Ngày 25 tháng Ramadan năm 129 Hồi giáo, tức ngày 9 tháng Sáu năm 747, Abu Muslim, một người nô lệ Ba Tư đã được giải phóng đang cầm đầu một giáo phái hoạt động tích cực, đã giương cao lá cờ khởi nghĩa màu đen tại tỉnh Khorasan nằm ở miền Đông Iran. Từ hơn 30 năm, ông và những người tiền nhiệm đã lên tiếng tố cáo dòng Umayya nghịch đạo và ủng hộ các yêu cầu của những người thuộc gia đình Đấng Tiên tri, đặc biệt là của dòng Áp-bát, hậu duệ của Al-Abbas, một người bác ruột của Đấng Tiên tri. Ông đã lôi kéo được nhiều người theo. Dân chúng Iran theo đạo Hồi đang căm phẫn vì những bất công mà chế độ Umayya áp đặt lên họ; còn binh lính và những người A-rập định cư ở đây gần như đã Iran hoá nhưng vẫn bị chia rẽ và tiếp tục chống đối lẫn nhau ngay khi quân phiến loạn đã gần kề chiến thắng. Với sự ủng hộ chủ yếu là của những người không A-rập nhưng cũng có một số người A-rập giúp đỡ tích cực, Abu Muslim nhanh chóng đánh chiếm toàn bộ vùng Khorasan rồi từ đó vượt qua Iran tiến về phía Tây vào địa hạt của chính quốc cũ là Iraq. Năm 749, quân của ông vượt sông Euphrates và đánh bại một đạo quân Umayya khác. Cũng trong năm ấy, Abul Abbas, người lãnh đạo giáo phái, được quân lính tôn lên làm giáo chủ ở Kufa lấy hiệu là al-Saffah. Nhiều chiến thắng mới trong các năm 749 và 750 ở Iraq và Syria đã dẫn đến sự cáo chung của triều đại Umayya và quyền uy của vị giáo chủ mới chẳng mấy chốc được củng cố trên toàn đế quốc Hồi giáo.
Cuộc đấu tranh nhằm thay triều đại Umayya bằng triều đại Áp-bát không phải chỉ đơn giản là một cuộc đổi ngôi mà thật sự là một cuộc cách mạng trong lịch sử đạo Hồi.
Tính chất cách mạng trong chiến thắng của dòng Áp-bát đã từng được các sử gia cả Hồi giáo lẫn Tây phương công nhận và họ cũng đã bỏ ra nhiều công sức để giải thích nó. Một vài người trong số họ do bị tiêm nhiễm bởi các lý thuyết sử học dân tộc hay cả chủng tộc đã giải thích chiến thắng của dòng Áp-bát như chiến thắng của người Ba Tư trước người A-rập - đó là sự tiêu diệt cái gọi là “Vương triều A-rập” của dòng Umayya và thay thế vào đấy là một đế quốc Iran mới dưới lớp sơn Hồi giáo đã Ba Tư hoá.
Mới nhìn qua, hình như quan điểm này cũng có vẻ là có cơ sở - người Ba Tư rất đông trong số các lãnh đạo phong trào nổi loạn và trong số các bộ trưởng và triều thần của chế độ mới, hay ảnh hưởng Ba Tư sâu đậm trong văn hoá chính trị Áp-bát. Nhưng những nghiên cứu về sau bắt buộc các sử gia phải thay đổi, trên nhiều mặt khác nhau, luận thuyết là Ba Tư thắng và A-rập thua. Giáo phái Si-i mà trong thế kỷ XII được các sử gia Iran xem như là biểu hiện của “Ý thức Quốc gia Iran” thật ra lại có nguồn gốc A-rập. Giáo phái này mạnh nhất trong đám dân tạp chủng ở miền Nam Iraq và được những người di cư A-rập đưa vào Iran, những người này trong một thời gian dài là cơ sở chính của giáo phái ấy. Cuộc nổi dậy của Abu Muslim nhắm vào chính quyền Umayya và bá quyền Syria chứ không phải chống lại người A-rập chỉ vì họ là A-rập. Sát cánh với người Ba Tư trong phong trào ủng hộ dòng Áp-bát là nhiều người A-rập kể cả trong số các lãnh đạo và chỉ huy quân sự của nó. Dù cho sự đối kháng chủng tộc chắc là có đóng một vai trò nào đó và mặc dù người Ba Tư chiếm đa số trong hàng ngũ những người chiến thắng nhưng phong trào đã đưa một người A-rập lên ngôi giáo chủ và đã thiết lập một triều đại A-rập. Sau chiến thắng, nhiều chức vị quan trọng trong chính quyền được dành cho người A-rập, tiếng A-rập trở thành ngôn ngữ duy nhất trong hành chính và văn hoá, ruộng đất của người A-rập được hưởng nhiều đặc quyền thuế khóa, và ít nhất là về mặt xã hội, học thuyết về tính ưu việt của người A-rập vẫn được duy trì. Cái mà người A-rập bị tước đi, không phải như trước đây người ta lầm tưởng, là tính thực tại của quyền lực — điều này về sau mới xảy ra — mà chính là độc quyền hưởng thụ những gì do quyền lực mang lại vì bây giờ họ phải chia sẻ với những người khác, đặc biệt là với những người anh em mang nửa dòng máu của họ. Dưới triều Umayya chỉ những người A-rập thuần tuý cả hai bên nội ngoại mới được giữ những chức vụ cao của chính quyền. Dưới triều Áp-bát, không những chỉ những người lai A-rập mà cả người Ba Tư hay thuộc các dân tộc khác, chỉ cần được giáo chủ sủng ái chứ không cần thuộc dòng quý tộc vẫn có thế có quyền cao chức trọng trong triều đình. Chỉ về sau thì việc xoá bỏ “Vương triều A-rập” mới được thực hiện khi các chiến binh A-rập không còn là một đẳng cấp có nhiều đặc lợi mà nhóm cấm vệ người Thổ lên nắm quyền ở thủ đô trong khi các triều đại mới cũng nổi lên trên các vùng lãnh thổ tự trị ở xung quanh.
