổ, tiếng A-rập, tiếng Hy Lạp, tiếng Armenia, và đến từ Pháp hay được in trên một máy in đặt trong khuôn viên sứ quán. Năm 1793, cờ tam tài của nước Cộng hoà được kéo lên trên hai chiến hạm Pháp đậu trước mũi đất cấm cung Seraglio và là dịp để tiến hành nhiều lễ lạc trang nghiêm. Đại sứ Pháp tuyên bố: “Cờ Ottoman và cờ Mỹ cũng như cờ của một vài quốc gia khác không tham gia vào liên đoàn bẩn thỉu của các bạo quyền, cũng được treo trên hai chiến hạm ấy”.[2] Các buổi lễ giao lưu kết thúc với cảnh những người Pháp và bạn bè của họ nắm tay nhau nhảy một điệu “carmagnole cộng hoà” chung quanh một cây tự do trồng trên đất Thổ, ngay trong sân sứ quán.

Các hoạt động ấy gây nên một số lo ngại, không phải trong chính người Thổ, mà trong số các sứ quán Âu châu. Một sử gia Ottoman có thuật lại việc các nước Áo, Phổ và Nga yêu cầu cấm người Pháp treo các phù hiệu xanh trắng đỏ và các biểu tượng cách mạng khác ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nhận được yêu cầu ấy, vị Chánh văn phòng của Chính phủ Ottoman đã trả lời:[3]

Các bạn thân mêh, chúng tôi đã nhiều lần cho các bạn biết đế quốc Ottoman là một quốc gia Hồi giáo. Không có ai trong chúng tôi lại để ý đến những phù hiệu của những người ấy. Chúng tôi chào đón các thương gia đến từ những nước bạn như những khách mời. Họ muốn đội trên đầu thứ mũ nón gì họ thích, không phải là việc của Chính phủ chúng tôi đi hỏi vì sao họ làm như vậy. Các bạn đang phiền lòng chỉ vì một việc vu vơ mà thôi.

Theo một nguồn tin khác thì nhà chức trách Ottoman trả lời rằng chính phủ không hề quan tâm đến mũ nón cũng như giày dép của khách ngoại quốc. Qua tài liệu này và nhiều tài liệu trước đó, ta thấy lúc đầu, người Thổ tin rằng, cũng như trong quá khứ, nhờ có tôn giáo của mình mà họ đã có được sự miễn dịch đối với các bệnh từ châu Âu lây lan đến.

Nhưng ảo tưởng của họ sẽ nhanh chóng bị tan tành. Tháng Mười năm 1797, hoàng đế Habsburg bị bắt buộc phải ký Hiệp định Campo Formio để giảng hoà với nước Pháp Cách mạng. Dựa theo các điều khoản ký kết, hiệp định đã chấm dứt lịch sử lâu đời của nước Cộng hoà Venise và chia các thuộc địa của nó cho đế quốc Habsburg và nước Cộng hoà Pháp. Các đảo Ionian cùng với cảng Preveza và các vùng bờ biển lân cận ở Hy Lạp và Albania rơi vào tay người Pháp. Sự đô hộ của Pháp trên vùng này — từ 1797 đến 1799 rồi từ 1807 đến 1814 - tuy ngắn ngủi nhưng để lại một dâu ấn vô cùng lớn. Trong nhiều thế kỷ trước đây, những vùng đất này không thuộc quyền cai trị của Thổ mà là của Venise, dân chúng đều gốc Hy Lạp, cho nên dưới thời đô hộ của Pháp, các thay đổi có tính cấp tiến và cách mạng được mang đến không khỏi có ảnh hưởng và tác động trên những người láng giềng gốc Hy Lạp sống trong các tỉnh vùng Morea của đế quốc Ottoman.

Từ lâu, người Pháp thường tự xưng là những người bạn truyền thống của đế quốc Ottoman. Người bạn cũ bây giờ lại trở thành người láng giềng mới và mối tình bằng hữu không tránh khỏi bị sứt mẻ. Chẳng bao lâu thì từ phần đất Hy Lạp của đế quốc Ottoman, những tin tức báo động được gửi về thủ đồ về những sự kiện xảy ra trên vùng đất thuộc Pháp: nhiều nghị định được ban hành để thu hồi mọi đặc quyền của người quý tộc, nông dân được miễn lao động bắt buộc, nhiều cuộc bầu cử được tổ chức và đâu đâu cũng bàn đến tự do và bình đẳng. Còn đáng ngại hơn nữa, theo lời một sư gia Ottoman là “bằng cách nhắc đến các quốc gia trong nước Hy Lạp ngày xưa, họ lôi kéo dân theo đạo Cơ Đốc chính thống sống trong vùng ấy ngả về chế độ cộng hoà và họ còn tìm cách đầu độc tâm trí của những người dân đế quốc Ottoman sống bên kia biên giới”.[4]

Lời cảnh báo này lại còn cấp bách hơn sau khi người Pháp chiếm được Ai Cập, một tỉnh có đa số dân Hồi giáo của đế quốc, một cách dễ dàng và nhanh chóng rồi cũng bắt đầu trình bày các chủ đề nguy hiểm và gây rối như sự vinh quang trong quá khứ và quyền tự do trong hiện tại.

Sự kết hợp của hai tư tưởng ấy, pha trộn theo các tỷ lệ khác nhau để thích ứng với từng thị hiếu, đã trở nên vô cùng hấp dẫn. Tự do theo nghĩa quyền công dân là một khái niệm không quen thuộc cần phải được ngấm sâu vào tiềm thức, cho nên lúc đầu có ít người hưởng ứng. Nhưng tiềm năng của nó trở nên vô cùng to lớn khi nó có thêm hai phụ gia cũng là những tư tưởng mới du nhập từ Âu châu, đó là lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc, tức là sự công nhận các khái niệm đất nước và dân tộc thay cho tôn giáo để xác định bản sắc và lòng trung thành của con người, do đó tính hợp pháp của đế chế và sự quy thuận đối với hoàng đế cũng chịu ảnh hưởng.

