Trước đây người ta thường gắn điểm xuất phát của lịch sử hiện đại vùng Trung Đông, và nhiều vùng khác trên thế giới, với thời điểm mà phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa đế quốc châu Âu bắt đầu có tác động đến những nơi này, khi nó xuất hiện, tỏa ra khắp nơi và đưa đến những thay đổi sâu xa trong vùng. Có nhiều thời điểm xuất phát được đưa ra. Một số người cho là nó bắt đầu khi quân viễn chinh Pháp đặt chân lên đất Ai Cập năm 1798; một số khác đặt nó vào thời điểm của hiệp ước tồi tệ Kucuk Kaynarca mà nước Nga chiến thắng bắt buộc nước Thổ Nhĩ Kỳ thua trận phải đặt bút ký; những người khác lại gắn nó vào chiến bại cuối cùng của Thổ Nhĩ Kỳ dưới chân thành luỹ Vienna vào năm 1683.
Nền văn minh Hồi giáo đã tự khẳng định là một nền văn minh của tôn giáo. Thế giới văn minh là Dar al-Islam, Nhà của Hồi giáo, là tất cả các vùng đất mà luật Hồi giáo ngự trị và do một chính phủ Hồi giáo cai quản. Chung quanh thế giới ấy là Dar al-Harb, Nhà của Chiến tranh, chỉ có toàn những dàn ngoại đạo cư trú, những người chưa chấp nhận đức tin Hồi giáo hoặc chịu sự cai quản của một chính phủ Hồi giáo. Theo quan điểm Hồi giáo phản ánh trong nhiều bài viết về lịch sử và địa lý, thì bên ngoài biên giới Hồi giáo, các vùng đất cũng có nhiều loại khác nhau, về phía Đông và phía Nam thế giới của đạo Hồi, có rất nhiều dân tộc khác nhau, một số thì văn minh, người Hồi giáo có thể học được ở họ những điều bổ ích, số khác là những dân tộc man rợ. Tuy nhiên, không có ai dám cạnh tranh với đạo Hồi trên khía cạnh tôn giáo, cũng không có những đối thủ đáng gờm của giáo quốc Hồi giáo với tư cách là một cường quốc trên thế giới. Những dân ngoại đạo ấy, dù văn minh hay man rợ, cũng đều được xem là có thể cải hoá được, đó là những thành viên tiềm tàng của thế giới Hồi giáo và sự thật là rất nhiều người trong số họ đã có số phận như thế.
Không hề có ố‘i đe dọa nào đến từ phương Đông. Các nền văn minh lớn của Trung Quốc và Ấn Độ không bao giờ thách thức, chứ đừng nói gì là đe dọa thế giới Hồi giáo. Cuộc xâm lược lớn nhất của người vô tôn giáo đến từ phương Đông, người Mông cổ, dù để lại một dấu ấn vô cùng lớn lao, nhưng cuối cùng cũng bị thu hút vào thế giới Hồi giáo khi chính những người đến chinh phục lại bị đồng hoá sau khi quy theo Hồi giáo và sự thật là họ trở thành một bộ phận quan trọng của thế giới Hồi giáo.
Tình hình trên hướng Tây thì hoàn toàn khác hẳn, đặc biệt là trên biên giới Tây Bắc của Hồi giáo, ở những nước Âu châu của thế giới Cơ Đốc, cả Hy Lạp và Latin. Tại đây, người Hồi giáo thật sự công nhận là đã gặp một đối thủ, cũng một tôn giáo có tính toàn cầu, cũng một quan niệm về sứ mệnh như họ, các tín đồ cũng tin rằng mình mới nắm giữ được lời thần khải cuối cùng của Thượng đế với bổn phận là truyền đạt đến cho toàn nhân loại. Và cũng như trong thế giới Hồi giáo, lòng tin này lại được hậu thuẫn bởi những thế lực chính trị và quân sự qua việc xây dựng nên những vương quốc hùng mạnh rồi sau đấy là những đế quốc to lớn đang tìm cách đạt đến mục tiêu của mình bằng chiến tranh và nhiều phương thức khác. Sau đó, người Cơ Đốc trở thành người ngoại đạo điển hình, và châu Âu Cơ Đốc là nguyên mẫu của “Nhà của Chiến Tranh”. Người Hồi giáo có phần nào kính trọng người By-dăng, mà họ xem là những người thừa hưởng di sản của các nền văn minh Hy Lạp và La Mã Cơ Đốc cổ xưa. Họ kính trọng nhưng không hề khiếp sợ vì, trong một khoảng thời gian dài, mối quan hệ qua lại giữa Hồi giáo và đế quốc By-dăng chủ yếu chỉ diễn ra với những bước lùi của By-dăng và kết thúc bằng việc quân Thổ chiếm thành Constantinople năm 1453. Trong những thế kỷ đầu, người Hồi giáo không hề sợ hãi cũng chẳng kính phục đám dân ngoại đạo man di sống trên miền Bắc Âu và Tây Âu, mà họ xem như những người nguyên thuỷ man rợ không đáng sợ và cũng chẳng có gì hấp dẫn, cùng lắm thì chỉ dùng làm nô lệ. Cách nhìn này đã thay đổi hẳn khi những người Tây Âu Cơ Đốc phản công lại, với những cuộc tái chinh phục miền Nam nước Italia và bán đảo Tây Ban Nha cùng việc quân Thập tự Cơ Đốc trở lại vùng Cận Đông để cố gắng chiếm lại những Thánh Địa Cơ Đốc, nhưng không thành công.
Trong khoảng một nghìn năm đầu tiên của cuộc tranh giành giữa hai hệ thống toàn cầu thì nhìn chung, hệ thống Hồi giáo có phần thắng thế. Đúng là họ gặp nhiêu thất bại; như một thất bại tạm thời khi quân Thập tự chinh đến vùng Cận Đông, hay một thất bại lâu dài hơn khi họ bị mất Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Sicily. Nhưng những thất bại ấy lại được bù đắp nhiều, khi quân Thổ tiến vào miền Đông Nam châu Âu và khi một chính quyền Hồi giáo mới được thành lập trên đất Cơ Đốc, rồi trong một thời gian dài tạo nên một mối đe dọa ngay tại trung tâm châu Âu.