Cũng như trong bao cuộc cách mạng khác, các thay đổi sâu xa chỉ đến từ từ hoặc đi trước hoặc đi sau các thay đổi về chính trị. Vị giáo chủ Umayya cuối cùng, Marwan II là con của một phụ nữ nô lệ người Kurd. Giáo chủ Áp-bát đầu tiên, al-Saffah, con một phụ nữ A-rập tự do vì thế cho nên theo tục truyền, ông được lựa thay cho người anh. Tuy nhiên về sau, người anh này, dù là con một phụ nữ nô lệ người Berber, cũng kế vị ông và dưới danh hiệu al-Mansur (754-775), đây là người mở đầu cho một dòng Áp-bát hùng mạnh trên nhiều mặt. Chỉ trừ vài ngoại lệ, những người kế vị ông và hầu hết tất cả giáo chủ Hồi giáo về sau đều có cha là những người nổi tiếng, thường là vua trị vì còn mẹ lại là những phụ nữ vô danh mà đa số là nô lệ người ngoại quốc.
Ý nghĩa lớn lao trong chiến thắng của dòng Áp-bát có thể được đánh giá đầy đủ hơn qua các thay đổi theo sau thắng lợi ấy hơn là qua phong trào nổi dậy đã khai sinh ra nó. Thay đổi trước tiên và gây ấn tượng mạnh nhất là việc dời thủ đô từ Syria, nơi trị vì của dòng Umayya từ một thế kỷ qua, sang Iraq, trung tâm của các đế quốc lớn vùng Trung Đông có dân cư trú thuộc nhiều dân tộc. Giáo chủ Áp-bát đầu tiên, al-Saffah, xây dựng một thủ đô tạm thời trên bờ sông Euphrates. Người kế vị ông, al-Mansur, lập một thủ đô vĩnh viễn mới tại một thị trấn trên bờ Tây sông Tigris. Thị trấn này nằm ở điểm cắt của các con đường thông thương gần Ctesiphon, thủ đô cũ của triều đại Ba Tư Sasanid. Trong một câu chuyện đầy biểu tượng văn hoá, một tác giả A-rập thời Trung cổ kể rằng giáo chủ đã ra lệnh cho thợ xây phải sử dụng lại một số gạch cũ lấy từ lâu đài đã đổ nát của hoàng đế Chosroes ở Ctesiphon.
Tên chính thức của thủ đô mới là Madinat al-Salam, Thành phố Hoà bình, nhưng người ta thường gọi nó theo tên ngôi làng nhỏ ở ngay vị trí ấy trước đây, Baghdad. Từ thành phố này, các giáo chủ dòng Áp-bát đã trị vì trên phần lớn đế quốc Hồi giáo trong vòng 5 thế kỷ, lúc đầu là những hoàng đế có thực quyền, về sau, tiếp theo một giai đoạn suy tàn nhanh chóng, chỉ là những lãnh đạo trên danh nghĩa vì quyền bính thật sự đều nằm trong tay người khác, phần lớn thuộc giới quân sự.