Mối nguy hiểm ấy, đặc biệt là các tư tưởng về thế tục hoá, không được để cho lọt qua mà không phản đối. Một tài liệu bác bỏ các lập luận của người Pháp viết bằng tiếng Thổ và tiếng A-rập do chính phủ của hoàng đế đưa ra cảnh cáo người đọc rằng:[5]

Người Pháp… không hề tin vào tính duy nhất của vị Chúa tể trên Trời và dưới Đất… Họ đã từ bỏ mọi tôn giáo… Họ… dám quả quyết rằng… không có sư phục sinh và không có đánh giá tội trạng, không có phán xét và không có thưởng phạt, không có câu hỏi và không có trả lời… Họ khẳng định rằng… tất cả mọi người trong nhân loại đều bình đẳng, đã làm người thì nhất mực giống nhau, không ai có đẳng cấp hay tài năng cao hơn người khác, và mỗi người làm chủ tâm hồn mình và tuỳ nghi sắp xếp… cuộc đời của mình. Với lòng tin vô bổ ấy và dựa trên quan niệm phi lý ấy, họ đã xây dựng nên những nguyên tắc mới, những luật pháp mới, làm những gì mà quỷ Satan xúi họ làm, phá huỷ nền móng của tôn giáo, những điều bị cấm đoán thì xem là hợp pháp, tự cho phép họ theo đuổi bất kỳ những gì mình đam mê; họ còn lôi kéo dân lành vào vòng tội lỗi, làm cho những người này trở thành điên cuồng để chia rẽ các tôn giáo, gây bất hoà giữa các vua chúa và các quốc gia. Với nhiều sách vở dối trá và những lời lẽ hào nhoáng bên ngoài, gặp ai họ cũng nói: “Chúng tôi là người của bạn, người cùng tôn giáo và cộng đồng với bạn”… Họ toàn tâm toàn ý làm điều ác và chìm đắm trong truy lạc, cưỡi trên lưng con ngựa của xảo trá và tư phụ để nhảy vào biển cả của lầm lỗi và nghịch đạo, họ được tập hợp dưới cờ của quỷ Satan.”

Việc lặp đi lặp lại tên của quỷ Satan để gán cho thách thức này đã bộc lộ hết mọi ý đồ. Chương cuối của Kinh Cô-ran (114:5) có nói Satan thật là “tên mách nước quỷ quyệt, nó hay thầm thì vào tận tim con người”. Đến cuối thế kỷ XX, chủ đề này được dùng trở lại để tìm cách chống lại sự hấp dẫn của các tư tưởng và lối sống của Âu châu rồi của Mỹ”.

Trật tự chính trị và xã hội truyền thống ngự trị trong đế quốc Ottoman và, với một vài thay đổi, trong đất nước của hoàng đế Iran, bắt nguồn từ luật pháp và tập tục cổ điển của đạo Hồi, và còn xa hơn nữa là từ các nền văn minh cổ xưa của vùng Trung Đông cũ. Cũng như trong các nền văn hoá dựa trên tôn giáo, nó không che giấu là được xây dựng trên nền móng của sự bất bình đẳng, vì rõ là không hợp và cũng thật sự là vô lý nếu dành cùng một địa vị ngang nhau cho những ai chấp thuận lời thần khải cuối cùng của Thượng đế và những kẻ cố tình bác bỏ nó. Những người biện giải cho Hồi giáo ngày nay, sau khi khen ngợi rất đúng sự khoan dung trên mặt tôn giáo của các chế độ Hồi giáo, truyền thống, lại mô tả nó như một hệ thống của các quyền bình đẳng. Thật ra là không phải thế, sự ban bố quyền bình đẳng xưa kia được xem không phải như một hành động đáng khen mà như một việc làm thiếu trách nhiệm. Khi không cho người ngoại đạo được hưởng quyền bình đẳng, nhà nước Hồi giáo chỉ làm theo đúng tập quán của các tôn giáo khi họ nắm chính quyền. Hồi giáo khác phần lớn các tôn giáo chỗ dành cho những người ngoại đạo ấy một vị trí được công nhận trong xã hội, đã được Thánh luật Sharia xác định và duy trì và được quần chúng nhân dân Hồi giáo chấp thuận. Tuy không phải là một địa vị ngang vai ngang vế trong xã hội, nhưng nó cũng biểu thị một mức độ khoan dung không thể có được trong các chế độ tôn giáo khác trước khi chính tôn giáo bị tách khỏi nhà nước hay ít ra cũng bị mất đi khá nhiều ảnh hưởng trong công quyền. Sự khoan dung về tôn giáo của đạo Hồi chỉ dành cho những ai theo chủ nghĩa đơn thần, những người mà theo Hồi giáo đã công nhận những lời thần khải đi trước lời thần khải của Hồi giáo. Trên thực tế, trong vùng Trung Đông, đây là những người theo các dòng khác nhau của Cơ Đốc giáo và những người theo Do Thái giáo và ở Iran, một nhóm theo Zoroastrianism còn sót lại. Trong đế quốc Ottoman, những nhóm thiêu số ấy lập thành những cộng đồng mang tên millet.

Một mille là một cộng đồng tôn giáo và chính trị được biết là có chung một tôn giáo. Các thành viên của nó tuân thủ các quy tắc và cả các luật lệ của tôn giáo mình, dưới sự quản lý của những lãnh đạo riêng, lẽ tất nhiên là trong chừng mực mà các quy tắc và luật lệ ấy không mâu thuẫn với pháp luật và quyền lợi của nhà nước. Để đổi lại cho các biện pháp tự do tôn giáo và tự quản cộng đồng này, các millet của người không phải Hồi giáo phải phục tùng nhà nước và chấp thuận các hạn chế và các thua thiệt gắn với địa vị người dhimmi.

Trong đế quốc Ottoman, có cả thảy bốn millet lớn, theo thứ tự về mức độ quan trọng thì đó là các cộng đồng người Hồi giáo, người Hy Lạp, người Armenia và người Do Thái, cả bốn đều được xác định trên mặt tôn giáo mà thôi. Millet của người Hồi giáo, được gọi là “millet-i hakime”, hay millet lãnh đạo, gồm những người nói tiếng Thổ, A-rập, Kurd, Albania, Hy Lạp cùng nhiều ngôn ngữ khác của vùng Balkan và Caucasus.

Millet thứ hai, millet của người Hy Lạp cũng rất đa dạng. Ngoài dân gốc Hy Lạp, nó còn nhiều người theo đạo Cơ Đốc chính thống với nhiều thành phần khác như người Séc, người Bun-ga-ri, người Ru-ma-ni, người Albania ở châu Âu, nhiều dân nói tiếng A-rập và Thổ ở châu Á mà theo phân loại của phương Tây thì là người Cơ Đốc A-rập và Thổ.