Các quan hệ xã hội và văn hoá giữa châu Âu và thế giới Hồi giáo đã có từ trước nhưng trở nên chặt chẽ và rộng rãi hơn kể từ thời Thập tự chinh. Hồi giáo, đã đóng góp rất nhiều cho châu Âu, với những sáng tạo riêng của mình và những điều mà thế giới Hồi giáo đã thu hoạch được, nghĩa là đã tái xử lý và thích nghi, từ các nền văn minh cổ ở vùng Đông Địa Trung Hải và từ các nền văn hoá xa xăm ở phương Đông. Khoa học và triết học Hy Lạp đã bị lãng quên ở châu Âu nhưng được người Hồi giáo bảo tồn và cải tiến; chữ số Ấn Độ và giấy viết Trung Quốc; cam và chanh, bông và mía, một loạt các cây trồng khác cùng những phương pháp trồng trọt, đó chỉ là một số ít trong vô vàn những thứ mà châu Âu thời Trung cổ học hỏi và du nhập được từ nền văn minh tiến bộ và tinh vi hơn nhiều của thế giới Hồi giáo quanh vùng Địa Trung Hải.
Châu Âu cũng có một ít đóng góp cho thế giới Hồi giáo và trong một thời gian dài, những đóng góp ấy chỉ trên các mặt vật chất và kỹ thuật là chủ yếu. Trong nghệ thuật cũng như văn học, trong khoa học cũng như triết lý, châu Âu chẳng có gì để cho người Hồi giáo quan tâm, dù sao thì trong nhiều trường hợp, họ sẵn sàng khước từ tất cả những tư tưởng đến từ một tôn giáo ly khai và một xã hội nguyên thuỷ theo cách đánh giá của họ. Nhưng do khéo tay, người châu Âu cũng sản xuất được một số vật dụng mà người Hồi giáo cho là có ích nên sử dụng chúng. Các loại đồng hồ lớn nhỏ để đo thời gian, kính đeo mắt và kính viễn vọng để tăng cường thị lực, đó là những thứ đã được thấy ở Trung Đông vào thế kỷ XV, và có thể đã đến sớm hơn nữa. Ngay một vài loại cây lương thực cũng từ châu Âu đến. Thí dụ như cây đậu Hà Lan thì vẫn mang tên gốc Italia của nó trong tiếng A-rập và tiếng Thổ. Số loại cây lương thực và các cây khác nhập từ phương Tây, mặc dù rất ít so với số cây di chuyển theo chiều ngược lại, đã tăng lên nhanh chóng sau khi phát hiện ra châu Mỹ như bắp ngô, khoai tây, cà chua và - gây nhiều hậu quả nhất - cây thuốc lá. Nhưng đóng góp quan trọng nhất của phương Tây cho đời sống - và cho cả cái chết - của con người trong thế giới Hồi giáo lại là vũ khí. Trong thời Thập tự chinh, các tù binh người Frank đã được sử dụng để xây thành luỹ và truyền lại kỹ thuật của họ cho chủ mới. Ngay một nhân vật như Saladin, trong một bức thư gửi đến giáo chủ, đã biện minh cho việc ông tiếp tục cho phép các thương lái Âu châu đến các cảng biển mà ông đã chiếm lại từ tay Thập tự quân, cho rằng đó là một điều bổ ích vì “không có một ai trong số họ mà lại không mang bán vũ khí cho ta, để làm lợi cho ta và làm hại cho họ”.[1] Tập quán ấy vẫn tiếp tục đều đều trong suốt thời kỳ Thập tự chinh, trong các giai đoạn tiến tới và thoái lui của người Ottoman và cả trong thời đại ngày nay.
Thảng hoặc có những người trong cả giáo hội và chính quyền đã lên án và tìm cách ngừng các cuộc buôn bán vũ khí chiến tranh này. Chính phủ này thì tố cáo chính phủ khác là làm ngơ trước các cuộc buôn bán ấy và ngay cả ủng hộ chúng. Giáo hội Thiên chúa giáo thì có thái độ nước đôi. Thí dụ như các sắc lệnh của Giáo hoàng vào thế kỷ XVI và XVII “rút phép thông công và đuổi ra khỏi giáo phái… những ai mang đến cho bọn Saracen, bọn Thổ và những kẻ thù của đạo Cơ Đốc các loại ngựa, vũ khí, sắt, dây thép, thiếc, đồng, bandaraspata, đồng thau, lưu huỳnh, diêm sinh và tất cả mọi thứ để chế tạo trọng pháo, các dụng cụ, vũ khí, máy móc tân công để chúng đánh lại người Cơ Đốc, và cả dây thừng, các vật tư hàng hải cùng tất cả các vật liệu bị nghiêm cấm khác”[2]. Nhưng việc buôn bán này, cũng như các nỗ lực để ngăn cấm nó vẫn cứ tiếp tục.
Các hàng vũ khí nhập khẩu từ phương Tây có tầm quan trọng hàng đầu rõ ràng là các hoả khí như pháo công hãm thành luỹ, pháo chiến trường, súng bộ binh đủ các loại. Lúc đầu người ta còn ngần ngại không muốn sử dụng các vũ khí không mấy nghĩa hiệp của bọn người ngoại đạo. Nhưng người Ottoman mua và sử dụng chúng trên một quy mô lớn để giành phần thắng rõ rệt đối với các thế lực Hồi giáo khác đang cùng nhau tranh giành quyền bá chủ ở Trung Đông.