Cũng như bao người, trước và sau họ, lên nắm quyền nhờ một phong trào cách mạng, chẳng mấy chốc mà các giáo chủ Áp-bát bị bắt buộc phải lựa chọn giữa một bên là các chính kiến và mục tiêu của những người đã giúp họ lên ngôi, và một bên là các nhu cầu của chính phủ và của đế quốc. Họ đã lựa một chủ trương dựa trên sự nhất trí và tính liên tục và đã chạm phải sự đối đầu của những phần tử quá khích nhất trong số những người ủng hộ, họ cũng phải đập tan các chống đối ấy. Người xây dựng nền móng cho chiến thắng của dòng Áp-bát, Abu Muslim, cùng nhiều cộng sự của ông đã bị đem ra hành quyết. Cách lựa chọn này làm cho nhiều nhân vật quá khích và cấp tiến xa rời họ, về sau những người này cũng tìm ra cách biểu lộ sự bất mãn của mình. Đồng thời, đa số dân Hồi giáo ôn hoà cảm thấy yên tâm, nhờ đó mà al-Mansur đã chiến thắng được thù trong giặc ngoài để xây dựng một triều đại lâu bền và rực rỡ, đặt nền móng cho một chính thể Áp-bát.
Trong nhiệm vụ này, ông nhận được sự giúp đỡ tận tình và có hiệu quả của một gia tộc mà sau đây sẽ đóng một vai trò hàng đầu trong vòng nửa thế kỷ đầu tiên của triều đại dòng Áp-bát. Gia tộc Barmecid thường được xem là có gốc Ba Tư. Nói chính xác hơn, họ là người Iran vùng Trung Á, thuộc dòng dõi Phật tử ở thành phố Balkh. Chỉ ít lâu sau khi Baghdad được xây dựng, Khalid al-Barmaki trở thành tể tướng của al-Mansur. Ông và con cháu ông, với cương vị tế tướng (wazii), đã điều hành và phát triển tổ chức hành chính của đế quốc cho đến khi họ bị cách chức vào thời giáo chủ Harun al-Rashid năm 803.
Thủ đô đã được dời sang phía đông gần kề các trung tâm xưa của nền văn hoá Iran. Người A-rập đã mất độc quyền thống trị và những người Iran Hồi giáo được chấp nhận vào giai cấp lãnh đạo. Người Iran vì có kinh nghiệm trên chính trường nên lọt vào được hết tất cả các vị trí của bộ máy hành chính và các vị tế tướng wazir trụ vững vàng trên chức vụ người đứng đầu chính phủ, chỉ dưới quyền tối cao của giáo chủ mà thôi. Hậu quả tất yếu là ảnh hưởng của Iran ngày càng lớn mạnh. Người ta đã dịch hay cải biên các văn bản của triều đại Sasanid. Các truyền thống Sasanid được làm sống lại và cả trong các nghi thức của triều đình cũng như trong các thủ tục hành chính, người ta đã theo đúng các mô hình Ba Tư của triều đại Sasanid. Điều này có nghĩa là người ta đã rời xa những tập tục của các bộ lạc A-rập mà thật ra thì trong những lĩnh vực nêu trên đã chẳng giúp ích gì cho lắm. Lần đầu tiên trong một quốc gia Hồi giáo, một đạo quân chính quy theo mô hình Ba Tư được thành lập, do đó triều đại Áp-bát ít bị phụ thuộc vào các bộ lạc A-rập để có đủ quân số và ảnh hưởng A-rập giảm đi đáng kể ở thủ đô.
Trên nhiều mặt, các giáo chủ Áp-bát đầu tiên tiếp tục đường lối của những người tiền nhiệm, không thay đổi nhiều như trước đây người ta lầm tưởng. Có một vài thay đổi mà vào giai đoạn cuối của triều đại Umayya đã được thấy rõ thì nay vẫn tiếp tục với một tốc độ cao hơn. Giáo chủ không còn là một “siêu thủ lĩnh” A-rập nắm quyền nhờ sự đồng ý khi có khi không của những tộc trưởng bộ lạc A-rập. Nay ông là một nhà lãnh đạo chuyên chế theo kiêu các vua chúa vùng Trung Đông, trị vì theo mệnh trời, có lực lượng vũ trang hậu thuẫn và có một bộ máy hành chính cồng kềnh thực thi các quyết định của mình. Dù rằng trên mặt này, các giáo chủ Áp-bát mạnh hơn các lãnh đạo Umayya nhưng họ vẫn chưa mạnh bằng các vua chúa xưa, vì họ thiếu sự hậu thuẫn của một giai cấp phong kiến vững mạnh, một hàng giáo phâm có tôn ti trật tự; không những thế lại còn phải tuân thủ, theo nguyên lý cơ bản của tôn giáo, các điều Thánh luật mà họ không có quyền xoá bỏ hay sửa đổi.
