Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2 Trước Khi Hồi Giáo Ra Đời
Chương 2 Trước Khi Hồi Giáo Ra Đời

❊ ❊ ❊

Trong giai đoạn giữa khi Cơ Đốc giáo ra đời và Hồi giáo xuất hiện nghĩa là trong khoảng sáu thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên, một loạt sự kiện lớn đã xảy ra trong quá trình phát triển của các nền văn minh.

Sự kiện đầu tiên và trên nhiều mặt có tính quan trọng hàng đầu là sự ra đời của chính Cơ Đốc giáo, tôn giáo này phát triển dần và được hoan nghênh làm cho các tôn giáo Tiền Cơ Đốc trừ đạo Do Thái và các tôn giáo của người Ba Tư bị xoá bỏ hoàn toàn hay ít ra cũng bị nhấn chìm. Trong một khoảng thời gian, các tôn giáo đa thần truyền thống Hy-La còn ngoi ngóp duy trì và dưới triều hoàng đế Julian (361-363), người được biết trong sử sách Cơ Đốc như Julian Kẻ Bỏ đạo, cũng đã có một tia lửa hồi sinh cuối cùng. Trong nửa đầu của giai đoạn này, cho đến thế kỷ thứ IV, Cơ Đốc giáo lớn mạnh và lan rộng như một hình thức chống đối lại chính quyền La Mã. Đôi khi được cho phép nhưng phần lớn thời gian bị truy hại, Cơ Đốc giáo, tất nhiên là tách rời khỏi chính quyền, đã xây dựng thế chế riêng của mình là Giáo hội, có cơ cấu và tổ chức riêng, có ban lãnh đạo và cấp bậc riêng, có luật pháp và toà án riêng để rồi dần dần lan ra khắp thế giới La Mã.

Khi Hoàng đế Constantine (311-337) quy theo Cơ Đốc giáo thì đạo này đã chiếm lĩnh được đế quốc La Mã hay nói một cách khác, bị đế quốc La Mã cầm giữ. Hoàng đế quy theo tôn giáo mới thì dần dần Nhà nước La Mã bị Cơ Đốc hoá. Lúc ấy chính quyền ra sức quảng bá cho tôn giáo mới và dưới triều Đại Hoàng đế Cơ Đốc Justinian (527-569), người ta đã dùng đủ mọi quyền uy không những chỉ để nâng đạo Cơ Đốc lên trên mọi tôn giáo mà còn để áp đặt ưu thế của giáo lý đã được nhà nước lựa chọn đối với mọi luồng tư tưởng khác. Từ lúc ấy trở đi, không chỉ có một mà có nhiều Giáo hội chủ yếu không thống nhất được với nhau về các vấn đề giáo lý và thường bị phân hoá do các xu hướng cá nhân, pháp lý, địa phương và ngay cả các cá tính quốc gia khác nhau.

Sự kiện lớn thứ hai là việc dời trọng tâm của đế quốc La Mã từ Tây sang Đông, từ thành phố Roma (La Mã) sang Constantinople, thành phố mà Constantine lập ra để làm kinh đô của mình. Sau khi Hoàng đế Theodosius qua đời, đế quốc lại tách làm hai phần do hai người con của ông trị vì, một đế quốc Tây phương thủ đô là Roma và một đế quốc Đông phương có thủ đô ở Constantinople. Trong khoảng thời gian tương đối ngắn, đế quốc Tây phương chịu nhiều cuộc xâm lăng của quân man di và bị tiêu diệt. Đế quốc Đông phương khắc phục được mọi khó khăn và tồn tại thêm khoảng 1.000 năm nữa.

Tên gọi By-dăng mà người ta gán cho đế quốc Đông phương là do các học giả thời nay đặt cho, nó chỉ là tên một khu định cư Byzantium mà thành phố Constantinople được xây chồng lên. Người By-dăng (tức Byzantines) không bao giờ tự gọi mình như thế. Họ xem mình là người La Mã dưới quyền cai trị của vua La Mã theo pháp luật La Mã. Thật ra cũng có một số khác biệt. Hoàng đế và thần dân đều là người Cơ Đốc và dù cho người dân By-dăng tự nhận là người La Mã nhưng họ lại dùng từ Hy Lạp chứ không phải Latin để gọi tên mình — họ là người rhomaioi (từ Hy Lạp) chứ không phải là romani (từ Latin). Ngay các địa phương cũng chịu ảnh hưởng như vậy. Tại nhiều nơi, trên các bia khắc bằng tiếng Hy Lạp người ta hay nói đến việc cầu nguyện cho “bá quyền của người La Mã” — hegemonia ton Rhomaion — và một vị vua chư hầu ở công quốc ngoại biên Edessa, sau khi bị người Ba Tư truất quyền rồi được người La Mã đặt lên ngôi trơ lại đã tự nhận mình — bằng tiếng Hy Lạp — là philorhomaios, “thân La Mã”. Ngay cả ở đỉnh cao của quyền uy La Mã, tiếng Hy Lạp đươc xem là ngôn ngữ thứ hai của đế quốc. Trong Đế quốc La Mã Đông phương, nó lại là ngôn ngữ chính. Tiếng Latin còn chống đỡ được một thời gian nữa, có nhiều từ Latin được tìm thấy trong tiếng Hy Lạp của By-dăng và nhiều thế kỷ sau, cả trong tiếng A-rập của các giáo quốc Hồi giáo. Nhưng tiếng Hy Lạp đã chiếm lĩnh và duy trì được rất lâu về sau vị trí ngôn ngữ của chính quyền và của văn hoá. Ngay cả các ngôn ngữ và các nền văn học không phải Hy Lạp còn tồn tại được trong các tỉnh phía đông như tiếng Coptic, tiếng Aramaic và ngay cả về sau tiếng A-rập cũng chịu ảnh hưởng sâu xa của truyền thống triết học và khoa học Hy Lạp.