Điểm ngoặt của cuộc tranh giành quyền lực giữa Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, cũng như các điểm ngoặt khác trong lịch sử, thật khó xác định một cách chính xác. Thường thì trong các thay đổi như vậy, các dấu hiệu hình thành một chế độ mới xuất hiện rất sớm, sớm rất nhiều hơn các sự kiện đầy kịch tính đẩy nó bộc lộ hẳn ra trước ánh sáng. Cũng tương tự như vậy, chế độ cũ vẫn còn hoạt động một thời gian dài trước khi nó bị bãi bỏ hoàn toàn. Tất cả những “điểm ngoặt” ấy trên nhiều mặt đều khá tuỳ tiện và giả tạo, đó chỉ là những công cụ để phục vụ cho nhà viết sử chứ không phải thật sự là sự kiện lịch sử. Nhưng chúng tỏ ra có ích với tư cách là một phụ gia cho các cuộc tranh luận về lịch sử. Trong nhiều sự kiện lớn đánh dấu các thay đổi trong quan hệ giữa châu Âu và thế giới Hồi giáo, có lẽ những sự kiện xảy ra vào những năm cuối của thế kỷ XVII là đáng nói đến nhất.
Ngày 12 tháng Chín năm 1683, sau sáu mươi ngày vây hãm, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đóng quanh thành Vienna bắt đầu rút lui. Đây là lần thứ hai họ công phá thành này và cũng là lần thất bại thứ hai của họ, nhưng giữa hai lần đã có một khác biệt rất lớn. Năm 1529, khi quân lính của Hoàng đế Suleyman, Nhà Vua Kỳ diệu, lần đầu tiên tiến đến sát thành Vienna, họ đang đứng trên đỉnh một cao trào chinh phục mà trong các thế kỷ trước đã nuốt chửng cả vùng Đông Nam Âu châu và nay đang đe dọa ngay trung tâm điểm của thế giới Cơ Đốc. Suleyman đã không chiếm được thủ đô đế quốc nhưng thất bại này chưa phải là hết và có tính quyết định. Quân Thổ rút lui có trật tự, thất bại của họ không dẫn đến một tai họa nào cả; cuộc vây hãm đã mở đầu cho một thế kỷ rưỡi chiến tranh bất phân thắng bại giữa hai đế quốc — của dòng Habsburg và dòng Ottoman — và cả hai đều muốn kiểm soát được Hungary và cuối cùng là cả vùng Trung Âu. Cuộc vây hãm và cuộc rút lui thứ hai lại là một chuyện hoàn toàn khác. Lần này, thất bại của người Thổ thật rõ rệt và không thể chối cãi được. Sau khi rút lui, quân Thổ còn chịu nhiều thất bại thảm hại trên chiến trường, nhiều thành phố và lãnh thổ bị mất và cuối cùng, cả bộ máy chiến tranh bị đập tan.
Hiệp ước hoà bình Carlowitz ký ngày 26 tháng Giêng năm 1699 đã đánh dấu một giai đoạn mới không những cho mối quan hệ giữa hai đế quốc Ottoman và Habsburg, mà còn tác động sâu xa hơn đến mối quan hệ giữa hai thế giới Hồi giáo và Cơ Đốc giáo. Nhiều thay đổi có thể nhân thấy trong cả nội dung và cách thức thương lượng hiệp định. Đối với người Ottoman, đây là một thể loại ngoại giao hoàn toàn mới. Trong những giai đoạn đầu tiên của cuộc tấn công vào châu Âu, đã không hề có những hiệp định theo đúng nghĩa của chúng, và cũng hiếm khi có đàm phán mà thật ra chỉ có những điều khoản do phe chiến thắng áp đặt lên phe chiến bại. Năm 1606, ở Sitvatorok, lần đầu tiên họ thương lượng với kẻ thù xem như ngang vai ngang vế. Tại Carlowitz, với một thay đổi kịch tính hơn, người Ottoman bắt buộc phải ký vào một bản hiệp định hoà bình trong một cuộc chiến tranh mà họ đã rõ ràng thua trên chiến trường, và phải chấp nhận những điều khoản mà căn bản là do quân thù thắng trận áp đặt cho họ. Để làm nhẹ bớt các hậu quả của thất bại này, họ đưa ra chiến thuật là tìm sự ủng hộ của các nước Tây Âu, đặc biệt là nước Anh và Hà Lan, để hoà giải giúp họ và tạo một đối trọng với các lân bang gần của họ. Nền ngoại giao mới này, dựa trên những quan hệ mới trên mặt quân sự, sẽ đề ra kiểu mẫu cho các thế kỷ sau. Chiến bại ở Vienna, được kết thúc ở Carlowitz, đã khởi đầu cho những cuộc triệt thoái gần như liên tục của Hồi giáo trước sức mạnh của Cơ Đốc giáo.
Người Ottoman không hề có một ảo tưởng nào về những gì đã xảy ra. Theo lời một sử gia biên niên Thổ Nhĩ Kỳ đương thời thì: “Đây là một thất bại thảm hại, ở một mức độ mà từ khi nhà nước Ottoman ra đời, chưa bao giờ gặp phải”.[3] Đáng chú ý là ngay sau lập tức, đã nổ ra những tranh luận về các nguyên nhân của thất bại ấy. Phân tích về những điều vướng mắc xảy ra trong nước và trên thế giới là một việc làm bình thường trong các tài liệu về tôn giáo và cả chính trị từ khi Hồi giáo bắt đầu tiên lên đỉnh vinh quang. Nhưng bây giờ là lần đầu tiên người ta bàn cãi trên hai vế “chúng ta” và “chúng nó”, tại sao bọn ngoại đạo tồi bại ấy mà trước đây luôn luôn phải khuất phục trước quân đội Hồi giáo bách chiến bách thắng, ngày nay lại chiếm được lợi thế, tại sao quân đội Hồi giáo lại bị chúng đánh bại? Cuộc tranh luận được mở ra trong các báo cáo chính thức của nhà nước Ottoman vào đầu thế kỷ XVIII, và trong một thời gian dài chỉ dành cho một nhóm nhỏ các quan chức, sĩ quan quân đội và trí thức Ottoman, trong khi đó thì đa số quần chúng, nhất là những dân sống trong các vùng nằm sâu trong đế quốc, vẫn sung sướng không hề hay biết gì đến các biến chuyển trong tình hình thế giới. Nhưng dần dần thì cuộc tranh luận lan từ giới thượng lưu sang đến đám bình dân, từ người Thổ - từ lâu vốn là thanh gươm và lá chắn của Hồi giáo trong cuộc đương đầu với đạo Cơ Đốc - sang đến phần dân còn lại của thế giới Hồi giáo. Ban đầu, sự nhận thức được các biến chuyển trong tình thế là một mặt do việc quân đội người Âu châu, người Nga rồi người Tây Âu, cứ không ngừng tiến tới và việc người Âu giành quyền thông trị trên nhiều vùng đất của Hồi giáo, mặt khác do các thay đồi đầy kịch tính trong quan hệ buôn bán dẫn đến sự thua thiệt rất lớn của các nước Hồi giáo. Do năng suất công nghiệp ở phương Tây tăng cao và cũng vì giá thành sản xuất trong các thuộc địa của họ xuống thấp nên các nước vùng Trung Đông bị tràn ngập bởi vải vóc và các mặt hàng rẻ tiền khác của châu Âu. Sau đấy, ngay cả những sản phẩm như cà-phê, đường, bông vải, một thời từng là hàng xuất khẩu của Trung Đông sang phương Tây, thì nay được sản xuất ở các thuộc địa và do các thương lái phương Tây xuất vào Trung Đông.