Millet thứ ba, millet của người Armenia thì thuần nhất hơn vì chủ yếu chỉ gồm những người có nguồn gốc Armenia và thuộc giáo hội Armenia. Tuy nhiên, nó cũng có nhiều người nói tiếng Thổ, những người này viết tiếng Thổ bằng chữ cái Armenia. Trong một vài giai đoạn, nó cũng gồm cả những người thuộc Giáo hội Copt của Ai Cập và Giáo hội Jacob của Syria, cả hai có quan hệ mật thiết với Giáo hội Armenia vì cùng theo thuyết đơn thần của Chúa Ki-tô. Cũng nên biết rằng trong millet nay không có những người theo Giáo hội Thống nhất Uniate của phương Đông, hay những người Công giáo Hy Lạp và Armenia, cũng như về sau những người chuyển sang đạo Tin Lành từ thành phần Công giáo.

Millet của người Do Thái thì gồm có những người nhập cư nói tiếng Tây Ban Nha đến trước và sau khi có sắc lệnh năm 1492 trục xuất người Do Thái, những người thuộc cộng đồng Do Thái nói tiếng A-rập ỏ Syria và Iraq, những người Do Thái vùng Morea nói tiếng Hy Lạp, cùng một số cộng đồng nho nhỏ nói nhiều thứ tiếng khác nhau.

Như vậy là mỗi millet được xây dựng trên đặc tính tôn giáo sẽ gồm nhiều nhóm sắc tộc và đôi khi có cả những bộ lạc nữa. Các phân chia nội bộ ấy không phải là không quan trọng. Đó là cơ sở để những phe nhóm tập hợp lại với nhau trong những cuộc tranh giành trên các mặt chính trị, hành chính, thương mại và xã hội. Chúng tạo ra hàng loạt các khuôn mẫu và các định kiến về chủng tộc mà ta thường gặp trong các tài liệu văn học từ nhiều thế kỷ, đến nay vẫn còn phổ biến. Nhưng khi hệ thống millet cổ điển đang còn hoạt động với tính hợp lý nội tại của nó thì các tập hợp dựa trên chủng tộc ấy lại không hề xác định được một bản sắc dân tộc cơ bản, chúng cũng không chỉ rõ là phải hướng lòng trung thành tối hậu về ai. Những dân tộc mà ta thường gọi, và ngày nay chính họ cũng tự gọi, là Thổ hay A-rập, mãi cho đến gần đây vẫn chưa dùng các tên ấy để tự chỉ định mình. Tiếng nói của họ thì đúng là tiếng Thổ nhưng các công dân văn minh của Istanbul và của các thành phố khác không cho mình là người Thổ mà dành danh xưng này cho đám nông dân nguyên thuỷ hay đám dân du mục của vùng Anatolia. Tương tự như vậy, những người nói tiếng A-rập ở Ai Cập hay trong vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu gọi tiếng nói của họ là tiếng A-rập, nhưng từ: “người A-rập” lại dành cho các dân Bedouin sông ven rìa các sa mạc. Chỉ trong thời hiện đại, dưới ảnh hưởng của các tư tưởng Âu châu về quốc tịch mà những người dân thành thị có học thức mới bắt đầu tự xưng bằng những danh từ trên để định nghĩa chủng tộc mình.

Đương nhiên là ảnh hưởng của các tư tưởng Âu châu thì mạnh và trực tiếp hơn đối với các dân tộc theo Cơ Đốc giáo trong đế quốc Ottoman. Trước tiên là người Hy Lạp và người Séc, rồi sau đến các dân khác vùng Balkan và cuối cùng là người Armenia đã tiếp cận và có phản ứng trước các tư tưởng mới mẻ và có tính thuyết phục của chủ nghĩa dân tộc. Ngay cả người Do Thái là cộng đồng nhỏ nhất, yếu nhất và ít chông đối nhất trong số các cộng đồng không phải Hồi giáo thì cuối cùng họ cũng phát triển được chủ nghĩa dân tộc của họ. Năm 1843, giáo sĩ Do Thái Yehuda Alkalai viết một cuốn sách nhỏ, trong đó ông đưa ra ý tưởng mới là người Do Thái phải quay trở lại Đất Thánh để bằng sức mình xây dựng lại quê hương, không cần đợi đến ngày Thượng đế cho chuộc tội. Giáo sĩ Alkalai sinh ra và lớn lên ở thành phố Sarajevo của đế quốc Ottoman.

Trong thế kỷ XIX, nhóm thiểu số Cơ Đốc giáo trong đế quốc Ottoman đề ra ba mục tiêu khác nhau và khó dung hoà với nhau. Mục tiêu thứ nhất là tiến tới quyền bình đẳng trong đế quốc Ottoman, như thế có nghĩa là họ uyên tắc bình đẳng không phân biệt tôn giáo đã được các cường quốc châu Âu đề nghị với người Thổ, đôi khi lại trái ngược với những gì xảy ra trong chính nước họ; nguyên tắc này lại được những người Ottoman theo chủ nghĩa tự do và có đầu óc cải cách ủng hộ. Đối với dư luận sáng suốt của thời buổi ấy, nếu chưa đạt được một cách đầy đủ nguyên tắc này thì thật là có sự thiếu tôn trọng và không thể chấp nhận được.

Không phải chỉ có các tư tưởng mới đã khiến cho các bất bình đẳng trước đây không còn chấp nhận được mà cả sự phồn vinh mới tạo lập nên cũng là một nguyên nhân. Trong các cuộc chiến tranh Cách mạng và chiến tranh của Hoàng đế Napoléon, và trong phần đầu thế kỷ XIX, các cộng đồng không phải Hồi giáo đã trở nên khấm khá. Trình độ học vấn của họ thường cao hơn so với người Hồi giáo và họ có lợi thế là có những trao đổi dễ dàng hơn với thế giới bên ngoài. Kết quả là các cộng đồng ấy phát triển nhanh và trở nên giàu có hơn cộng đồng Hồi giáo. Tất cả những điều này làm cho địa vị thấp kém trên các mặt xã hội và chính trị mà chế độ cũ bắt họ phải chịu đựng ngày càng trở nên bất công. Trong thế kỷ XIX, chính quyền Ottoman đã ban bố một loạt các nghị định cải cách quan trọng để chính thức hoá quyền bình đẳng này. Dù cho các kết quả chưa đáp ứng được đầy đủ các mong muốn, chúng cũng không phải là không đáng kể.