Sự kiện nổi bật thứ ba là công cuộc Hy Lạp hoá vùng Trung Đông, một quá trình đã xảy ra từ nhiều thế kỷ trước trong các đế quốc của Alexander Đại đế và dưới các triều đại Seleucid và Ptolemy, những đế quốc kế tục của Alexander ở Syria và Ai Cập. Cả nhà nước La Mã và các Giáo hội Cơ Đốc đều chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn hoá Hy Lạp. Cả hai cũng đóng góp nhiều cho việc truyền bá văn hoá ấy. Các cơ cấu chính trị của nhà nước La Mã Đông phương đều mang dấu ấn của các truyền thống Hy Lạp do các đế chế của Alexander và những người kế tục để lại, với một khái niệm về vương quyền, trên nhiều mặt, rất khác với ý tưởng của các Hoàng đế Ceasar La Mã. Cả về mặt tôn giáo, những người Cơ Đốc nguyên thuỷ rất quan tâm đến những điểm tế nhị về triết học mà trước đây người Hy Lạp cũng có đề cập đến nhưng cả người La Mã và người Do Thái đều chẳng ai thèm nhòm ngó tới. Kinh sách Cơ Đốc, Kinh Tân Ước, được viết bằng một thứ tiếng rõ ràng là tiếng Hy Lạp mặc dù không phải là văn chương của các nhà soạn kịch hay các triết gia thành Athens. Ngay cả Kinh Cựu Ước cũng có một bản dịch ra tiếng Hy Lạp do cộng đồng người Do Thái nói tiếng Hy Lạp của thành phố Alexandria biên soạn từ nhiều thế kỷ trước.

Một thay đổi quan trọng khác, có thế phần nào do ảnh hưởng của các yêu tố có từ trước, là sự tăng cường tuần tự của cái mà ngày nay người ta gọi là một nền kinh tế chỉ huy — dùng quyền lực của Nhà nước để lập kế hoạch và điều khiển nền kinh tế. Trong các xã hội phát triển dọc những lưu vực sông, một chính sách như thế là điều tự nhiên, đặc biệt ở Ai Cập mà nền kinh tế có điều khiển đã đạt đến một mức độ cao dưới triều đại Ptolemy do một tướng lĩnh của Alexander sáng lập. Trong những thế kỷ đầu của Công nguyên, nhất là từ thế kỷ thứ III trở về sau, nhà nước can thiệp ngày càng nhiều vào công nghiệp, thương mại và ngành chế biến, ngay cả vào nông nghiệp. Chính quyền ngày càng kiểm soát các hoạt động kinh tế của những nhà kinh doanh tư nhân còn sót lại và tìm cách xây dựng rồi áp đặt một chính sách kinh tế quốc doanh. Trong nhiều lĩnh vực, chính quyền còn tổ chức các doanh nghiệp nhà nước để thay thế các doanh nghiệp tư nhân. Chẳng hạn như quân đội thì hầu như chỉ dựa vào các doanh nghiệp nhà nước để được cung cấp vũ khí, thiết bị và đôi lúc cả quân trang nữa. Để nuôi quân, nhà nước thu thuế bằng tiền rồi phát các khẩu phần cho lính. Các hoạt động kinh tế quốc doanh càng phát triển thì các thành phần khác như các doanh nhân, các nhà thầu, nhà cung ứng… bị bóp nghẹt.

Nhà nước cũng còn can thiệp mạnh vào nông nghiệp. Nhiều bằng chứng cho thấy đất đai canh tác càng ngày càng bị thu hẹp. Pháp luật thời ấy, mà ngày nay còn tồn tại một phần quan trọng, thường cho thấy có mối quan tâm lo lắng của nhà nước khi thấy đất đai bị bỏ hoang ngày càng nhiều và qua nhiều ưu đãi về thuế khoá hay qua các biện pháp khác, nhà nước muốn khuyến khích nông dân và địa chủ trở lại khai thác đất hoang. Có vẻ đây là một vấn đề quan trọng, đặc biệt là từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI, nghĩa là từ thời Hoàng đế Diocletian (284-305), một người tích cực theo chủ nghĩa kinh tế chỉ huy, cho đến cuộc chinh phục của Hồi giáo mà hậu quả là một cải tổ cơ cấu quyền lực và chức năng kinh tế.

Cả hai đế quốc By-dăng và Ba Tư đều bị tràn ngập bởi làn sóng tấn công của Hồi giáo vào các thập kỷ đầu tiên của thế kỷ thứ VII nhưng số phận chung cuộc của họ rất khác nhau. Quân đội By-dăng bị thua nhiều trận lớn, nhiều đất đai bị rơi vào tay người A-rập nhưng vùng đất trung tâm là vùng Tiểu Á vẫn còn là Hy Lạp và Cơ Đốc; còn thủ đô Constantinople, mặc dù chịu nhiều cuộc tấn công, vẫn đứng vững sau các thành cao và đê biển của nó. Đế quốc By-dăng dù có yếu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại được thêm 700 năm; còn ngôn ngữ, văn hoá và các định chế của nó cứ tiếp tục phát triển theo nhịp độ bình thường. Cuối cùng thì mảnh đất còn lại của Đế quốc Cơ Đốc Hy Lạp cũng bị tràn ngập vào năm 1453, nhưng By-dăng đã truyền lại được cho một thế giới Cơ Đốc khác những lịch sử và ký ức của truyền thống xa xưa của mình.

Số phận của Ba Tư thì lại hoàn toàn khác. Không những chỉ các tỉnh thành ngoại vi mà cả thủ đô và toàn bộ đất đai đều bị thôn tính và sáp nhập vào lãnh thổ của đế quốc A-rập Hồi giáo mới mọc lên. Những người By-dăng giàu có sống ở Syria và Ai Cập đều chạy về Byzantium, những giáo dân Zoroastrian ở Ba Tư không có cách nào khác là ở lại sống dưới chính quyền Hồi giáo hay di tản sang một đất nước còn mở cửa tiếp đón họ là Ấn Độ. Trong những thế kỷ đầu của cuộc đô hộ Hồi giáo ở Iran, ngôn ngữ cổ và chữ viết của dân bản địa dần dần bị quên lãng, chỉ có một thiểu số càng ngày càng ít đi là còn sử dụng chúng. Ngay cả ngôn ngữ cũng bị cuộc chinh phục làm biến đổi chẳng khác gì khi tiếng Anglo-Saxon trở thành tiếng Anh. Chỉ tương đối gần đây, các nhà sử học mới phục hồi và giải mã các bài viết và bia khắc bằng tiếng Ba Tư cổ, do đó cuộc nghiên cứu lịch sử giai đoạn Tiền Hồi giáo của Iran mới bắt đầu.