Ở Iran, mặc dù bị người Ottoman đánh bại vào đầu thế kỷ XVI, nhưng triều đại Xa-pha-vít còn trị vì được trên hai thế kỷ nữa. Giai đoạn này đã chứng kiến nhiều đổi thay quan trọng như việc giáo phái Si-i vươn lên và được chấp nhận là tôn giáo chính và sau đấy là tôn giáo của đa số người Iran; việc châu Âu đẩy mạnh quan hệ buôn bán với Iran đồng thời bộc lộ trong đất nước này các cạnh tranh thương mại và chính trị của họ; việc tiếp tục các xung đột với người Ottoman trên các mặt trận chính trị, quân sự và tôn giáo; hay việc phát triển đồng thời một hệ thông quan hệ mới với các quốc gia Hồi giáo ở Trung Á và Ấn Độ. Trong thời kỳ Xa-pha-vít đã có những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật, đặc biệt là trong kiến trúc, hội họa và các nghệ thuật trang trí. Nhưng đằng sau bề ngoài đầy ấn tượng ấy là một nhà nước và một xã hội đang trên đường suy thoái. Sự sụp đổ của chế độ Xa-pha-vít được thấy rõ vào đầu thế kỷ XVIII khi Iran bị người Afghan xâm lược trên mặt Đông, người Ottoman trên mặt Tây và người Nga trên mặt Bắc.
Càng ngày thì các cuộc ganh đua giữa những quốc gia Hồi giáo Trung Đông càng trở nên vô nghĩa trước những mối hiểm họa mới đến từ hai cường quốc Cơ Đốc phương Bắc, đó là Áo và Nga. Sau một loạt các cuộc chiến tranh, hai nước này đã chiếm được rất nhiều đất đai và lợi thế từ các chế độ Ottoman và Iran. Ban đầu, người Áo chỉ muốn giành lại các vùng đất Áo-Hung lọt vào tay người Thổ nhưng sau đấy họ chiếm thêm đất của Thổ. Mặc dù không tiến sâu được bao nhiêu vào bán đảo Balkan, nhưng họ cũng đã có được sự thông thương trên sông Danube cho đến tận cửa biển và lần đầu tiên vào được thung lũng sông Morava trên đường dẫn đến Istanbul.
Chính sách Nam tiên của công quốc Moscovy lại còn có một ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Từ thế kỷ XVIII, chủ nghĩa bành trướng về phương Nam của đế quốc Nga đã đi vào một giai đoạn mới. Lúc đầu thì nó còn gặp nhiều khó khăn. Năm 1710, quân Nga vượt sông Prut tiến vào lãnh thổ của đế quốc Ottoman, nhưng sau đấy bị đẩy lui và mất hết đất đai chinh phục được. Đến năm 1723, thừa dịp Iran bị lâm vào tình trạng lộn xộn, quân Nga trở lại, tiến sâu vào vùng Caucasus, chiếm đóng các thành phố Derbent và Baku. Lần này người Nga có được ít nhiều sự đồng loã của người Ottoman đang mong muốn ngăn chặn sự hiện diện của Nga trên các mặt Đông và Bắc của họ nhưng lại muốn chia phần với Nga nếu nhà nước Iran sụp đổ. Tuy nhiên, người Nga không duy trì được lâu các thắng lợi và đất đai chiếm đoạt được. Nước Iran bắt đầu hồi phục dưới quyền lãnh đạo của một nhà chỉ huy quân sự tài giỏi là Nader Khan. Qua một loạt chiến thắng trên các mặt trận Đông và Tây, Nader mà năm 1736 lên ngôi hoàng đế sau khi nhà vua đương nhiệm qua đời, đã đánh đuổi được quân Afghanistan, quân Ottoman và quân Nga ra khỏi lãnh thổ Iran, đồng thời còn chiếm được nhiều vùng đất mới.
Mặc dù cả người Ottoman và người Iran đã chiến thắng như vậy, nhưng tương quan lực lượng giữa các nước Hồi giáo và các đối thủ của họ ở châu Âu đã thay đổi không có gì cưỡng lại được. Vào cuối thế kỷ XVIII, cả hai phía đều nhận thấy rõ những thay đổi này. Năm 1768, người Nga lại phát động một cuộc tấn công mới vào đế quốc Ottoman, lần này với một ưu thế áp đảo. Quân Nga đi đến đâu là thắng đến đấy, các hạm đội Nga tuần hành quanh châu Âu, thâm nhập vào Địa Trung Hải và đe dọa cả các vùng bờ biển Anatolia và Syria.
Hiệp ước Kucuk Kaynarca ký năm 1774 đánh dấu thất bại thảm hại của đế quốc Ottoman và suy rộng ra cũng là một bước ngoặt trong quan hệ giữa châu Âu và Trung Đông. Nữ hoàng Catherine II của nước Nga đã nói đúng khi cho rằng “nước Nga từ trước đến nay chưa bao giờ đạt được một chiến thắng như vậy.”