Mục tiêu thứ hai mà ngày càng có nhiều người Cơ Đốc trong đế quốc Ottoman theo đuổi một cách rất tích cực là độc lập, hay ít ra cũng là quyền tự trị trên lãnh thổ quốc gia của họ. Trong thế kỷ XIX và phần đầu thế kỷ XX, trước tiên là người Séc rồi đến người Hy Lạp và sau đó là các dân tộc khác trên bán đảo Balkan đã có thể thành lập những nhà nước độc lập trên những phần đất mà họ xem là lãnh thổ quốc gia của mình — tất cả đều có tham vọng đòi sáp nhập lãnh thổ của các lân bang và của đế quốc Ottoman còn lại. Vị trí của người Armenia, vì bị phân tán trên hầu hết các vùng đất dưới sự đô hộ của Ottoman ở châu Á mà không nơi nào họ chiêm đa số, quả là rất khó khăn. Phần lớn lòng cay đắng đặc biệt trong cuộc đấu tranh của người Armenia, là xuất phát từ chỗ, khác với các dân tộc khác ở vùng Balkan và sau đó, khác với người A-rập và người Do Thái, họ chưa từng có một đất nước có chủ quyền trong thời hiện đại, mãi cho đến sau khi Liên Xô tan rã và nước Cộng hoà Xô viết Armenia cũ giành được độc lập thật sự.

Mục tiêu thứ ba, ít khi được thú nhận nhưng vẫn được theo đuổi một cách kiên trì là việc duy trì các đặc quyền và tính tự chủ mà các millet có được dưới chế độ cũ. Đó là quyền bảo vệ và tăng cường các luật pháp tôn giáo của họ, việc kiểm soát các hệ thống giáo dục dùng tiếng nói của chính họ, và nói một cách tổng quát là duy trì nền văn hoá riêng của họ. Trong thê kỷ XIX, cùng với các cải tiến khác dưới ảnh hưởng của châu Âu có việc thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự. Đây cũng là một đòi hỏi của người dân, vì trước đây là sự cấm đoán nhục nhã ngăn không cho người dân cầm vũ khí thì nay lại trở nên một đặc quyền rất lớn tức là miễn cho một số người khỏi làm nghĩa vụ quân sự. Dù rằng khoản thuế thân cũ vân còn được giữ lại, đổi tên thành thuế miễn quân dịch, nhưng nó cũng chỉ là cái giá rất nhỏ để trả cho đặc quyền ấy.

Về lâu về dài, ba mục tiêu này không phù hợp với nhau. Trước mắt quyền bình đẳng lại kéo theo nhiều điều bất lợi tức thời. Quyền bình đẳng đối với mọi công dân có nghĩa là sự san bằng mức thấp cũng như mức cao. Một nhà quan sát Ottoman đương thời, Cevdet Pasha, khi nói đến việc ban bố đạo luật tháng Hai năm 1856 có viết:[6]

Các vị giáo trưởng… đều bất bình. Thời trước, trong nước Ottoman, các cộng đồng đều được sắp theo ngôi thứ, cộng đồng Hồi giáo đứng đầu, rồi đến các cộng đồng Hy Lạp, rồi Armenia, rồi Do Thái. Nay thì tất cả đều ngang nhau. Một số người Hy Lạp có phản đối và nói: “Nay chính phủ lại đặt chúng tôi ngang hàng với người Do Thái. Để Hồi giáo đứng trên cùng thì chúng tôi chẳng có ý kiến gì cả.”

Phản ứng của “một số người Hy Lạp” cũng dễ hiểu. Trong các thế kỷ XVII và XVIII, giới thượng lưu Hy Lạp ở thủ đô đã có những quan hệ gần như cộng sinh với nhà nước Ottoman. Đặc biệt là một nhóm gia đình quý tộc có tên là Phanariot, vì họ sống ở quận Phanar thuộc Istanbul, ngay cạnh dinh giáo trưởng Hy Lạp, hầu như độc chiếm mọi chức vụ quan trọng trong chính quyền Ottoman. Trong số đó có chức Đại Dragoman của Cánh cửa Tối cao (Chánh Thông ngôn của Chính phủ), trên danh nghĩa chỉ là người phiên dịch nhưng thật sự lo xử lý thường vụ trong các quan hệ ngoại giao của đế quốc. Mỗi vị đại sứ Ottoman cử đi châu Âu đều có mang theo người phiên dịch Hy Lạp thuộc cơ quan Đại Dragoman, người này cũng đồng thời phụ trách nhiều công việc của sứ quán. Trong số các chức vụ khác mà người Phanariot giữ còn có chức Thống đốc của hai tỉnh vùng Danube, về sau hai tỉnh này lập thành vương quốc Rumani.

Khi có những đòi hỏi về độc lập và nhất là khi có các cuộc đấu tranh giành độc lập thì lẽ tất nhiên là các thần dân không phải Hồi giáo bị nghi ngờ là không trung thành với hoàng đế và khó tin cậy được, nhất là đối với những công chức không theo Hồi giáo. Tuy nhiên, các thay đổi cũng chỉ đến từ từ. Khi bắt đầu cuộc nổi dậy của người Hy Lạp, sau trở thành cuộc chiến tranh giành độc lập của Hy Lạp, vị Đại Dragoman bị xử án qua loa rồi bị treo cổ, với tội danh, có lẽ vô căn cứ, là thông đồng với phiến quân.

Mãi đến năm 1840, khi đế quốc Ottoman mở đại sứ quán đầu tiên Athens, thì người được cử đi giữ chức Đại sứ là một người Hy Lạp Phanariot, Kostaki Musurus, về sau sang làm đại sứ Luân Đôn. Nhưng nhìn chung thì người Hy Lạp Ottoman đã vĩnh viễn mất đi các chức vụ có quyền lực và được tín nhiệm mà trước kia họ đã có trong đế quốc Ottoman.