Trong sáu thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Cơ Đốc, lịch sử đế quốc Iran được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu của người Parthia và giai đoạn thứ hai của người Sasanid. Vị hoàng đế đầu tiên thuộc dòng Sasanid la Ardashir (226-240) đã tung ra một loạt các cuộc chiến chống La Mã. Vị hoàng đế kế tục là Shapur I (240-271) còn bắt được cả hoàng đế La Mã Valerian trong một trận đánh, đây là một kỳ tích mà ông hãnh diện đến nỗi cho khắc hình trên nhiều ngọn núi ở Iran, đến nay còn giữ được. Trên các hình này, ta thấy hoàng đế Iran ngồi trên mình ngựa, một chân đạp lên cổ hoàng đế La Mã khúm núm đứng phía dưới. Hoàng đế Valerian về sau chết trong tù.

Cuộc đối đầu giữ Ba Tư và La Mã, về sau là giữa Ba Tư và By-dăng là sự kiện chính trị nổi bật nhất trong lịch sử Trung Đông cho đến khi Hồi giáo nổi lên diệt tan một trong hai đối thủ và làm yếu đi khá nhiều đối thủ kia. Các cuộc chiến tranh liên miên vô tận xen kẽ là những giai đoạn hoà bình ngắn ngủi chắc chắn đã góp phần đưa đến kết cục nêu trên.

Cũng có một ngoại lệ, đó là giai đoạn Hoà bình Lâu dài kéo dài trên một thế kỷ. Năm 384, Hoàng đế Shapur III (383-388 CN) ký một hiệp ước ngưng chiến với La Mã. Ngoài mấy trận đánh lẻ tẻ trên biên giới vào năm 421-422, chiến tranh chấm dứt han cho đến đầu thế kỷ thứ VI thì lại nổ ra gần như liên tục mãi đến năm 628. Lúc ấy, một thế lực mới bắt đầu nổi lên và chẳng mấy chốc đánh bạt cả hai đối thủ.

Đối với các sử gia hiện đại và Trung cổ, mục đích chính của những cuộc chiến tranh ấy, như ai cũng đoán biết, là tranh cướp đất đai. Người La Mã đòi chủ quyền trên Armenia và Lưỡng Hà mà Ba Tư đang cai quản phần lớn thời gian ấy. Lý do là trước đấy, hoàng đế Trajan đã chinh phục được những vùng này vì vậy họ có quyền thiết lập một chủ quyền vĩnh viễn ở đây theo đúng một luận thuyết mà cả người La Mã, người Ba Tư và sau đó người Hồi giáo đều chấp nhận. Đế quốc By-dăng lại có thêm một lập luận nữa là đa số dân chúng các vùng Armenia và Lưỡng Hà theo Cơ Đốc giáo do đó phải thần phục vị hoàng để Cơ Đốc. Người Ba Tư thì đòi Syria, Palestine, và ngay cả Ai Cập là những vùng mà Cambyses, con trai của Cyrus đã chinh phục vào năm 525 TCN. Trong suốt cuộc chiến tranh, thỉnh thoảng họ xâm chiếm và tàn phá vùng đất này và đôi khi cũng giữ được chúng trong thời gian ngắn. Tại đây mặc dù không có người Ba Tư hay người theo đạo Zoroastrianism nhưng lại có những nhóm dân cư không theo Cơ Đốc giáo và có thiện cảm với người Ba Tư.

Các sử gia hiện đại cũng đã có thể phát hiện và dẫn chứng về những mục tiêu khác của chiến tranh ngoài việc tranh cướp đất đai. Trong số những mục tiêu quan trọng nhất có việc kiểm soát con đường thông thương Đông Tây. Có hai mặt hàng nhập từ phương Đông và có tầm quan trọng đặc biệt đối với thế giới Địa Trung Hải: đó là lụa tơ tằm nhập từ Trung Quốc và đồ gia vị nhập từ Ấn Độ và Đông Nam Á. Sự trao đổi, buôn bán của các mặt hàng ấy phát triển rất mạnh và luật pháp La Mã có những điều khoản nhằm bảo vệ chúng khỏi bị gây trở ngại. Nhờ có các hoạt động mậu dịch này mà thế giới La Mã và By-dăng có tiếp xúc vơi các nền văn minh Á châu xa xôi, với Trung Quốc và Ấn Độ. Các trao đổi ấy không thường xuyên và sử chép rất ít việc thông thương hành khách. Người La Mã và sau đó là người By-dăng thường thanh toán bằng tiền vàng vì thế giới Địa Trung Hải hầu như không có mặt hàng gì để đổi lấy lụa Trung Quốc và gia vị Ấn Đô. Tuy nhiên, vàng là thứ mà người ta luôn luôn chấp nhận và một lượng lớn tiền vàng đã được chuyển đến Đông Á để trả tiền nhập hàng vào vùng Địa Trung Hải. Tiền vàng còn được đưa đến vùng Viễn Đông vì người Ba Tư đã kiếm được khá nhiều lời lãi khi làm trung gian buôn bán tơ lụa với Trung Quốc, nhất là ở những giai đoạn họ lấn quân sang miền Đông chiếm được vùng Trung Á, do đó khống chế được mậu dịch tơ lụa ngay từ điểm xuất phát. Đôi khi cũng có ta thán về việc vàng chảy qua phương Đông quá nhiều nhưng nhìn chung có vẻ như thế giới La Mã chịu đựng khá tốt tình trạng này.