Để vượt qua các khó khăn này và cũng để tăng cường sự gắn bó keo sơn của giống nòi A-rập, các giáo chủ đều nhấn mạnh đến bản sắc và tính đồng nhất của đạo Hồi, nhằm xây dựng một tôn giáo và một nền văn hoá thống nhất trên đất nước bao la và đa dạng. Cũng như dưới triều Sasanid trước đây, họ đề cao yếu tố tôn giáo trong quyền lực cũng như trong chức vụ của giáo chủ. Với sự giúp đỡ và đồng tình của các nhà thần học có thẩm quyền và dễ sai khiến, họ tìm chỗ dựa cho chế độ trên một giai cấp gồm những giáo sĩ của chính quyền - một hàng giáo phẩm làm công việc tu hành thì ít mà làm công tác xã hội thì nhiều. Để đạt được các mục tiêu ấy, các giáo chủ cho xây dựng lại các thành phố thánh địa là Mecca và Medina, tổ chức các cuộc hành hương thường xuyên đến Iraq và bắt đầu truy hại những tà phái Hồi giáo, đặc biệt là giáo phái Manichaeism lúc ấy có vẻ được nhiều người ưa chuộng. Giáo chủ al-Mamun (813-833) và những người kế tục đã cố gắng áp đặt luận thuyết của trường phái Mutazila thành giáo lý chính thức của nhà nước và truy hại những người theo các trường phái khác. Cố gắng này đã không đạt được kết quả mong muốn và khi giáo chủ al-Mutawakkil (847-861) cần đến sự hỗ trợ của dân chúng chống lại quân lính gốc Thổ bất phục tùng thì ông đã phải loại bỏ và đàn áp những người theo thuyết Mutazila để rồi quay lại với các luận điểm Sun-ni chính thống. Giáo phái và các giáo sĩ Sun-ni đã khá mạnh để có thể chống lại rồi thắng các ý đồ áp đặt quan điểm giáo lý của giáo chủ, mặc dù đấy là một vị giáo chủ Sun-ni hợp pháp. Ý đồ xây dựng một đạo Hồi dưới sự lãnh đạo của nhà nước giống như thuyết của Erastus đã không thành công và về sau không còn ai nhắc đến nữa. Sau triều al-Mutawakkil, dòng Áp-bát, ít ra là trên danh nghĩa, nghiêng hẳn về một giáo lý rất chính thống và không một triều đại nào khác lại có gan bắt buộc thể chế tôn giáo của đạo Hồi phải đi theo một học thuyết nhất định nếu không muốn bị cho là dị giáo.
Những năm cầm quyền của giáo chủ Harun al-Rashid (786-809) thường được xem là đỉnh cao của chính thể Áp-bát nhưng cũng từ thời điểm ấy các điềm báo hiệu suy tàn bắt đầu xuất hiện. Một trong những dấu hiệu ấy là dưới triều các giáo chủ kế tục ông, quyền lực chính trị ở các vùng đất ngoại vi bị sụp đổ nhanh chóng, về phía Tây, Bắc Phi (756-800) và Tây Ban Nha hầu như là đã độc lập dưới quyền cai trị của các vua chúa bản địa và chỉ thần phục giáo chủ Áp-bát ngoài miệng mà thôi. Năm 868, ngay cả Ai Cập cũng tách rời khỏi đế quốc khi viên thống đốc, Ahmad ibn Tulun, nguyên là một sĩ quan cận vệ gốc Thổ do giáo chủ cử sang từ Baghdad, đã tuyên bố độc lập cho Ai Cập rồi đánh chiếm cả Syria. Khi triều đại của ông bị đổ thì một triều đại khác cũng gốc Thổ lại nổi lên và về sau Ai Cập không bao giờ trở lại dưới quyền thống trị của Baghdad, trừ một gian đoạn rất ngắn giữa hai triều đại. Vì có một chính quyền độc lập ở Ai Cập, nhiều khi chính quyền này còn cai trị cả Syria, cho nên giữa Syria và Iraq có một vùng đệm và ở đây các bộ lạc A-rập Bedouin sông ven sa mạc cũng nổi lên giành lại độc lập. Nhiều khi, họ còn làm chủ được những vùng đất canh tác ở Syria và Lưỡng Hà, chiếm nhiều thành thị và lập ra những triều đại nhất thời.