Cùng trong thời gian ấy, vị trí tương đối của các cộng đồng thiểu số khác cũng có nhiều đổi thay. Trong thế kỷ XVI, khi người Do Thái là cộng đồng duy nhất có nhiều hiểu biết về châu Âu và có các kỹ năng của người châu Âu nhưng không bị nghi ngờ là có cảm tình với những kẻ thù ấy của đế quốc thì các nhà cầm quyền Ottoman cho rằng họ có ích trên các mặt kinh tế và chính trị. Nhưng người Do Thái, còn hơn các cộng đồng thiểu số khác, lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ việc suy sụp của đế quốc Ottoman. Không như những người Cơ Đốc trong đế quốc, họ không được các thương nhân Âu châu giúp đỡ và các chính phủ Âu châu bảo vệ. Và mãi cho đến phần sau của thế kỷ XIX, họ cũng không hề có một sự hồi sinh trong giáo dục và trong các hoạt động trí thức như những cộng đồng Cơ Đốc giáo. Trong kinh doanh cũng như trong chính quyền, ở cả thủ đô và các địa phương, họ dần dần bị người Cơ Đốc thay thế, tức là những thành phần Hy Lạp, Armenia và một thành phần quan trọng mới xuất hiện là những cộng đồng thiểu số theo Cơ Đốc giáo và nói tiếng A-rập, sinh sống trong vùng Cận Đông.

Nếu người Hy Lạp ngày càng bị ngờ vực thì những người Cơ Đốc nói tiếng A-rập vẫn còn bị dồn vào sinh sống tại những vùng hẻo lánh của đế quốc và chưa đạt đến vị trí hàng đầu đầy thế lực như về sau. Những người kiếm được nhiều lợi lộc nhất qua các thay đổi ấy là người Armenia. Từ lâu, họ được gọi là millet-i Sadika, millet trung thành, và không những chỉ người Ottoman mà cả người phương Tây đều xem họ như nhóm thiểu số trung thành nhất với nhà nước Ottoman. Cũng như người Hy Lạp trước đấy, họ được hưởng lợi nhiều nhất nhờ có các cơ hội giáo dục và buôn bán của mình để trở nên giàu có. Vào đầu thế kỷ XX, ban lãnh đạo Armenia đã cộng tác với những uỷ ban người Thổ Trẻ để lật đổ chính quyền độc đoán của Hoàng đế Abdulhamid II, và thực hiện thành công cuộc Cách mạng năm 1908 của những người Thổ Trẻ. Trong chính phủ lập ra sau Cách mạng, một người Armenia đã từng giữ chức Bộ hưởng Ngoại giao một thời gian.

Nhưng cũng như đối với người Hy Lạp, quan hệ chung sống trước kia của người Armenia đối với chính quyền Thổ trở nên khó lòng duy trì được, vì sự giàu có của họ, cũng như của người Hy Lạp, kéo theo một trình độ giáo dục cao hơn và một nền văn hoá hồi sinh trở lại, làm cho họ dễ dàng tiếp thu các tư tưởng đến từ bên ngoài. Đó là những tư tưởng đến từ cả hai phía Tây và Đông, nhiều khi mang đến những thông điệp có phân mâu thuẫn va đối nghịch nhau. Thí dụ như từ phương Tây đến, có các tư tưởng về độc lập dân tộc và về dân chủ tự do, và qua các trường học của truyền giáo mọc ra như nấm, lại có sự tái xác định của bản sắc Cơ Đốc. Còn từ phương Đông lại vừa có sự bảo vệ mà nhà nước Nga sẵn sàng dành cho họ, vừa có các thông điệp và những phương pháp gây bạo loạn của các nhà cách mạng Nga. Các tư tưởng ấy luôn luôn có người hoan nghênh vì số phận của người dhimmi, dù được quy định rõ ràng, cũng không thể chịu đựng được lâu dài hơn nữa.

Tình trạng suy đốn của chính quyền Ottoman làm nảy sinh nhiều mối hy vọng. Cuộc khủng hoảng ở Bungari năm 1876, tiếp đó là những thất bại trên chiến trường của đế quốc Ottoman và sự can thiệp của các cường quốc vào công việc nội bộ của đế quốc có vẻ như đang biến các hy vọng ấy thành sự thực. Điều 61 trong Hiệp định Berlin (1878) đã giữ lại các quy định trong điều 16 của Hiệp định San Stefano không còn giá trị nữa, thật ra nó vừa mơ hồ vừa rành mạch. Theo điều khoản ấy thì “Chính phủ Ottoman cam kết thi hành ngay lập tức các cải thiện và cải cách theo yêu cầu của các tỉnh có người Armenia sinh sống, nhằm bảo đảm an ninh của họ chống lại người Circassian và người Kurd. Chính phủ phải từng thời kỳ báo cáo với các cường quốc (châu Âu) về những biện pháp đề ra để đạt tới mục tiêu này, các cường quốc sẽ là người giám sát việc thực thi các biện pháp ấy.”

Thông điệp rất rõ ràng chứa đựng trong câu kết luận trên đã được các sự kiện xảy ra tạo cho một sức mạnh mới. Người Bungari, cũng như người Hy Lạp trước họ, đã giành được độc lập qua một quá trình gian khổ nhưng thành công gồm có các giai đoạn khởi nghĩa, bị đàn áp và can thiệp của các cường quốc. Lúc ấy có vẻ như Armenia cũng có thể giành độc lập theo cùng phương thức ấy. Bắt đầu bằng sự khích động quần chúng, tiếp đến là đấu tranh vũ trang và các xung đột tôn giáo và chủng tộc sẽ được nhen nhóm trở lại sau một thời gian yên ắng. Từ năm 1890 và nhất là trong giai đoạn 1895-1896, khắp vùng Đông Thổ Nhĩ Kỳ và ngay cả thủ đô Istanbul trong những thời gian ngắn, bị chìm đắm trong những chu kỳ đen tối của nổi dậy và đàn áp, khủng bố và tàn sát. Rất nhiều người Armenia bị giết hại, phần lớn từ tay nhóm Hamidiye, một nhóm quân không chính quy mà Hoàng đế Abdulhamid II cho phép thành lập ở các địa phương để đối đầu với những người nổi dậy Armenia và những người bị tình nghi là giúp đỡ, che giấu hoặc có cảm tình với quân phiến loạn. Kết quả không phải là các phong trào nổi dậy bị nản lòng mà trái lại họ càng trở nên cuồng nhiệt hơn. Các cuộc đột kích và tấn công lẫn nhau giữa những người Armenia Cơ Đốc và người Thổ, Circassian, Kurd theo Hồi giáo xảy ra như cơm bữa.