Con đường ngắn nhất đi từ Địa Trung Hải sang phương Đông chạy qua các vùng đất do người Ba Tư cai quản hay chiếm đóng và lẽ tất nhiên là trên cả mặt kinh tế lẫn chiến lược, cần phải có một con đường khác nằm ngoài phạm vi không chế của quân đội Ba Tư. Có thể lựa chọn hoặc đường bộ từ Trung Quốc xuyên qua các thảo nguyên Á Âu nơi có người Thổ sinh sống đến tận Biển Đen và lãnh thổ By-dăng hoặc đường biển ở phía Nam qua Ấn Độ Dương. Đường này dẫn đến vịnh Ba Tư và bán đảo A-rập rồi nối vào đường bộ qua Ai Cập và eo đất Suez hay có thể theo các đường lạc đà từ miền Tây Bán đảo A-rập và Yemen đến biên giới Syria. Mối quan tâm cua người La Mã và sau đó của người By-dăng là xây dựng và gìn giữ được các con đường thông thương ngoại vi ấy với Trung Quốc và Ấn Độ để có thế đi vượt tránh các trung tâm do Ba Tư kiểm soát. Còn đế quốc Ba Tư thì lại muốn lợi dụng vị trí nằm đè lên các con đường thông thương để khống chế nền mậu dịch By-dăng, khai thác nó trong thời bình và cắt đứt nó trong thời chiến. Kết quả là một cuộc tranh giành ảnh hưởng triền miên giữa hai đế quốc này trên những vùng đất nằm ngoài biên giới của họ. Hậu quả của những cuộc tranh hùng trên các mặt thương mại, ngoại giao và đôi khi quân sự giữa đôi bên thì thật là tai hại. Những người đầu tiên chịu các hậu qua ấy là các bộ lạc Thổ và các tiểu quốc trên miền Bắc, các bộ lạc A-rập và các tiểu quốc dưới miền Nam. Cũng không có dấu vết gì cho thấy cả người Thổ lẫn người A-rập có đóng một vai trò gì quan trọng trong các nền văn minh cổ trong vùng. Nhưng về sau, qua các cuộc xâm lăng nối tiếp nhau, hai dân tộc ấy sẽ giữ những vị trí then chốt giữa lòng thế giới Hồi giáo vào thời Trung cổ.

Trong sáu thế kỷ đầu của Công nguyên, cả người Thổ lẫn người A-rập đều sinh sống ở ngoài biên giới của các đế quốc, trong các thảo nguyên của các dân tộc man rợ hay trong các sa mạc. Người Ba Tư cũng như người La Mã, ngay ca trong các thời kỳ bành trướng lãnh thổ đế quốc cũng đều không quan tâm đến các dân tộc sống trong thảo nguyên hay trên sa mạc và không muốn đụng chạm đến họ. Nhà viết sử La Mã của thế kỷ thứ IV, Ammianus Marcellinus, người gốc Syria, có viết về cả hai dân tộc này, về những người sống trong thảo nguyên, ông viết:[1]

Dân vùng này còn man rợ và thích chiến tranh, chết trong chiến đấu được họ xem là niềm hạnh phúc cao nhất, còn ai có cái chết tự nhiên thì bị nguyền rủa là suy đồi và hèn nhát (XXIII, 6.44).

Dân sống trong sa mạc được ông nói đến là “bọn Saracen … thì ta chẳng thèm kết bạn mà cũng chẳng muốn gây thù với chúng” (XIV, 4.1). Đưa quân đi chinh phục những dân tộc ấy thì tốn kém, khó khăn và nguy hiểm mà kết quả thu được thì vừa bấp bênh, vừa vô ích. Do đó, chính sách truyền thống của cả hai đế quốc là ve vãn các bộ lạc ấy bằng nhiều cách, nếu có thế thì lấy lòng họ bằng cách giúp đỡ về tài chính, quân sự, kỹ thuật, phong chức tước vv… Ngay từ đầu, các tù trưởng bộ lạc - tiếng Hy Lạp gọi là phylarch — cả ở miền Bắc và miền Nam đã biết cách lợi dụng tình hình này, khi theo bên này khi theo bên kia, có khi theo cả hai bên hoặc không theo bên nào cả. Tiền của kiếm được nhờ các đoàn lạc đà chở hàng buôn bán nhiều khi đủ cho họ xây dựng được những thành phố và vương quốc riêng của mình, có vai trò chính trị riêng biệt và chịu thần phục hay chỉ là đồng minh của hai đế quốc. Lắm lúc các đế quốc nói trên khi không thấy trở ngại gì thì xâm chiếm các vương quốc gần biên giới mình rồi áp đặt quyền cai trị trực tiếp. Nhưng thường thì họ hài lòng với một hình thức quản lý gián tiếp hay nhận các nước kia làm chư hầu.

Cách thức tiến hành này đã có từ xưa, có lẽ đã được áp dụng từ thời Cổ đại. Người La Mã bắt đầu chính sách ấy đối với các vương quốc trong sa mạc từ năm 65 TCN, khi hoàng đế Pompey đi thăm thủ đô Petra của người Nabatean, thành phố này ngày nay còn tồn tại trong vương quốc Jordan. Người Nabatean hình như thuộc giống A-rập mặc dù văn hoá và chữ viết của họ lại có nguồn gốc Aramaean. Họ xây dựng một thành phố giàu có làm nơi nghỉ chân cho các đoàn lạc đà trong ốc đảo Petra. Người La Mã thấy là nên có quan hệ thân thiện với họ và Petra trở thành một vùng đệm giữa các tỉnh biên giới của đế quốc La Mã và sa mạc, hơn nữa đây cũng là một vị trí phụ trên con đường đến miền Nam Arabia và đường buôn bán với Ấn Độ. Năm 25 TCN, hoàng đế Augustus áp dụng một chính sách khác bằng cách cho quân đi xâm chiếm vùng Yemen với mục đích là thiết lập một chỗ đứng ở vùng cực Nam Biển Đỏ và khống chế con đường đi qua Ấn Độ. Nhưng cuộc xâm lăng này bị thất bại thảm hại và từ đấy người La Mã bỏ hẳn ý định ấy. Như vậy có nghĩa là họ không bao giờ dùng sức mạnh quân sự để thâm nhập vào Arabia nữa mà chỉ dựa vào các thành phố nơi dừng chân của các đoàn lạc đà hay các quốc gia trên biên giới với sa mạc để phục vụ việc buôn bán trao đổi trong thời bình và các nhu cầu chiến lược trong thời chiến.

Chính sách của La Mã đã giúp hình thành một loạt các tiểu vương quốc A-rập trên vùng biên giới mà Petra là quốc gia đầu tiên trong thời La Mã. Ngoài Petra còn có nhiều quốc gia khác, đặc biệt là Palmyra, nơi mà ngày nay gọi là Tadmur ở miền Đông Nam Syria. Palmyra được xây dựng xung quanh một suối nước trong sa mạc Syria. Đây là một ốc đảo cổ và có lẽ đã là một trung tâm định cư và thương mại có từ trước. Người dân ở đây đã mở một thương điếm ở Dura trên sông Euphrates và qua đó có thể tham gia vào việc trao đổi hàng hoá trên con đường xuyên sa mạc từ Địa Trung Hải đến Lưỡng Hà và vùng Vịnh. Nhờ vậy họ chiếm một vị trí quan trọng về thương mại và chiến lược.