Các lợi thế mà qua hiệp ước này nước Nga đạt được nằm trong ba lĩnh vực chính: đó là đất đai, thương mại và ảnh hưởng. Lãnh thổ mà Nga chiếm được, mặc dù không lớn, nhưng có một tầm quan trọng chiến lược hàng đầu. Nhờ có việc sáp nhập vùng Azov trên chóp Vịnh Taganrog vào đầu thế kỷ XVIII mà nước Nga có được chân đứng ngay trên bờ Bắc Biển Đen, nơi mà trước đây hoàn toàn do người Thổ Hồi giáo kiểm soát. Hiệp ước Kucuk Kaynarca đã cho nước Nga chiếm thêm hai vị trí quan trọng: đó là các cảng Kertch và Yenikale trên mũi Đông của bán đảo Crimea, nơi Vịnh Taganrog nối với Biển Đen; và pháo đài Kinbum ở cửa sông Dniester. Đồng thời, ngay chính bán đảo Crimea, mà từ nhiều thế kỷ vốn là đất của Hãn quốc Tatar, một thuộc quốc của đế quốc Ottoman thì nay trở nên độc lập. Hãn vương Tatar và lãnh thổ của ông trên bờ Bắc Biển Đen nằm ở hai phía Đông và Tây bán đảo Crimea nay không còn dưới sự kiểm soát và chịu ảnh hưởng của đế quốc Ottoman nữa. Người Nga từ nay mặc sức bành trướng xuống phía Nam, đáng chú ý là năm 1783 họ chiếm luôn Crimea.
Nhiều biến đổi đầy ý nghĩa đang xảy ra. Trong các cuộc chiến tranh trước đây chống quân Áo, người Thổ đã phải rút khỏi nhiều vùng đất của họ ở châu Âu. Tuy nhiên, phần lớn các vùng này là những đất họ mới chiếm được, đa số dân chúng còn theo đạo Cơ Đốc. Bán đảo Crimea thì lại khắc hẳn. Dân ở đây là những người Hồi giáo nói tiếng Thổ, thường được gọi không đứng lắm là người Tatar, họ đã sống ở đây từ thế kỷ XIII sau các cuộc chinh phục của Mông cổ, có khi còn sớm hơn nữa. Lần đầu tiên một vùng đất Hồi giáo có người Hồi giáo sinh sống bị rơi vào tay quân Cơ Đốc. Quả thật là một đòn cay đắng đánh vào lòng tự ái của người Hồi giáo. Để xoa dịu mối nhục này, người ta đã tìm ra một công thức là dân Tatar ở Crimea không bị đặt dưới quyền kiểm soát của người Nga mà được độc lập, còn hoàng đế Ottoman tuy không còn là bá chủ của người Tatar nhưng vẫn giữ nguyên các quyền lực tôn giáo với tư cách giáo chủ hay Lãnh đạo Hồi giáo. Nền độc lập của người Tatar cũng như quyền lãnh đạo tôn giáo của hoàng đế Ottoman chang mấy chốc rồi cũng bị xoá bỏ.
Lợi thế thứ hai của người Nga qua Hiệp ước Kucuk Kaynarca là trong lĩnh vực thương mại. Nước Nga giành được quyền thông thương và mậu dịch trên Biển Đen và được phép vào Địa Trung Hải thông qua các eo biển Bosporus và Dardanelles, được sử dụng các hải cảng và buôn bán trên đất liền trong tất cả các tỉnh ở hai châu Âu, Á của đế quốc Ottoman. Đây là bước đi quan trọng dẫn đến việc thâm nhập thương mại của tất cả các cường quốc Âu châu vào đế quốc Ottoman ở thế kỷ XIX.
Lợi thế lớn thứ ba của người Nga là chiếm được một vị trí đầy quyền lực và ảnh hưởng trong đế quốc Ottoman. Điểm quan trọng nhất là sự công nhận một địa vị đặc biệt cho nước Nga trong các công quốc vùng Danube là Moldavia và Wallachia, tức là nước Rumani ngày nay. Mặc dù các nước này vẫn còn chịu thần phục đế quốc Ottoman nhưng chúng có quyền tự trị rộng rãi và ngày càng bị Nga chi phối. Nước Nga cũng có quyền tự do mở lãnh sự quán trong các thành phố Ottoman, điều mà trước đây các cường quốc phương Tây muốn làm nhưng không được phép. Ngoài ra, nước Nga còn giành được một nhượng bộ khác có vẻ không quan trọng lắm, đó là việc xây một nhà thờ Cơ Đốc Nga ở Istanbul và “trong mọi dịp, được phép đề đạt lên triều đình những kháng nghị để bảo vệ quyền lợi cho nhà thờ mới này” (điều VII).
Nếu quyền lực tôn giáo của hoàng đế Ottoman với tư cách là giáo chủ của người Tatar không phát huy được mấy hiệu quả của nó thì trái lại, những nhượng bộ dành cho Nữ hoàng Nga lại hoàn toàn khác hẳn. Dù cho văn bản của hiệp ước chỉ giới hạn ở mức một nhà thờ Nga độc nhất trong thủ đô Ottoman, nhưng nhờ cách giải thích trệch nghĩa khéo léo mà quyền kháng nghị này được biến thành quyền can thiệp để bênh vực cho tất cả thần dân theo đạo Cơ Đốc chính thống của hoàng đế Ottoman.