Về phía Đông, quá trình tan rã của đế quốc lại dưới một hình thức khác. Mối liên kêt giữa các giáo chủ Áp-bát và những người Iran ủng hộ đã bị những cuộc nội biến khá mờ ám làm lung lay dưới triều Harun mà đỉnh cao là việc gia tộc Barmecid bị mất quyền và bị tàn sát rồi Harun tự tay nắm lấy chính quyền. Sau khi ông chết, các xung đột ngấm ngầm bùng ra thành nội chiến giữa hai người con là al-Amin và al-Mamun. Lưc lượng của al-Amin tập trung chủ yếu tại thủ đô và Iraq, còn al-Mamun thì có nhiều người ủng hộ ở Iran. Cuộc nội chiến này được xem là một cuộc tranh chấp giữa người A-rập và người Ba Tư, kết cục là người Ba Tư đã thắng. Có lẽ thì đây chỉ là sự tiếp tục của các cuộc đấu tranh xã hội đã có trong giai đoạn trước, nay lại thêm phần phức tạp vì có các tranh chấp giữa Iran và Iraq, tranh chấp có tính chất địa phương hơn là quốc gia. Vì có lực lượng hậu thuẫn chủ yếu ở miền Đông nên giáo chủ al-Mamun đã có lúc định dời đô từ Baghdad qua Marv nhưng trước sự chống đối mãnh liệt của nhân dân Baghdad và của cả Iraq nên ông từ bỏ ý định ấy. Về sau, các tham vọng của Iran được thể hiện qua việc thành lập các triều đại địa phương tự chủ. Một viên tướng người Iran của al-Mamun là Tahir đã dựng lên một triều đại trên vùng Khorasan hầu như đã độc lập. Bằng cách này, ông lập ra một tiền lệ cho nhiều người khác mặc dù đa số vẫn thần phục giáo chủ, trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu giáo phái Hồi giáo Sun-ni, nhưng trong vùng họ kiểm soát quyền lực thật sự của giáo chủ không còn nữa.
Trong khi trên hai mặt Đông và Tây của đế quốc, quyền lực của giáo chủ chẳng còn gì ngoài việc ban sắc tấn phong cho các vua chúa địa phương đã ở trên ngôi thì ngay tại chính quốc là Iraq, quyền lực ấy cũng nhanh chóng bị thu nhỏ lại. Khi Baghdad còn kiểm soát được các con đường thông thương trọng yếu xuất phát từ thành phố ấy thì việc để quốc bị tan rã về mặt chính trị không hề làm tổn hại, trái lại còn giúp phần tăng cường việc phát triển thương mại và văn hoá. Nhưng dù sao cũng có nhiều mối đe dọa ngày càng lớn. Một triều đình xa hoa phung phí và một bộ máy hành chính quan liêu ngạo mạn làm nảy sinh những cuộc khủng hoảng tài chính liên tục, càng trầm trọng hơn khi không còn thu nhập của các địa phương nộp về và khi các mỏ vàng, bạc hoặc cạn kiệt hoặc bị quân xâm lược chiếm đoạt. Các giáo chủ tìm ra một giải pháp cho vấn đề ngân sách bằng cách khoán trắng cho các viên thống đốc địa phương việc thu thuế cho nhà nước. Các thống đốc nhận khoán này nhanh chóng trở thành những chủ nhân thật sự của đế quốc, nhất là khi các công tác khoán thuế và cai trị địa phương lại trong tay các chỉ huy quân đội; thật ra thì cũng không ai khác có thế bắt người dân phục tùng mình được. Bắt đầu từ các triều đại al-Mutasim (833¬842) và al-Wathiq (842-847) các giáo chủ chỉ là những con rối trong tay các tướng lĩnh, những người thường có quyền tuỳ ý lập hay phế truất họ.
Trong những năm đầu của thế kỷ thứ X, quyền uy của các giáo chủ đã hoàn toàn sụp đổ. Sự kiện thường được xem là biểu tượng của quá trình này là việc giáo chủ ban cho vị thống đốc Iraq chức “Chỉ huy của các Chỉ huy” - amir al-umara. Mục đích của chức vụ này là muốn nói lên quyền của vị chỉ huy quân sự Baghdad cao hơn hẳn các chỉ huy ở các địa phương khác. Nhưng đồng thời, nó cũng chính thức công nhận một uy lực tối cao bên cạnh giáo chủ thật sự nắm giữ các quyền hành chính trị và quân sự, còn giáo chủ chỉ ngồi làm vì ở vị trí đứng đầu nhà nước và giáo hội để đại diện cho tính thống nhất của đạo Hồi. Cuối cùng, vào ngày 17 tháng Giêng năm 946, sự sụp đổ đã hoàn tất khi dòng họ Buyid gốc Ba Tư theo giáo phái Si-i và đang cai trị một quốc gia gần như độc lập ở miền Tây Iran, đem quân đến chiếm thủ đô Baghdad. Giáo chủ không còn ngự trị ngay trên thành phố của mình nữa. Thảm hại hơn nữa là người đứng đầu Hồi giáo Sun-ni lại bị một người Si-i khống chế, sở dĩ họ còn cưu mang giáo chủ chỉ vì ông còn có ích. Về sau, dù cho các vương tước Sun-ni có thay thế các vương tước Si-i đi nữa thì giáo chủ vẫn không hết bị quản chế.
Từ đó cho đến khi quân Mông cổ chiếm Baghdad vào năm 1258 thì chức vụ giáo chủ chỉ mang tính tượng trưng, biểu hiện cho sự thống nhất của Hồi giáo Sun-ni và làm tấm bình phong hợp pháp cho nhiều tướng lĩnh nắm thực quyền. Chỉ trừ một khoảng thời gian vào cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, còn lại thì lúc nào giáo chủ cũng bị các vương tước này hiếp đáp.