Trên miền Bắc của hai đế quốc, tức là ở phía Bắc Biển Đen và biển Caspi nơi có con đường bộ nối liền Trung Á và Trung Quốc, tình hình cũng tương tự như vậy. Trong khoảng phần tư sau cùng của thế kỷ thứ I, hình như các bộ lạc trong vùng này đã nổi dậy chống Trung Quốc, quốc gia đang có một bá quyền khá lỏng lẻo ở đây. Dẫn đầu cuộc nổi dậy này là một dân tộc mà sử Trung Quốc gọi là rợ Hung Nô, có lẽ cùng một dòng giống với người Hung trong lịch sử châu Âu. Một vị tướng Trung Quốc tên là Ban Siêu (Pan Chao) đã đưa quân tiến vào Trung Á, phá tan quân phiến loạn và đánh bật rợ Hung Nô khỏi con đường tơ lụa. Quân Trung Quốc tiếp tục tiến xa thêm và chiếm được vùng đất về sau gọi là Turkestan gồm lãnh thổ Uzbekistan và các nước láng giềng phía Tây. Nhờ vậy mà phần đường tơ lụa nằm trên châu Á thuộc về quyền kiểm soát của Trung Quốc. Đồng thời tướng quân Ban Siêu cử một phái bộ do một người tên là Khang Ưng (Kang Ying) dẫn đầu đi La Mã. Theo sách sử, phái bộ này đến được vịnh Ba Tư vào năm 97.

Những sự kiện này cùng các hoạt động quân sự và ngoại giao khác của Trung Quốc giúp ta hiểu vì sao hoàng đế La Mã Trajan lại triển khai một kế hoạch bành trướng tích cực và đầy tham vọng trong vùng Trung Đông. Năm 106, ông từ bỏ chính sách thân thiện có từ trước đối với Petra và đưa quân đi xâm chiếm thành phố này. Vương quốc của người Nabatean từ nay trở thành một tỉnh của La Mã tên là Provincia Arabia, đứng đầu là một vị khâm sai chỉ huy quân đoàn La Mã đóng Bosra. Hoàng để Trajan còn thiết lập một đường thuỷ nối liền Alexandria và Clysma bằng cách thông các kênh đào với các nhánh sông Nil để tàu thuyền La Mã có thế đi từ Địa Trung Hải qua Biển Đỏ. Năm 107, một phái bộ La Mã được gửi tới Ấn Độ và sau đó ít lâu người ta xây một con đường nối liền biên giới phía Tây của Syria và Biển Đỏ.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi các hoạt động trên làm cho người Parthia lo lắng và họ khởi động chiến tranh chống La Mã. Trong một chiến dịch bắt đầu từ năm 114, Hoàng để Trajan chiếm được Armenia, vùng đất tranh chấp chính giữa hai đế quốc, sau đấy ông ký một hiệp ước với nhà vua của vương quốc Cơ Đốc độc lập ở Edessa rồi vượt sông Tigris chiếm được một thành phố lớn của Ba Tư là Ctesiphon, nằm gần Baghdad ngày nay, và thừa thắng kéo đến tận Vịnh Ba Tư. Chắc chắn là không phải chuyện ngẫu nhiên mà có một cuộc nổi dậy lớn xảy ra ở Judaea vào thời buổi ấy. Sau khi Hoàng để Trajan qua đời vào năm 117, người kế tục là Hadrian đã rút quân khỏi các vùng chiếm được ở phía Tây nhưng vẫn giữ lại Provincia Arabia (Tỉnh A-rập).

Vào khoảng năm 100, nghĩa là ngay trước khi Trajan bắt đầu mở rộng bờ cõi, tình hình bán đảo A-rập là như sau: Phần trong nội địa thì hoàn toàn không có một hình thức chính quyền nào cả, xung quanh là những quốc gia nhỏ, hay nói đúng hơn là những tiểu vương quốc có quan hệ nhiều mặt với các đế quốc của người Parthia ở phương Đông và người La Mã ở phương Tây. Dân ở đây sống nhờ con đường thông thương đi dọc ngang qua Arabia đến Yemen rồi từ đây theo đường biển đến Đông Phi châu và Ấn Độ.

Việc sáp nhập Petra vào đế quốc La Mã là một thay đổi lớn trong chính sách và làm sụp đổ sự cân bằng quyền lực có từ trước trong vùng, về sau người La Mã cũng có một chính sách tương tự đối với Palmyra và Palmyra cũng bị sáp nhập ở một thời điểm nào đó. Sử sách có ghi rằng vào thế kỷ thứ II, tại Palmyra có một đồn đóng quân của người La Mã.

Đến khi triều đại Sasanid được lập nên ở Ba Tư, nước này có một chế độ tập trung và hiếu chiến hơn trước và tình hình ở vùng Đông Bắc bán đảo A-rập có nhiều biến đổi; người Ba Tư chinh phục rồi sáp nhập luôn các tiểu vương quốc vùng biên giới. Đến khoảng giữa thế kỷ thứ III, họ phá huỷ Hatra, một trung tâm A-rập cổ và chiếm nhiều vùng dọc bờ vịnh Ba Tư.

Sử ký La Mã có ghi lại một giai đoạn khá thú vị vào nửa sau của thế kỷ thứ III khi một nữ tù trưởng mà người La Mã gọi là Zenobia (có lẽ tên A- rập là Zaynab) đứng lên để giành lại độc lập cho Palmyra. Bà bị quân La Mã do Hoàng đế Aurelian phái đến đánh bại và sau đó Palmyra lại bị đế quốc thôn tính.

Cũng vào thời gian ấy, nhiều thay đổi quan trọng đang xảy ra ở miền Nam bán đảo A-rập. Đây là một vùng đất có canh tác với các thành phố do những vương triều cai trị, khác hẳn với miền Bắc gần như hoang vắng. Nhưng các vương triều ấy về sau sụp đổ và được thay thế bằng một chính thế mới là vương quốc Himyar, địa bàn của nhiều cuộc tranh giành ảnh hưởng từ bên ngoài đến: người Ba Tư từ phương Đông và người Ethiopia từ phương Tây. Các vương triều Cơ Đốc hiếu chiến mới nổi lên ở Ethiopia lẽ tất nhiên rất quan tâm đến những sự kiện xảy ra trên bờ bên kia Biển Đỏ còn người Ba Tư thì luôn luôn tìm cách chống lại các ảnh hưởng của La Mã và Cơ Đốc mà đối với họ thì tuy hai mà một.