Trên nhiều khía cạnh, người Armenia bị thiệt thòi hơn nhiều so với những người theo Cơ Đốc giáo trong vùng Balkan đã đi trước họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Các thành phố và vùng đất của đế quốc Ottoman mà họ chiếm đa số lại rất phân tán và không thể tập hợp lại thành một lãnh thổ quốc gia như Hy Lạp hay Bungari. Trong các tỉnh mà họ là thiểu số thì thành phần đa số theo Hồi giáo ngày càng lo lắng trước những khát vọng và những hoạt động của người Armenia. Vùng đất tổ của họ, nơi có thủ đô cổ thì đã bị sáp nhập vào đế quốc của các Sa hoàng, đáng lẽ có thể bảo trợ hay khuyến khích họ thì nay lại không hề quan tâm đến một nước Armenia tự do.

Về sau, ngay cả những dân tộc theo đạo Hồi trong đế quốc, như người Thổ, A-rập vv… cũng ấ‘t đi tính miễn dịch của họ và bị lây nhiễm bởi các tư tưởng đến từ châu Âu như tự do, ái quốc và dân tộc.

Những tư tưởng ấy đã góp phần quan trọng vào việc xói mòn các cơ cấu truyền thống về quyền chính thống của hoàng đế và lòng trung thành đối với nhà vua; do đó đã phá vỡ chế độ chính trị cũ. Chúng đến từ từ theo hai giai đoạn, ban đầu dưới hình thức chủ nghĩa yêu nước của Tây Âu và sau đó là chủ nghĩa dân tộc của Trung và Đông Âu.

Trong thế giới Hồi giáo truyền thống cũng như trong thế giới Cơ Đốc giáo, các dân tộc và các quốc gia thường mang nặng một bản sắc dân tộc và địa phương. Ba sắc dân chính của vùng Trung Đông Hồi giáo, người A-rập, người Ba Tư và người Thổ thường rất tự hào về các di sản của dân tộc họ, như tiếng nói và văn học, lịch sử và văn hoá, các truyền thuyết về nguồn gốc chung của họ cũng như các phong tục tập quán riêng của mỗi dân tộc. Cũng có sự gắn bó tất yếu với mảnh đất nơi họ sinh ra - tình yêu đất nước, lòng tự hào của từng địa phương, nỗi nhớ cố hương, tất cả đều được nói lên trong văn học Hồi giáo cũng như trong văn học Tây phương. Nhưng những tình cảm ấy không hề mang một thông điệp chính trị nào cả, và trước khi có sự du nhập của các tư tưởng phương Tây thì không bao giờ người ta chấp nhận, hay ngay cả biết đến, ý nghĩ là quốc gia hay lãnh thổ quốc gia lại là đơn vị của một bản sắc hay của một chủ quyền chính trị. Đối với người Hồi giáo, bản sắc của họ là lòng tin, họ chỉ trung thành với vị vua chúa hay triều đại đang cai trị họ nhân danh lòng tin ấy.

Cả chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc đều là những khái niệm mới lạ đối với thế giới Hồi giáo. Trong các bản tấn phong của các vua chúa cũng như trong những bài viết của các sử gia, chủ quyền và bản sắc được xây dựng trên những quan niệm khác với quốc gia và lãnh thổ. Như Ali Pasha đã từng quan sát, các tư tưởng ấy khi du nhập đã mang theo những tác động phá hoại đáng gờm.

Chủ nghĩa yêu nước, không phải chỉ đơn thuần là tình yêu đối với nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là một nghĩa vụ chính trị và nếu cần, nghĩa vụ quân sự đối với đất nước của mình, phải đáp ứng khi chính phủ kêu gọi. Đây là một quan niệm đã ăn sâu trong nền văn minh Tây phương và có gốc rễ từ các nền văn minh Hy La cổ xưa. Tại các nước Anh, Pháp và sau này tại Hoa Kỳ, nó được kết nối với hai ý tưởng khác: đó là sự thống nhất của mọi thành phần dân chúng trong một lòng trung thành duy nhất đối với tổ quốc, và ngày càng có sự đoán chắc là nhân dân, chứ không phải Giáo hội hay Nhà nước, mới chính là nguồn chủ quyền duy nhất và thật sự.

Chủ nghĩa yêu nước đã gắn bó mọi dân tộc sinh sống trên đất Anh và Pháp - nhiều khi không nói cùng một thứ tiếng, không theo cùng một tôn giáo - vào trong những quốc gia thống nhất và hùng mạnh. Một vài nhà quan sát Ottoman trước tình hình xảy ra ở Âu châu cảm thấy một tư tưởng như thế cũng có thể liên kết các cộng đồng sắc tộc và tôn giáo khác nhau của đế quốc Ottoman trong một lòng trung thành chung đối với đất nước của họ và đương nhiên là đối với nhà nước Ottoman đang cai trị đất nước ấy.

Tư tưởng về chủ nghĩa yêu nước, ít lâu sau, cũng được phổ biến ở Ai Cập, nơi có nhiều lợi thế trong việc truyền bá nó. Hơn hẳn các nước khác trong vùng, Ai Cập được xác định rất rõ ràng trên các mặt địa lý và lịch sử. Vì là vùng đất chỉ có một một lưu vực và một châu thổ, mặc dù đã trải qua các quá trình Hồi giáo hoá và A-rập hoá, nước này vẫn giữ được bản sắc riêng một cách liên tục từ hàng nghìn năm trước với một mức độ thuần nhất và tập trung hiếm thấy trong vùng. Tư tưởng mới về chủ nghĩa yêu nước giới hạn trong một đất nước lại còn được các tham vọng của triều đại các vương tước Khedive Ai Cập hậu thuẫn mạnh mẽ vì họ đã xây dựng đây một quốc gia tự chủ chỉ chịu thần phục đế quốc Ottoman trên danh nghĩa mà thôi. Các vương tước Khedive rõ ràng là rất thích thú đối với một tư tưởng đề cao một nước Ai Cập cách biệt, được hiển thị qua một quy chế quốc gia và nhà nước riêng rẽ. Người ta có thể dễ dàng chấp nhận Ai Cập như một đất nước, một quốc gia theo định nghĩa của phương Tây hơn là đế quốc Ottoman thế kỷ XIX với nhiều chủng tộc và tiếng nói khác nhau. Nhưng ngay Ai cập, việc chấp nhận này cũng không phải đến một cách nhanh chóng, ngay lập tức và không có phản đối, và ngay tận ngày nay không phải ai ai Ai Cập cũng hoàn toàn ủng hộ nó.