Việc dòng họ Buyid làm chủ Baghdad không chỉ tượng trưng cho một bước ngoặt trong tiến trình chính trị của giáo quốc; nó còn đánh dấu một giai đoạn quan trọng được gọi là “giao thời Iran” trong lịch sử Hồi giáo. Giữa giai đoạn quyền lực của người A-rập bị suy tàn vào thế kỷ thứ IX và lúc chính quyền người Thổ được thiết lập vào thế kỷ XI, có một khoảng thời gian sống dậy của nước Iran, lần này có tinh thần dân tộc đậm nét với những triều đại Iran được nhân dân Iran ủng hộ, nổi lên trên đất Iran và quan trọng hơn cả là làm dấy lên một tinh thần dân tộc và một nền văn hoá Iran dưới hình thức Hồi giáo. Tiếp theo triều đại Iran Hồi giáo độc lập đầu tiên, triều đại Tahir (821-873), là các triều đại Saffar (867-903), Saman (875¬999) ở phía Đông, triều đại Buyid (932-1055) và các triều đại khác ở phía Tây và Bắc. Tất cả đều theo Hồi giáo và một vài triều đại còn thấm nhuần lý tưởng Hồi giáo A-rập, không hề để ý đến nền văn hoá Ba Tư nhưng trong quá trình tiến triển và do sức ép của các thế lực hậu thuẫn, họ dù muốn dù không cũng phải chủ trì việc hồi sinh của Iran. Tích cực nhất là dòng họ Saman, thủ đô Bukhara của họ là trung tâm của công cuộc hồi sinh nền văn hoá Ba Tư. Ngôn ngữ chính của phần lớn các triều vua Saman là tiếng Ba Tư. Nhà vua nâng đỡ các nhà thơ và nhà thông thái Ba Tư và, một nền văn học Ba Tư đã ra đời vào thế kỷ thứ X và XI, mặc dù sử dụng chữ cái A-rập và chịu ảnh hưởng sâu sắc của đức tin và các truyền thống Hồi giáo nhưng rõ ràng nó vẫn giữ được tính chất Ba Tư thuần túy.
Giai đoạn dòng Buyid cầm quyền lại là một gian đoạn hồi sinh của Iran và của giáo phái Si-i, vì thế cho nên người ta hay lẫn lộn cả hai với nhau. Khi triều đại Áp-bát được thành lập, các đòi hỏi của người Si-i có thay đổi. Dưới triều Umayya, người Si-i đòi quyền lãnh đạo cộng đồng và nhà nước Hồi giao dựa trên quan hệ máu mủ với Đấng Tiên tri qua dòng phụ hệ, tức là chỉ dành cho con cháu Ali vì là anh con bác ruột Đấng Tiên tri chứ không phải là con cháu chính Đấng Tiên tri qua con gái Người là Fatima. Họ đòi quyền lãnh đạo cho con cháu của Ali qua các bà vợ khác ngoài Fatima hay cho những người thuộc các dòng khác trong gia tộc Đấng Tiên tri. Dòng Áp-bát cũng bắt đầu đòi quyền chức nhờ những người Si-i. Sau khi dòng Áp-bát chiếm được lợi thế so với các hậu duệ của Ali thì người Si-i lại trở lại quyền thừa kế qua các hậu duệ của Đấng Tiên tri, con cháu của Fatima; lúc đầu quan điểm này là mạnh nhất, về sau nó trở thành lý lẽ duy nhất của người Si-i. Các con, cháu và về sau hậu duệ của Ali và Fatima được người Si-i gọi là giáo chủ imam. Sau khi giáo chủ imam thứ sáu, Jafar al- Sadiq qua đời năm 765 thì người Si-i tách làm hai nhóm ủng hộ hai người con ông là Musa và Ismail. Nhóm thứ nhất công nhận Musa và con cháu ông cho đến đời thứ mười hai kế từ Ali là các giáo chủ imam hợp pháp của Hồi giáo. Imam thứ Mười hai này bị mất tích một cách mờ ám và các tín đồ của nhóm Si-i Mười hai Imam này cho đến nay vẫn còn chờ đợi ông trở lại như một vị cứu thế. Nhóm Mười hai Imam thường là ôn hoà trong giáo thuyết và chỉ khác giáo thuyết của Hồi giáo Sun-ni ở những điểm nhỏ nhặt mà thôi.