Ngay các tiền đồn xa xôi của nền văn minh Địa Trung Hải lúc ấy cũng chịu ảnh hưởng từ sự xuống dốc của nền kinh tế thế giới cổ và đặc biệt là sự đình đốn trong thương mại bắt đầu từ thế kỷ thứ III. Bằng chứng là số lượng tiền vàng La Mã của giai đoạn này do khảo cổ phát hiện càng ngày càng ít đi. Ở Ấn Độ người ta hầu như không tìm thấy tiền vàng từ niên hiệu Caracalla trở đi, Hoàng đế Caracalla qua đời năm 217. Giữa thế kỷ thứ IV và thứ VI, Arabia có vẻ như đã rơi vào một thời kỳ tăm tối, một gian đoạn nghèo đói mà đất đai trồng trọt thì thu hẹp lại, dân chúng rời bỏ các khu định cư và sống đời du mục. Nhiều ký ức sống động của giai đoạn này, giai đoạn ngay trước khi đạo Hồi ra đời, vẫn còn ghi lại trong các truyện kể của người Hồi giáo.

Ít ra thì một phần nguyên nhân của tình trạng suy đồi này trên bán đảo A-rập cũng là vì hai đế quốc đang cạnh tranh nhau không còn quan tâm đến vùng đất ấy nữa. Trong một thời gian dài từ năm 384 đến năm 502, khi La Mã và Ba Tư không có chiến tranh với nhau thì chẳng còn ai để ý đến Arabia hay đến các con đường thông thương dài, tốn kém và nguy hiểm chạy qua các sa mạc và ốc đảo ở đây. Hàng hoá nay lại chuyên chở trên những đường khác thì thu nhập ở đây bị cạn kiệt, các đoàn lạc đà không còn qua lại thì các thành phố sẽ bị bỏ hoang. Ngay những dân định cư trong các ốc đảo cũng phải bỏ đi nơi khác hay trở lại đời sống du mục.

Không còn làm ăn buôn bán nữa và phải sống một đời sống du mục cho nên mức sống và trình độ văn hoá của người dân bị hạ thấp và trong một thời gian dài vùng Arabia bị tách rời khỏi thế giới văn minh như chưa từng thấy. Ngay cả miền Nam Arabia dù có mức phát triển cao hơn cũng phải chịu ảnh hưởng và nhiều bộ lạc du mục miền Nam chạy lên miền Bắc để mong có được nhiều đồng cỏ hơn cho súc vật. Cách sống du mục mà từ lâu đã chiếm một vị trí quan trọng trong xã hội A-rập đến nay trở thành rộng khắp. Giai đoạn lịch sử này về sau được người Hồi giáo gọi là Jahiliyya, Thời đại Mù quáng lẽ tất nhiên để đối lại với Thời đại Ánh sáng, thời đại của đạo Hồi. Đúng là một thời kỳ đen tối không phải chỉ so sánh với thời đại tiếp theo mà cả khi so sánh với thời trước đó. Và theo nghĩa ấy, sự ra đời của Hồi giáo có thể xem là một sự phục hồi, Kinh Cô-ran lẽ tất nhiên cũng nói như vậy, đó là sự phục hồi của tôn giáo của Abraham.

Trong thế kỷ thứ VI, thế kỷ của Mu-ha-mát, tình hình lại đảo ngược. Sự kiện hàng đầu có tác động lên tất cả các sự kiện khác là cuộc chiến Ba Tư — By-dăng bùng nổ trở lại và kéo dài liên miên sau hơn một thế kỷ hoà bình. Và trong tình trạng chiến tranh và đối kháng giữa hai đế quốc mà Arabia một lần nữa trở thành đối tượng của sự tranh giành, dân chúng ở đây lại được ve vãn, tôn vinh và đôi khi được cả hai bên cung cấp tiền bạc. Trong thời bình, con đường thuận tiện nhất đi từ các nước Địa Trung Hải sang phương Đông là qua các triền sông vùng Vịnh Ba Tư. Trên lộ trình này, đường bộ tương đối ít và chủ yếu là đường thuỷ cho nên nó được xem là vừa rẻ vừa an toàn. Nhưng mọi việc đã thay đổi khi giữa Ba Tư và By-dăng lại có chiến tranh. Đối với người By-dăng, con đường qua Lưỡng Hà và vùng Vịnh trở nên quá mạo hiểm. Bất kỳ lúc nào, người Ba Tư cũng có thể cắt đường ấy, trong thời chiến bằng các hoạt động quân sự còn trong giai đoạn được xem là hoà bình giữa hai đế quốc thì họ có thể gây khó khăn nhờ các áp lực kinh tế. Do đó, lại một lần nữa, chính sách của By-dăng là tìm ra một con đường khác không bị Ba Tư chi phối.

Cũng như trước đây, có hai giải pháp chính: đường qua các thảo nguyên miền Bắc và đường qua các sa mạc và biển ở miền Nam. Việc nối lại con đường bộ xuyên Á là mục tiêu của hàng loạt thương lượng giữa Hoàng đế By-dăng và các Hãn vương của các quốc gia thảo nguyên vùng Trung Á. Nhiều đại sứ của các Hãn vương lần lượt đến Constantinople và sách sử By-dăng cũng nói đến một số Hãn vương, khôn ngoan hơn các vị khác vì gửi sứ thần đến cả Ba Tư và By-dăng. Thường thì người By-dăng hay bị các Hãn vương chê trách là lừa lọc. Sử gia By-dăng là Menander có kể lại một sự cố ngoại giao xảy ra vào năm 576. Một phái bộ By-dăng, khi trình uỷ nhiệm thư lên một Hãn vương, bị khiển trách là bắt cá hai tay, vì có quan hệ cả với các kẻ thù của ông. Ông đưa cả mười ngón tay vào miệng và nói:[2]

Có phải các ngươi là những người La Mã có mười cái lưỡi và chuyên đi lừa dối không?… Cũng như ta hiện nay có mười ngón tay trong miệng, các ngươi có mười cái lưỡi, cái thì để lừa dối ta, cái thì để lừa dối [bọn Avars]… Các ngươi nịnh nọt và lừa dối mọi người, dùng lời xảo quyệt và các ý đồ phản phúc. Ai đang đâm đầu vào khổ ải thì các ngươi cũng mặc kệ miễn là các ngươi có lợi… Trời sinh ra người Thổ chúng ta là không hề biết nói dối.