Với sự sáp nhập vùng Crimea năm 1783, chính sách bành trướng lãnh thổ của Nga đã bước sang một giai đoạn mới. Từ Crimea, người Nga nhanh chóng tiến theo cả hai hướng Đông Tây dọc bờ Bắc Biển Đen, chinh phục và chiếm đóng các vùng đất trước đây có người Thổ, người Tatar và các sắc dân Hồi giáo khác sinh sống và quản lý. Về hướng Đông, họ lập ra một tỉnh của đế quốc Nga trong vùng Caucasus năm 1785 và tăng cường sự thống trị của họ trên các thổ dân và các tù trưởng địa phương. Người Thổ phản ứng lại bằng các biện pháp quân sự, nhưng cuối cùng, vào năm 1792, cũng phải chấp nhận việc sáp nhập các Hãn quốc Tatar vào nước Nga và xem sông Kuban trong vùng Circassia như biên giới giữa hai đế quốc. Năm 1795, người Nga xây dựng cảng Odessa trên lãnh thổ Tatar cũ, rồi đến năm 1812, sau một cuộc chiến khác với Thổ Nhĩ Kỳ, nước Nga chiếm luôn tỉnh Bessarabia của người Ottoman, nay có tên là Moldavia. Như vậy là người Nga đã chấm dứt sự thống trị trên nhiều thế kỷ của Hồi giáo trong vùng Biển Đen và bắt đầu đe dọa đế quốc Ottoman trên cả hai đầu biên giới Đông và Tây.
Nước Iran với một triều đại mới, triều đại Qajar lên nắm quyền năm 1794, cũng bị người Nga đe dọa. Sau khi hoàn thành một phần nào sự thống nhất đất nước và củng cố chính quyền, triều đại Qajar tìm cách thu hồi lại vùng Caucasus đã rơi vào tay người Nga, nhưng không thành công. Khi người Ba Tư xâm lược vương quốc Cơ Đốc cổ là Gruzia thì một số dân chúng ở đây kêu gọi nước Nga giúp họ chống lại cuộc chinh phục Hồi giáo này và Sa hoàng trả lời vào tháng Giêng năm 1801 bằng cách sáp nhập Gruzia vào đế quốc Nga. Sau đó, năm 1802, là việc tổ chức lại Daghistan (lãnh thổ nằm giữa Gruzia và Biển Caspi) thành một liên hiệp các bộ tộc được Nga bảo hộ, năm 1804, mọi việc hoàn tất với việc sáp nhập Imeretia, một tiểu vương quốc khác của Gruzia.
Con đường tấn công của Nga vào Iran bây giờ đã rộng mở. Kết quả của hai cuộc chiến tranh Nga-Iran năm 1804-1813 và 1826-1828 là việc các tiểu vương địa phương một phần và Iran một phần khác nhường lại cho Nga những vùng lãnh thổ về sau lập thành các nước Cộng hoà Xô Viết Armenia và Azerbaijan.
Chỉ một tháng sau khi ký hiệp ước hoà bình với Iran năm 1828, nước Nga tuyên chiến với Thổ Nhĩ Kỳ để giúp Hy Lạp trong cuộc chiến tranh giành độc lập của họ bắt đầu từ năm 1821. Vào khoảng tháng Chín năm 1829, quân Nga đã có mặt ở Edime, chỉ cách thủ đô Thổ hai, ba ngày đường cho nên áp đặt được một hiệp định hoà bình dành cho họ rất nhiều lợi thế. Ngoài các lãnh thổ chiếm thêm được trên cả hai vùng biên giới giữa hai đế quốc ở Balkan và Caucasus, người Nga còn giành được nhiều ảnh hưởng trong công việc nội bộ của các công quốc dọc sông Danube và khẳng định lại các quyền buôn bán và thông thương hàng hải của họ.
Trong lúc người Nga tiếp tục cuộc Nam tiến của họ để thâm nhập vào vùng Trung Đông thì một mối đe dọa khác đối với Hồi giáo lại đến từ phương Tây. Từ cuối thế kỷ XV, châu Âu đã được mở rộng trên cả hai đầu, từ nước Nga tràn trên lục địa và từ Tây Âu tràn qua biển. Trên cả hai phía Đông và Tây, cuộc tấn công vào Hồi giáo lúc đầu chỉ là một quá trình thu hồi và tái chinh phục lãnh thổ, nước Nga giành lại đất từ người Tatar, hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha giành lại đất từ người Maure. Sau tái chinh phục là các cuộc phản công đưa chiến tranh vào lãnh thổ của kẻ thù. Người Nga thì tiến xuống phía Nam và sang phía Đông vào châu Á, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, sau khi giành lại bán đảo của họ từ tay những người A-rập và Maure theo Hồi giáo, tiếp tục đánh đuổi những người đô hộ mình trước đây vào tận châu Phi và xa hơn nữa.
Nhiều người cho rằng, các cuộc thám hiểm lớn bằng đường biển là những trận chiến tôn giáo, chúng tiếp nối các cuộc Thập tự chinh và các cuộc Tái chinh phục chống lại cùng một kẻ thù Hồi giáo. Khi người Bồ Đào Nha tiến đến vùng biển Á châu, các đối thủ chính của họ là các vua chúa Hồi giáo trị vì ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Iran và Ấn Độ, những người đã tìm đủ mọi cách ngăn cản họ nhưng không thành công. Sau người Bồ Đào Nha thì đến lượt những dân tộc khác có nghề đi biển ở châu Âu như người Tây Ban Nha, người Pháp, người Hà Lan và người Anh. Chính những dân tộc này đã cùng nhau lập nền đô hộ của Tây Âu trên châu Phi và Nam Á kéo dài đến tận thế kỷ XX.
Sau khi người Bồ Đào Nha tạo nên một xung lực đầu tiên, thì các hoạt động của Tây Âu ở Nam Á chủ yếu là trong lĩnh vực thương mại và hàng hải, nhưng dần dần họ tiến tới việc xây dựng một nền đô hộ chính trị. Tuy nhiên các hoạt động này cũng chỉ giới hạn ở Ấn Độ, Đông Nam Á và Tây Phi, vùng Trung Đông chỉ chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp. Trong vùng này, các quyền lợi của các quốc gia Tây Âu vẫn chỉ trong lĩnh vực thương mại là chính. Đáng chú ý là cho đến đầu thế kỷ XIX, đại sứ quán Anh ở Istanbul được duy trì và tài trợ bởi Công ty Cận Đông, một công ty có đặc quyền và là công cụ chính về thương mại của Anh quốc trong vùng.