Nhóm thứ hai tên là nhóm Ismaili vì họ ủng hộ Ismail, đã thừa hưởng những luận thuyết quá khích và những phương pháp lật đổ của giáo phái Si-i dưới triều Umayya mà họ đưa ra áp dụng trong tình hình mới. Thương mại và công nghiệp phát triển, các thành thị được mở mang, chính quyền vừa phình to vừa bị quân sự hoá, xã hội ngày càng phức tạp và phân hoá, tất cả đều góp phần làm cho cấu trúc xã hội của đế quốc đã lỏng lẻo lại bị căng thẳng và gây nên nhiều bất bình trong dân chúng. Đời sống tinh thần ngày càng phong phú và những cuộc va chạm của các nền văn hoá và các tư tưởng đã làm nảy sinh những giáo phái mà trong một xã hội thần quyền thì đấy chính là biểu hiện tự nhiên của sự chống đối chính quyền hiện hữu. Cuối thế kỷ thứ IX và đầu thế kỷ thứ X, những căng thẳng ấy đã lên đến tột độ và chính quyền Hồi giáo phải đương đầu với những thách thức đi từ cuộc nổi dậy vũ trang của những người Qarmat (theo Hamdan Qarmat) ở miền Đông Arabia và trên vùng Syria - Lưỡng Hà qua các luận điệu tuyên truyền phản loạn của nhóm Ismaili đến các chỉ trích tế nhị nhưng tỏ ra rất có hiệu quả của các nhà đạo đức và sùng tín bất bạo động ở ngay trong thành Baghdad. Các giáo chủ phải tốn nhiều công sức mới dẹp tan được cuộc nổi loạn của người Qarmat ở Syria và Lưỡng Hà và cô lập được nhóm phiến quân ở vùng Đông Arabia. Tuy nhiên, ở Yemen, người Ismaili lại củng cố được thắng lợi của họ và lên nắm quyền ở đây.
Từ Yemen, họ gửi người đến Bắc Phi và năm 908 đã thành công trong việc đưa Ubaydallah lên ngôi giáo chủ Fatima ở đây, sở dĩ có tên gọi như thế vì Ubaydallah tự cho mình là dòng dõi Đấng Tiên tri qua Fatima, con gái của Người. Ba vị giáo chủ Fatima đầu tiên chỉ trị vì trên đất Bắc Phiz nhưng vào năm 969, giáo chủ thứ tư là al-Muizz đánh chiếm được Ai Cập và cho xây thủ đô mới đặt tên là Cairo.
Lần đầu tiên ở Trung Đông có một triều đại độc lập hùng mạnh đã không những không chịu công nhận quyền lực, dù chỉ là hình thức, của dòng Áp-bát mà trái lại, còn lập nên một giáo quốc riêng biệt, tranh giành quyền lãnh đạo toàn thế giới Hồi giáo với các giáo chủ Áp-bát và ngay cả các cơ sở lý thuyết của giáo quốc Sun-ni cũng bị họ bác bỏ. Cùng với các hoạt động chính trị, quân sự và tôn giáo của mình, các giáo chủ Fatima đã có một chính sách kinh tế khôn khéo nhằm chuyển nền thương mại với phương Đông từ Vịnh Ba Tư sang Biển Đỏ do đó củng cố sức mạnh của Ai Cập đồng thời làm suy yếu Iraq.
Giáo quốc Fatima nhanh chóng mở rộng sang Palestine, Syria và Arabia và đã có một thời các giáo chủ Fatima có nhiều thế lực và uy tín hơn các giáo chủ Sun-ni ở Baghdad. Đỉnh cao của giáo quốc Fatima ở Ai Cập là dưới triều giáo chủ al-Mutansir (1036-1094) khi giáo quốc bao gồm cả toàn bộ Bắc Phi, đảo Sicily, Ai Cập, Syria và Tây Arabia. Năm 1056-1057, một viên tướng thân Fatima chiếm được Baghdad rồi ra lời tuyên bố trong các đền thờ của thủ đô về việc thần phục vương quyền của giáo chủ Fatima. Chỉ trong năm sau viên tướng này bị lật đổ và sau đấy uy quyền của dòng Fatima cũng giảm dần. Sự sụp đổ bắt đầu được thấy trong bộ máy hành chính, cho nên sau đây một số nhà độc tài quân sự lên nắm quyền ở Cairo chẳng khác gì trước đây những nhân vật tương tự cũng đã lộng hành ở Baghdad. Bị tước hết thực quyền và chỉ còn là những con rối bất lực trong tay các vương tước, các giáo chủ Fatima dần dần mất hậu thuẫn của những người ủng hộ trong giáo phái. Cuối cùng chế độ Fatima sụp đổ và Ai Cập trở lại thần phục giáo chủ Sun-ni.