Nhìn chung thì cả chủ và khách ở miền Nam cũng như trên miền Bắc có vẻ hiểu nhau rất rõ.

Vào thế kỷ thứ VI, đường phía Nam quan trọng hơn đường phía Bắc một phần vì có thế tránh xa Ba Tư, một phần vì nó có nhiều phương án. Qua các tài liệu, ta có thế hình dung được các chính sách và các hành động của ba bên có liên quan, phía By-dăng thì cố gắng mở và bảo vệ con đường thông thương đến Ấn Độ không để cho Ba Tư phá rối, phía Ba Tư thì muốn ngăn cản và cắt đứt con đường ấy, còn phía các dân tộc sống dọc đường này thì phải dựa vào tình hình trên để kiếm lợi, họ phải giúp mở đường nhưng không cho By-dăng độc quyền khai thác và kiểm soát vì như thế sẽ làm giảm vai trò độc lập của họ.

Nhiều sự kiện xảy ra vào thời buổi ấy ăn khớp với kịch bản nêu trên. Thí dụ như sự xuất hiện trở lại của các quốc gia trên biên giới là chư hầu của cả phía By-dăng và phía Ba Tư. Về phía biên giới sa mạc của By-dăng thì có tiểu vương quốc A-rập Ghassan nằm trên vùng đất ngày nay là Jordan còn về phía Ba Tư thì có tiểu vương quốc Hira. Cả hai nước đều có dân gốc A- rập, cả hai có nền văn hoá Aramaic và cả hai đều theo Cơ Đốc giáo nhưng một nước thì thần phục By-dăng, nước kia theo Ba Tư.

Năm 527, Hoàng đế By-dăng là Justinian xúi giục Ghassan gây chiến với Hira. Hình thức chiến tranh của nước nhỏ đánh thay cho nước lớn sẽ trở nên cổ điển, hai nước lớn ở đây là By-dăng và Ba Tư. Nhà vua Ghassan được La Mã phong cho danh hiệu Quý tộc của đế quốc La Mã, được mời đến thăm Constantinople, được giúp đỡ về vũ khí và cố vấn và được viện trợ khá nhiều vàng. Về phía Ba Tư thì ít có sử sách ghi chép nhưng có lẽ tình hình cũng tương tự.

Một sự kiện thứ hai đáng chú ý là việc xuất hiện trên sân khấu lịch sử của hòn đảo Tiran nhỏ bé còn được gọi là Yotabe và nằm ở phía Nam bán đảo Sinai ngay chính giữa eo biển mang cùng tên Tiran. Trên đảo này hình như có một cộng đồng dân cư từ xưa đã theo nghề buôn bán vãng lai. Sử sách có chép rằng, năm 473 nhiều tù trưởng của đảo này đến thăm Constantinople, có người được xem là bạn, có người được xem là thù của đế quốc. Đôi khi dân cư đảo này được mô tả là người Do Thái nhưng người ta không biết đây là những người Do Thái đến định cư từ trước, những người mới quy theo đạo Do Thái hay những người Do Thái mới đến từ Judaea. Dân trên đảo chuyên buôn bán với phương Nam, nghĩa là dọc theo Biển Đỏ, lúc đầu thì họ được độc lập và có xu hướng chống đế quốc By-dăng. Đến thế kỷ thứ VI, khi thương mại trong vùng Biển Đỏ trở nên quan trọng, đế quốc By-dăng giành quyền kiểm soát ở đây và giao cho một vị vua Ghassan quản lý cho thuận tiện.

Năm 525 cũng có một số sự kiện quan trọng. Mặc dù người Do Thái trên đảo Tiran-Yotabe bị chinh phục nhưng về phía Nam Biển Đỏ bắt đầu có người Do Thái sinh sống và vua Himyar cũng quy theo đạo Do Thái thành thử lần đầu tiên trên phần Tây Nam bán đảo A-rập đã có một vương quốc Do Thái. Chắc chắn phải có sự phối hợp nào đó mà trên hai đầu Biển Đỏ cùng một lúc bất ngờ xuất hiện hai cộng đồng Do Thái, cả hai cùng làm nghề buôn bán trên vùng Biển Đỏ, cả hai cùng theo một chính sách thân Ba Tư và chống By-dăng.

Chính sách của By-dăng chủ yếu là trực tiếp chống Ba Tư. Các hành động của họ không những chỉ hướng về Ba Tư mà còn chống lại chính sách trung lập qua việc trừ khử hay khống chế các thế lực địa phương để giành bá quyền và chiếm lĩnh độc quyền buôn bán trên toàn bộ Biển Đỏ. Trên miền Bắc, người By-dăng tự đảm đương công việc này với ít nhiều trợ giúp của những thành phần A-rập đi theo họ. Ở miền Nam, nơi mà họ khó lòng vươn tới, người By-dăng đối đầu với thách thức đề ra bằng cách đưa vào sân chơi nước Ethiopia, một quốc gia Cơ Đốc giáo đồng minh của họ, để chống lại người Do Thái ở Yemen và để quốc Ba Tư đứng sau lưng người Do Thái. Lúc ấy, Ethiopia đã là một nước có nền mậu dịch quốc tế phát triển, tàu bè của họ đưa hàng đến tân Ấn Độ và quân đội của họ có mặt trên lục địa Arabia. Người Ethiopia mới quy theo Cơ Đốc giáo nên rất sùng đạo và họ tích cực đáp ứng các yêu cầu của By-dăng.