Từ khoảng giữa thế kỷ trở đi, chủ nghĩa yêu nước được một tư tưởng rất khác đến thế chỗ, đó là: chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước đã có tác dụng lớn Tây Âu, nơi mà một bên là các quốc gia, một bên là các dân tộc hầu như đã được xác định rõ ràng. Nhưng nó lại không phù hợp với các điều kiện của Trung và Đông Âu, nơi có nước Đức đang bị chia thành từng mảnh nhỏ, nơi có đế quốc Áo-Hung đa dạng chủng tộc, nơi có đế quốc của các Sa hoàng mà người ta thường gọi là “nhà tù của các dân tộc”. Yêu nước trong tình trạng ấy chỉ có nghĩa là giữ nguyên hiện trạng, và đối với nhiều người, điều này không thể chấp nhận được. Còn khái niệm về dân tộc, không xác định trên tính cách quốc gia mà trên các tiêu chuẩn về ngôn ngữ, văn hoá và có lẽ cũng về việc có cùng chung tổ tiên thì đi sát với các thực tế của đời sống hàng ngày hơn. Chúng cũng đi sát hơn với các thực tế của vùng Trung Đông vì ngay lập tức chủ nghĩa dân tộc của người Trung Đông tỏ ra dễ nhận thức được và dễ chấp nhận hơn là chủ nghĩa yêu nước tự do của phương Tây.

Cả hai tư tưởng yêu nước và dân tộc khi du nhập vào Trung Đông thường được hoan nghênh trong các phong trào đòi tự do và chống đối. Nhìn chung thì chủ nghĩa yêu nước có xu hướng củng cố còn chủ nghĩa dân tộc lại có xu hướng lật đổ chế độ chính trị hiện hữu. Đối với người yêu nước, độc lập của tổ quốc phải là trên hết, quyền tự do chỉ là quyền của các cá nhân trong nước. Còn đối với người theo dân tộc chủ nghĩa, nhà nước có thể do ngoại bang lập nên và có tính cách đàn áp, cả đất nước và dân tộc có thể do ngoại bang cai trị, đôi khi một cổ hai tròng. Có tự do nghĩa là chấm dứt được các lệch lạc ấy và giành được độc lập và thống nhất dân tộc.

Những người đầu tiên được các tư tưởng mới ấy thuyết phục là những dân không Hồi giáo trong đế quốc Ottoman, họ khá cởi mở đối với các tư tưởng đến từ châu Âu Cơ Đốc, họ dễ dàng chấp nhận là chính quyền đang cai trị họ là một chế độ bạo quyền của ngoại bang. Và không những chỉ chính quyền mà thôi đâu. Người ta đã thấy một quá trình tương tự như vậy đối với các millet Hy Lạp, mà dưới chế độ cũ, đã tập hợp mọi người dân theo đạo Cơ Đốc chính thống trong đế quốc. Đến thế kỷ XIX, những tín đồ Cơ Đốc chính thống không phải người Hy Lạp bắt đầu cảm thấy khó chịu khi bị điều khiển bởi một hàng chức sắc tôn giáo mà trên chóp bu chỉ có toàn người gốc Hy Lạp. Ban đầu chỉ có người dân vùng Balkan, rồi sau đấy, tuy ít có kết quả hơn, những người Cơ Đốc chính thống nói tiếng A- rập ở Syria đòi hỏi nhiều quyền quyết định hơn trong công việc nội bộ của chính họ và trong tổ chức tôn giáo của họ. Làn sóng dân tộc chủ nghĩa này đã phá vỡ millet Hy Lạp, rồi sau đấy làm tan rã đế quốc Ottoman.

Ở Iran, vì xa châu Âu hơn, vả lại có các đế quốc Nga và Ottoman làm đệm để làm dịu bớt các tác động trực tiếp của phương Tây, cho nên ảnh hưởng của các tư tưởng Tây phương có phần nào chậm hơn, muộn hơn và yếu hơn. Ngoài ra, trên một vài mặt, địa bàn ở đây cũng ít thuận lợi hơn. Hoàng đế Iran, cũng giống như hoàng đế Ottoman, cai trị một dân tộc đa dạng, có nhiều tôn giáo khác nhau và nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nhưng vai trò của các thiểu số trên các mặt ngôn ngữ và tôn giáo ấy lại không quan trọng như trong đế quốc Ottoman và không bao giờ họ có thể là một môì đe dọa đối với chế độ chính trị và xã hội đương quyền. So với tình hình trong đế quốc Ottoman thì ở đây, dân không phải Hồi giáo ít hơn, nghèo hơn và quy thuận triều đình dễ dàng hơn. Những người theo đạo Do Thái và đạo Zoroastrianism thì đã hội nhập trên mặt văn hoá, không sử dụng ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Ba Tư và có nguồn gốc lịch sử đã bắt rễ từ trước thời kỳ Hồi giáo. Nhưng trên các mặt luật pháp và xã hội thì họ bị cách ly và không hề nắm quyền lực chính trị nào cả. Các cộng đồng Cơ Đốc đều nhỏ bé trừ cộng đồng người Armenia. Trên nhiều mặt, họ chiếm một địa vị khả quan hơn những dân Do Thái và Zoroastrianism. Nhưng khác những dân này vì không những họ không cùng tôn giáo với người Ba Tư mà họ còn có lòng tự hào về một bản sắc chủng tộc, ngôn ngữ và văn hoá riêng biệt. Các cộng đồng không Hồi giáo ở Iran cũng tổ chức thành những nhóm riêng biệt có ít nhiều quyền tự chủ, nhưng các cộng đồng ấy còn thua xa, xét về mức độ quan trọng khi so sánh với các millet trong đế quốc Ottoman.