Khi người Hà Lan và người Anh đã lập được chính quyền vững vàng ở châu Á thì Trung Đông phải đối phó với Tây Âu trên cả hai phía, và chính sự phát triển này chứ không phải việc người Bồ Đào Nha trước đấy đã mở đường hàng hải vòng qua châu Phi đã làm giảm đáng kể ngành buôn bán đồ gia vị thông qua Biển Đỏ và vịnh Péc-xích. Nếu bá quyền của các đế quốc Âu châu ở châu Á và châu Phi chưa gây ảnh hưởng trực tiếp đến Trung Đông thì nó cũng dẫn đến việc phương Tây ngày càng quan tâm đến các con đường chiến lược đi qua vùng này. Tính chất toàn diện của các cuộc chiến tranh cách mạng và chiến tranh do Napoléon gây ra lại càng làm cho mối quan tâm này trở nên bức thiết hơn. Việc hai nước Anh và Pháp đối đầu với nhau và cả hai canh chừng nước Nga đã dẫn đến sự can thiệp của phương Tây vào giữa Trung Đông. Người Thổ trước đây chỉ phải trực diện với Áo và Nga thì nay phải đối đầu với cả bốn cường quốc, kể cả Anh và Pháp.
Chính nước Pháp, lần đầu tiên kể từ các cuộc Thập tự chinh, đã tung ra một cuộc viễn chinh quân sự vào ngay giữa vùng Trung Đông. Năm 1798, một đạo quân Pháp dưới quyền chỉ huy của tướng Bonaparte đổ bộ lên Ai Cập, lúc ấy là một tỉnh của đế quốc Ottoman, rồi chiếm được nước này không chút khó khăn. Tuy nhiên, khi quân Pháp muốn lấn từ Ai Cập sang Palestine thì họ bị thất bại và vào năm 1801, người Pháp rút quân khỏi Ai Cập. Kết quả này không hề nhờ vào công của người Ai Cập hay của hoàng đế Thổ. Các cuộc xung đột chủ yếu xảy ra giữa quân Pháp và quân Anh, các đơn vị bản xứ chỉ đóng một vai trò không đáng kể. Cuộc chiếm đóng của người Pháp qua đi nhanh chóng rồi Ai Cập lại trở về quyền cai trị Hồi giáo. Sự kiện này cho thấy chỉ cần một đạo quân viễn chinh nhỏ từ một quốc gia Âu châu đến cũng đủ chinh phục và chiếm đóng dễ dàng cả một vùng lớn nằm giữa Trung Đông. Và cũng chỉ một cường quốc Âu châu khác mới có thể đuổi họ đi. Đây là một bài học kép sẽ được ghi nhớ về sau.
Trong phần lớn nửa đầu của thế kỷ XIX, các nước Tây Âu vẫn chỉ quan tâm chủ yếu đến thương mại và ngoại giao ở Trung Đông, và đặc biệt hơn là đến sự tranh giành quyền lợi giữa họ với nhau. Nếu các hoạt động của họ ở Trung Đông thường dẫn đến những can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của các nước trong vùng, thì họ không bao giờ tấn công trực tiếp vào trung tâm mà chỉ gặm nhấm ở vùng ven mà thôi. Năm 1830, chỉ một năm sau Hiệp ước Adrianopole giữa Nga và Thổ, thì nước Pháp xâm chiếm Algérie lúc ấy do một triều đại địa phương cai trị dưới quyền bá chủ của hoàng đế Ottoman. Cũng trong giai đoạn ấy, người Anh chiếm cứ nhiều đất đai quanh vùng Arabia. Năm 1839, họ lấy được Aden, một cảng cung cấp than đá cho tàu biển trên đường đi đến Ấn Độ. Cũng vì những lý do thương mại và chiến lược tương tự, nước Anh dần dần tiến tới việc xây dựng một ưu thế hải quân trong vịnh Péc-xích, mà hiệp ước ký với các vua chúa địa phương năm 1853 đã khẳng định lại.
Cũng vào giữa thế kỷ XIX, nước Nga gây sức ép rất mạnh mẽ lên đế quốc Ottoman. Trong khi xảy ra một cuộc khủng hoảng ngoại giao phức tạp, người Nga xâm lược các công quốc vùng Danube vào tháng Bảy năm 1853. Pháp và Anh thì ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ và đến tháng Ba năm 1854 trở thành đồng minh của Thổ chống lại Nga. Cuộc chiến tranh ấy giữa hai phe, thường được gọi là chiến tranh Crimea, chấm dứt hai năm sau với Hiệp định Paris, theo đó Nga mất một ít đất đai và phải chịu một số nhượng bộ, các nước cũng đồng ý nhận Thổ Nhĩ Kỳ vào Khối Hoà hợp Âu châu và cam kết tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ấy. Đây là lần đầu tiên có một cuộc chiến tranh mà đế quốc Thổ tham gia bên cạnh các đồng minh Tây Âu, các nước này có rất nhiều quân đóng trên đất Thổ. Những tiếp xúc trực tiếp với phương Tây đã mang lại rất nhiều thay đổi.
Bị chặn đứng ở Trung Đông, người Nga chuyển sang vùng Trung Á và có được ở đây nhiều bước tiến quan trọng. Vùng đất nằm phía Đông Biển Caspi cho đến biên giới Trung Quốc từ nhiều thế kỷ đã bị các nước Hồi giáo nói tiếng Thổ chia nhau cai trị: đó là tiểu Vương quốc Bukhara, và các Hãn quốc Khoqand và Khiva. Sau một loạt chiến dịch quân sự chớp nhoáng, các nước này bị người Nga kiểm soát. Một phần đất đai bị sáp nhập vào nước Nga, phần còn lại do các “vua chúa bản xứ” tiếp tục cai quản nhưng bị Nga chiếm đóng và bảo hộ.