Vào thời điểm cực thịnh, chính quyền Fatima ở Ai Cập có những điểm khác các chế độ đi trước. Trên cùng là giáo chủ, một quân vương chuyên chế, mà đối với các tín đồ là một imam toàn thiện toàn mỹ lên ngôi báu do mệnh trời đã ban cho một gia đình thánh thiện. Chính quyền rất tập trung và có tôn ti trật tự, với ba lĩnh vực rõ rệt là tôn giáo, quân sự và hành chính. Hai lĩnh vực sau do một tể tướng wazir, một quan chức dân sự dưới quyền giáo chủ, đứng ra quản lý. Lĩnh vực tôn giáo gồm một mạng lưới các nhà truyền giáo nhiều cấp bậc dưới sự điều khiển của một vị Tổng truyền giáo, một nhân vật có thế lực chính trị vô cùng lớn. Bộ phận này của nhà nước kiểm soát tất cả các trường đại học và điều khiển cơ cấu tuyên truyền cho giáo phái Ismaili, nó có chức năng tương tự như của Đảng cầm quyền trong các quốc gia độc đảng hiện đại. Lĩnh vực tuyên truyền có một đạo quân rất lớn các cán bộ tuyên truyền trong các tỉnh miền Đông vẫn còn trên danh nghĩa dưới sự kiểm soát của giáo chủ Áp-bát ở Baghdad. Người ta có thể nhận thấy hiệu quả của công tác tuyên truyền này qua nhiều thí dụ. Từ Iraq đến biên giới Ấn Độ nhiều cuộc nổi dậy đã chứng thực cho các hoạt động tuyên truyền hữu hiệu này của người Ismaili, trong khi có những thí dụ cho thấy các thuyết lý Ismaili đã có nhiều tiếng vang hấp dẫn trong đời sống tinh thần của Hồi giáo.
Kỷ nguyên Fatima cũng là một giai đoạn phát triển thương mại và công nghiệp lớn ở Ai Cập. Trừ một vài thời kỳ có nạn đói hoành hành do mực nước sông Nil lên xuống thất thường hay do lỗi của phe quân sự, còn lại là cũng sung túc. Ngay từ buổi đầu, các chính phủ Fatima đã nhận thấy tầm quan trọng của thương mại cho cả sự phồn vinh của đế quốc và sự mở rộng ảnh hưởng của chế độ. Tế tướng Yaqub ibn Killis phát động một phong trào quảng bá thương mại mà các lãnh đạo về sau tiếp tục noi theo. Trước thời Fatima, Ai Cập có một nền ngoại thương khá nhỏ bé và hạn chế. Triều đại Fatima phát triển trồng trọt và sản xuất công nghiệp rồi khỏi đầu một chiến dịch quan trọng để xuất khẩu hàng hoá Ai Cập. Đồng thời, họ xây dựng một mạng lưới quan hệ thương mại rộng lớn, đặc biệt là với châu Âu và Ấn Độ. Về phía Tây, họ mở rộng quan hệ đã có từ thời họ chiếm đóng Tunisie với một vài thành bang cộng hoà ở Italia. Lượng hàng hoá trao đổi bằng đường biển giữa Ai Cập và phương Tây trở nên rất lớn và đội thương thuyền Fatima làm chủ cả vùng Đông Địa Trung Hải. Xa hơn về phía Đông, người Fatima có quan hệ rộng rãi với Ấn Độ rồi dần dần tiến xuống phía Nam chiếm lĩnh cả hai bờ Biển Đỏ. Phần lớn hàng hoá Ấn Độ trung chuyển qua cảng biển Aydhab do người Fatima kiểm soát. Thương nhân Ai Cập đi đến đâu thì các giáo sĩ truyền giáo Ismaili cũng nối gót, chẳng mấy chốc mà trong giới Hồi giáo ở Tây Ban Nha và Ấn Độ cũng xuất hiện tình trạng sôi sục về tư tưởng như ở Ai Cập.
Nhưng người Fatima không giành được chiến thắng cuối cùng chống lại dòng Áp-bát. Sau khi giáo chủ Fatima al-Mutansir qua đời năm 1094 thì quyền uy của họ bị suy sụp và họ không bao giờ có thể trở lại thách thức bá quyền của dòng Áp-bát. Một lý do của sự thất bại này là sự tiêu hao năng lực của người Si-i trong các xung đột giữa các giáo phái Ismaili và Mười hai Imam. Giáo phái sau này cũng có nhiều người theo kế cả một số vua chúa địa phương ở Iran. Thật là trớ trêu khi dòng Fatima đưa ra những thách thức lớn nhất đối với chính quyền Baghdad thì ngay những giáo chủ Áp- bát lại đang chịu sự đô hộ của các vương tước Buyid theo giáo phái Mười hai Imam. Dù theo giáo phái Si-i nhưng gia tộc Buyid không hề đưa con cháu Ali lên ngôi giáo chủ - giáo chủ Imam thứ mười hai của họ mất tích trước đây khoảng bảy mươi năm - và họ tiếp tục tôn sùng các giáo chủ Áp- bát, được giữ làm tấm bình phong Sun-ni cho quyền lực của họ và làm công cụ cho các chính sách của họ trong thế giới Sun-ni.