Thoạt đầu ai cũng tưởng các nhóm thiểu số chủng tộc và tôn giáo trong thành phần dân Hồi giáo chiếm một vị trí quan trọng hơn. Trong đám này có một nhóm thiểu số Sun-ni nhỏ và một nhóm thiểu số khá năng động gồm những người theo giáo phái Bahai mới lập ra. Nhưng người Sun-ni thì lặng lẽ còn người Bahai thì bị nhiều cấm đoán nặng nề. Những người nói tiếng Ba Tư chiếm khoảng trên một nửa dân số Iran, phần còn lại gồm nhiều sắc tộc thiểu số như người Azeri và người Kurd trên vùng Tây Bắc, người Kashgai và người A-rập trên vùng Tây Nam, người Turkmen trên vùng Đông Bắc, người Baluchi trên vùng Đông Nam. Phần lớn những dân này nói các ngôn ngữ Turkic, rất gần với các ngôn ngữ của người dân sống bên kia biên giới Ottoman và trên các thuộc địa của Sa hoàng ở vùng Xuyên Caucasia và Trung Á. Nhưng những khác biệt về chủng tộc thật ra không có gì là quan trọng cho lắm. Tất cả các dân tộc ấy đều theo Hồi giáo, phần lớn thuộc giáo phái Si-i, và mối dây kết nối họ với nhau là lòng trung thành với tôn giáo và sự gần gũi về văn hóa, những tình cảm còn mạnh hơn nhiều các quan niệm mới về tính chất dân tộc đang từ Âu châu xâm nhập đến họ.

Tuy nhiên trên nhiều khía cạnh, Iran lại là nước rất dễ dàng chấp nhận các ý tưởng mới, nếu không phải là chủ nghĩa dân tộc thì chắc chắn là chủ nghĩa yêu nước. Khác với những dân tộc của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, của Ai Cập, Bắc Phi, tức là những bộ phận của thế giới A-rập, người Iran vẫn còn ý thức được quá khứ của mình trước khi có Hồi giáo và họ rất tự hào về những thành quả của thời ấy. Quá khứ ấy mang tính thần thoại hơn là lịch sử với nhiều truyền thuyết và sử thi hơn là các sự kiện lịch sử nghiêm túc, nhưng không phải vì thế mà nó kém phần sinh động, những ký ức ấy chiếm một vị trí quan trọng trong văn học, nghệ thuật và trong nhận thức bản thân của người Ba Tư dù sinh sống ở đâu cũng vậy. Hơn nữa, khác với các nước thuộc thế giới A-rập, ở Iran, người ta vẫn giữ được ngôn ngữ của riêng mình, viết bằng chữ cái A-rập, có sử dụng nhiều từ mượn từ tiếng A- rập, nhưng cơ bản vẫn rõ ràng là tiếng Ba Tư chứ không phải A-rập. Từ khi triều đại Xa-pha-vít nổi lên đầu thế kỷ XVI, người Iran đã lập nên một vương quốc riêng biệt, có một chính phủ hoàng gia duy nhất, và rõ ràng tách khỏi các nước lân cận nhờ tiếng nói và văn hoá Ba Tư của họ, và còn đặc biệt hơn nữa nhờ lòng tin theo giáo phái Si-i, mà dưới triều Xa-pha-vít lúc đầu chỉ là tôn giáo chính thức nhưng sau đó đã trở thành tôn giáo thống trị trong nước. Tất cả các lân bang như đế quốc Ottoman, các nước Hồi giáo vùng Trung Á, Afghanistan, Ấn Độ đều theo giáo phái Sun-ni nên họ luôn luôn có xung đột với các nước láng giềng ấy chỉ vì khác giáo phái. Chủ nghĩa yêu nước đến Iran chậm hơn, và khi có chủ nghĩa ấy thì nó có sức quyến rũ mãnh liệt ngay cả đối với các thủ lĩnh của các phong trào Si-i cấp tiến chống phương Tây, chống hiện đại và chống thế tục.

Ngày 9 tháng Giêng năm 1853, Sa hoàng của toàn Nga có gặp riêng Đại sứ Anh quốc, Ngài George Hamilton Seymour trong một buổi tiếp tân Saint Petersburg. Theo báo cáo của Seymour thì Sa hoàng có nhận xét về đế quốc Ottoman như sau: “Trên tay chúng ta đang có một con người bệnh hoạn, một con người đang trạng thái nguy kịch. Thật là bất hạnh nếu một ngày gần đây anh ta qua đời trước khi ta thực hiện đầy đủ các sắp xếp cần thiết.” Seymour đề nghị nên nhẹ tay khi xử lý anh chàng này và phải giúp đỡ để anh ta bình phục. Ông nói, cần phải có một vị lương y chứ không phải một thầy thuốc chuyên mổ xẻ.

Lương y thì quả là có nhiều, trong nước cũng như nước ngoài, và mặc dù đôi khi họ tranh cãi với nhau kịch liệt, nhưng hình như họ cũng có một ít thành công trong việc chữa chạy cho anh chàng bệnh hoạn. Phải có thời gian và yên tĩnh thì chắc là họ sẽ đạt đến mục tiêu. Nhưng thời gian thì không có và yên tĩnh thì cũng không đến với họ.

❀ ❀ ❀

[1] Do Cavid Baysun xuất bản trong Tarih Dergisir 5(1953), 1.137-145.

[2] E. de Marcère, Une Ambassade à Constantinople: la politique orientate de la Revolution Iranoaise (Paris 1927) vol. 2,1.12-14.

[3] Cevdet, Vekayi-i Devlet-i Aliye (Istanbul 1877), vol. 5,1.130.

[4] Cevdet, s. đã dẫn, vol. 6, t. 280-281.

[5] Bản tiếng Thổ trích ra từ một tài liệu trong Thư khố Istanbul được E. 17Z. Karal xuất bản, Fransa-Misir ve Osmanli Imparatorlugu (1797-1802) (Istanbul 1940) 1.108 và tiếp theo. Bản tiếng A-rập do Sir Sidney Smith đưa về từ Acre có gồm một tiểu sử của Jazzar Pasha: Tarikh Ahmad Basha al- Jazzar (Beirut 1955), 1.125 và tiếp theo. Có nhiều khác biệt trong hai bản.

[6] Cevdet, Tezakir 1-12, ed. Cavid Baysun (Ankara 1953), t. 67-68.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.