Hiệp ước hoà bình năm 1856 đã hạn chế các hoạt động của Nga trong vùng Biển Đen. Đến năm 1870, khi Tây Âu đang còn bận tâm đến cuộc chiến tranh Pháp-Phổ thì nước Nga lợi dụng tình thế để xoá bỏ các hạn chế ấy. Họ bắt đầu một giai đoạn gây sức ép lên Thổ Nhĩ Kỳ mà đỉnh cao là tuyên bố chiến tranh ngày 25 tháng Tư năm 1877. Lúc ấy, người Thổ đang lo dẹp loạn ở các địa phương và vì ở trung ương đang có một cuộc khủng hoảng hiến pháp, nên không chống nổi quân Nga. Quân xâm lược tiến đến tận San Stefano (nay là Yesilkoy), chỉ cách thủ đô vài dặm nên hoàng đế Ottoman bắt buộc phải ký một một hiệp ước với những điều khoản khá khắc nghiệt. Chỉ nhờ có ngành ngoại giao Tây phương, chủ yếu là ngoại giao Anh quốc, mà Thổ Nhĩ Kỳ mới được cứu thoát khỏi một tai họa toàn diện và chính Hiệp ước Berlin ký năm 1878 lại đưa ra những hạn chế cho cuộc bành trướng của Nga vào đế quốc Ottoman.
Một lần nữa, người Nga lại tiến sang phía Đông và vào năm 1881, sau một cuộc tấn công mới, họ chính thức chiếm được vùng Xuyên Caspian. Cùng trong thập kỷ ấy, quân Nga đã bình định xong vùng đất nằm giữa Biển Caspi và sông Oxus. Khi lấy được Marv năm 1884, chủ quyền của đế quốc Nga đã được thiết lập đến tận biên giới của Iran và Afghanistan ở Trung Á.
Các cuộc lấn chiếm của Đông Âu lại một lần nữa đi song song với một làn sóng bành trướng xuất phát từ Tây Âu. Người Pháp chiếm Tunisie năm 1881, tiếp đó là người Anh lấy Ai Cập năm 1882. Ở cả hai nơi này cũng như trong vùng Trung Á thuộc Nga, các vương triều bản xứ cũng như các chế độ chính trị đều được duy trì ít nhiều; chỉ phải chịu một cuộc chiếm đóng quân sự và một sự kiểm soát chính trị và kinh tế trên toàn quốc.
Nền ngoại giao của nước Anh ở Trung Đông được dựa trên nguyên tắc “duy trì nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc Ottoman”, nguyên tắc này chỉ là lá chắn chống lại các mối đe dọa của nước ngoài đối với con đường thông thương đến Ấn Độ. Nhưng không vì thế mà các cuộc tấn công bị ngừng hẳn. Người Pháp, và cả người Nga ở một mức độ thấp hơn, đều có thể thâm nhập sâu vào đế quốc Ottoman; rồi từ năm 1880 trở đi thì nước Đức, lúc ấy đã là đối thủ chính của đế quốc Anh, bắt đầu tỏ ra quan tâm sâu sắc đến vùng Trung Đông. Dưới con mắt của người Anh, nhiều chính phủ Ottoman nối tiếp nhau có vẻ khá cởi mở đối với các đề nghị của Đức. Các nhà tài chính và công nghiệp Đức giành được nhiều hợp đồng, các sĩ quan Đức được mời đến huấn luyện và tổ chức lại quân đội Ottoman, các nhà khoa học và khảo cổ Đức tiến hành các khai quật trên vùng đất châu Á của đế quốc. Năm 1889, người ta bắt đầu xây tuyến đường sắt Baghdad nổi tiếng, với ý đồ nối liền Berlin và Vịnh Péc-xích thông qua Istanbul, Aleppo, Baghdad và Basra.
Sự cảm nhận về mối đe dọa của Đức trên phía Bắc là một trong những lý do khiến cho nước Anh duy trì sự chiếm đóng ở Ai Cập, lúc đầu chỉ mang tính tạm thời mà thôi. Cũng vì những mối lo ấy mà năm 1907, Nga và Anh ký một hiệp định chia cắt Iran thành hai vùng ảnh hưởng của hai nước. Mục đích của nó là ngăn cản nước Đức từ Iraq thuộc Ottoman khỏi bành trướng thêm về phía Đông và phía Nam.
Năm 1911, một giai đoạn chinh phục mới bắt đầu với cuộc xâm lăng quân sự của Nga vào miền Bắc Iran. Từ giờ cho đến khi Thế chiến lần thứ I bùng nổ, Iran thật sự bị người Nga đô hộ, mặc dù họ có chống cự ít nhiều. Cũng trong khoảng thời gian ấy, người Pháp mở rộng ảnh hưởng ở Maroc và năm 1912 thì lập chế độ bảo hộ ở đây. Còn người Italia, cảm thấy Pháp đã nhanh chân hơn mình khi họ chiếm đóng Tunisie và hoảng sợ khi Pháp lấn tới ở Maroc, nên tháng Chín năm 1911, tuyên bố chiến tranh với đế quốc Ottoman rồi công bố việc sáp nhập các tỉnh Tripolitania và Cyrenaica của đế quốc Ottoman, biến chúng thành những thuộc địa của họ.
Vùng Trung Đông Hồi giáo nay bị kẹp giữa hai gọng kìm ở hai đầu, tạo nên do các cuộc bành trướng của châu Âu kể từ thế kỷ XVI. Gọng kìm của Nga tiến xuống từ phía Bắc và đang kẹp chặt cả Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư. Gọng kìm Tây Âu thì ban đầu đi vòng quanh châu Phi rồi vượt qua Địa Trung Hải để tiến vào thế giới A-rập.
❀ ❀ ❀
[1] Abu Shama, AI-Rawdatayn fi akhbar al-Dawlatayn, ed. M. Hilmi Ahmad và Mustafa Ziyada (Cairo 1926) vol. 1/2 t. 621-622.
[2] Trích trong Bernard Lewis, The Muslim Discovery of Europe, 1.193, bản dich tiếng Pháp của Annick Pélissier, Comment Islam a découvert I Europe, (Paris 1990) 1.196.
[3] Silihdar Tarihi (Istanbul 1928) vol. 2, t. 87.