Nhưng thật không may cho người Ethiopia vì họ không hoàn thành sứ mệnh đã được giao phó. Lúc đầu, họ tiêu diệt được quốc gia độc lập cuối cùng trên miền Nam Arabia để mở cửa cho những ảnh hưởng bên ngoài, chủ yếu là của Cơ Đốc giáo thâm nhập, nhưng lại không đủ mạnh để duy trì sự có mặt của mình ở đây. Từ Yemen, họ cũng cố gắng tiến lên miền Bắc, năm 507 họ tấn công Mecca, một thị trấn của Yemen nằm trên con đường mà các đoàn lạc đà phải qua. Nhưng họ đã thất bại và ít lâu sau phải rời khỏi Yemen nhường chỗ cho người Ba Tư.

Trong thời thơ ấu của Đấng Tiên tri, Yemen còn là một tỉnh của Ba Tư đặt dưới quyền cai trị của một tỉnh trưởng satrap. Việc Ba Tư chiếm đóng miền Nam Biển Đỏ là một thất bại lớn của chính sách By-dăng nhằm thiết lập một con đường thông thương riêng biệt và an toàn với phương Đông. Điều mỉa mai là cùng lúc ấy một phát triển mới làm toàn bộ vấn đề bị mất hết tầm quan trọng của nó. Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc giấu nghề ươm tơ hết sức bí mật, ai đưa con tằm ra nước ngoài sẽ bị tử hình. Thế nhưng vào năm 552, hai thầy tu Cảnh giáo Nestorian lén lút đưa trứng tằm sang được By-dăng và đến thế kỷ thứ VII ngành nuôi tằm dệt tơ đã khá thịnh hành trên vùng Tiểu Á. Tơ tằm Trung Quốc tuy vẫn được ưa chuộng vì độ bền và chất lượng của nó nhưng Trung Quốc không còn độc quyền trên thế giới về mặt hàng này nữa.

Cuối thế kỷ thứ VI, cả hai đối thủ phải rút lui hay bị suy yếu. Người Ethiopia bị đuổi khỏi Arabia và ngay trong nước họ, chính quyền cũng bị lung lay. Người Ba Tư thì còn cố giữ được một thời gian nhưng cũng bị suy yếu vì các vụ giành giật trong kế thừa ngôi báu và nhiều tranh chấp lớn trong nội bộ tôn giáo Zoroastrianism của họ. Người By-dăng cũng có những vấn đề lớn của chính mình sau khi hoàng để Justinian qua đời, chủ yếu là các cuộc đấu tranh trong nội bộ Giáo hội Cơ Đốc By-dăng xuất phát từ việc hoàng đế can thiệp quá nhiều vào các vấn đề tôn giáo. Còn các trung tâm quyền lực độc lập cuối cùng trên bán đảo A-rập, các tiểu vương triều ở phía Nam, cũng biến mất nhường chỗ cho những lực lượng từ bên ngoài đến đô hộ.

Tất cả những thay đổi ấy đã tác động mạnh lên đời sống ở bán đảo A-rập. Nhiều sắc dân từ bên ngoài đến Arabia như những người định cư, dân tị nạn cùng nhiều nhóm khác đến làm ăn sinh sống ở đây đã mang đển các cách sông mới, các vật dụng mới và các tư tưởng mới. Hậu quả của cuộc xung đột Ba Tư - By-dăng là có thêm đường thông thương đi qua vùng này, thương nhân và hàng hoá qua lại tấp nập. Ngay trên miền Bắc, các vương quốc dọc theo biên giới cũng nổi lên lại và mặc dù họ thần phục các đế quốc lớn, họ vẫn duy trì vị trí của mình trong gia đình các dân tộc A-rập.

Trong dân chúng A-rập, phản ứng trước các ảnh hưởng bên ngoài tất nhiên phải có. Trước hết là những thay đổi về mặt vật chất. Người A-rập học cách sử dụng các vũ khí, giáp trụ và chiến thuật quân sự đang thịnh hành — đây là một bài học đáng giá cho những sự kiện sẽ xảy ra về sau. Họ cũng bắt đầu có những thị hiếu của các xã hội tiên tiến hơn vì các thương nhân đã mang đến cho họ những hàng hoá mà trước đó họ không hề biết đến nhưng nay thì họ làm quen rất nhanh chóng. Cũng có những phản ứng trên các mặt trí tuệ và ngay cả tinh thần khi người A-rập tiếp xúc với tôn giáo và văn hoá của những người láng giềng văn minh hơn họ. Họ biết đến chữ viết, tạo ra cách viết riêng cho ngôn ngữ của mình. Họ hấp thụ nhưng tư tưởng bên ngoài và quan trọng hơn cả là họ bắt đầu không hài lòng với tôn giáo đa thần mà phần lớn trong số họ cho đến thời điểm ấy vẫn trung thành nhưng nay lại muốn tìm một thứ gì hoàn mỹ hơn.

Họ có thể lựa chọn một trong số nhiều tôn giáo. Cơ Đốc giáo đã phát triển mạnh. Đa số những người A-rập trên vùng biên giới với cả By-dăng và Ba Tư đều theo đạo Cơ Đốc. Về phía Nam ở Najran và Yemen cũng có người định cư Cơ Đốc. Người Do Thái có mặt ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Yemen và trong khắp vùng Hejaz. Họ là con cháu những người tị nạn từ Judaea đến, một số là những người mới theo đạo ấy. Trong thế kỷ thứ VII, cả người Cơ Đốc và người Do Thái ở Arabia đều bị A-rập hoá hoàn toàn và trở thành thành viên của cộng đồng A-rập. Có rất ít hoặc không có người theo các tôn giáo của Ba Tư, cũng không lấy gì làm ngạc nhiên khi ta biết tôn giáo Ba Tư có tính dân tộc rất rõ ràng và ít hấp dẫn đối với những ai không phải dân Ba Tư.

Sử sách đạo Hồi có nhắc đến một nhóm người mang tên A-rập là Hanif, mặc dù đã từ bỏ đạo đa thần nhưng cũng không muốn chấp nhận một trong số các luận thuyết tôn giáo đang cạnh tranh nhau lúc ấy. Họ là những người sớm nhất quy theo tôn giáo mới, đạo Hồi.

❀ ❀ ❀

[1] Ammianus Marcellinus; bản dịch tiếng Anh của John C. Rolfe (Cambridge, Mass. Loeb Classical Library, 1963), vol. II, t. 375; vol. I,t. 27.

[2] Menander, Excerpta de legationibus, ed. C. de Boor (Berlm 1903), vol. I,t. 205-206; bản dịch tiếng Anh trong Cambridge Medieval History vol. IVa, t. 479.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.