Lịch sử kinh tế và xã hội của vùng Trung Đông trong giai đoạn Tiền Cận đại ít được nghiên cứu đến, thành thử hiểu biết của chúng ta về vấn đề này không nhiều lắm. Lý do chính tại sao nghiên cứu lịch sử trong lĩnh vực này lại tương đối yếu so với các đối tượng khác, đặc biệt là so với lịch sử Âu châu thời Trung cổ, có thể giải thích vì thiếu tài liệu. Các quốc gia Tây Âu thời Trung cổ ngày nay trở thành các quốc gia của châu Âu hiện đại, vì những mục đích sử dụng thực tế mà hiện tại vẫn còn cần đến, nên có nhiều tài liệu lưu trữ và còn được bảo quản cho đến thời nay; đối với các sử gia, đây là những nguồn tra cứu vô cùng quý giá. Còn các quốc gia Trung Đông thời Trung cổ, ngoại trừ trường hợp đế quốc Ottoman, đã qua nhiều xáo trộn và tàn phá do nội chiến và ngoại xâm cho nên các tài liệu lưu trữ của họ không cần dùng nữa và đã bị bỏ quên, phân tán và thất lạc.
Cho đến khi ảnh hưởng và các phương pháp hành chính của phương Tây lan tràn đến vùng Trung Đông vào đầu thế kỷ XX thì chỉ có đế quốc Ottoman là quốc gia duy nhất không có những gián đoạn đột ngột về chính trị và hành chính trong suốt khoảng thời gian kể từ cuối thời Trung cổ. Sổ sách của họ được giữ gìn khá nguyên vẹn. Các tài liệu lưu trữ Ottoman, cũng giống như các tài liệu trong nhiều quốc gia Âu châu, đã vượt qua được giai đoạn quá độ nguy hiểm khi tài liệu được lưu trữ chỉ để sử dụng thực tế chuyển sang việc chúng được bảo quản để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử. Qua nghiên cứu các tài liệu ấy, người ta đã rọi một luồng ánh sáng rực rỡ lên lịch sử vùng Trung Đông dưới thời Ottoman và còn chiếu vào nhiều điểm tối tăm trong lịch sử của những thế kỷ trước đấy. Các tài liệu Ottoman vừa nhiều vừa rất khó khai thác cho nên còn rất nhiều việc phải làm trước khi công tác nghiên cứu lịch sử vùng Trung Đông, đặc biệt là lịch sử kinh tế và xã hội, có thể đạt đến mức khả quan đã được xem là thông lệ trong các lĩnh vực khác may mắn hơn.
Tuy nhiên, căn cứ trên những thông tin có được, ta có thể phác họa một hành trình tiến hoá của các nền kinh tế Trung Đông, và qua đó cũng có thể làm sáng tỏ thêm về các thay đổi trong cơ cấu chính trị dựa trên những nền kinh tế ấy.
Từ thời cổ xưa, nông nghiệp đã luôn luôn là hoạt động kinh tế quan trọng nhất và ngày nay cũng vẫn còn như vậy trong phần lớn vùng này. Đa số dân chúng sống nhờ nông nghiệp và nguồn thu nhập chính của các quốc gia, cho đến một thời điểm gần đây, vẫn đến từ sức lao động của người nông dân.
Theo truyền thống, ngành nông nghiệp Trung Đông gồm hai loại hình chính. Loại thứ nhất, rất quan trọng, là nông nghiệp của các nền kinh tế nằm trong các lưu vực sông lớn: sông Nil, hệ thống hai sông Tigris- Euphrates và ở Trung Á hai sông lớn là Oxus và Jaxartes. Trong một vài vùng khác ở Trung Đông, nông nghiệp phụ thuộc vào nước mưa như trong các thung lũng ở Syria, dọc bờ biển nằm gần biên giới giữa Syria và Palestine, nhiều vùng ở Iran và phần lớn đất Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Loại hình nông nghiệp này có nhiều khó khăn và năng suất cũng thấp hơn. Ở Trung Đông, nông nghiệp còn nghèo nàn và kém phát triển ngay cả khi so sánh với các nền nông nghiệp không tưới tiêu ở Trung Quốc và Tây Âu.
Một điểm đáng chú ý của cả vùng là do không có rừng nên không có gỗ. Trong thời cổ xưa, gỗ cây thông tuyết ở Liban đã được dùng để xây đền Do Thái ở Jerusalem. Đến thời Trung cổ Hồi giáo, Trung Đông đã phải nhập gỗ từ châu Phi và đặc biệt là từ Ấn Độ và Đông Nam Á để có gỗ cứng nhiệt đới cần cho xây dựng.
Cây trồng quan trọng nhất lẽ tất nhiên là cây ngũ cóc. Các loại ngũ cốc trồng trước hết là lúa mạch, kê và một loại lúa mì cổ. Thời đầu Trung cổ, người ta trồng nhiều nhất là lúa mì, ngày nay cũng vẫn còn như vậy. Ở một thời điểm không xác định, lúa được du nhập từ Ấn Độ; về sau lan qua Iran và Iraq đến Syria rồi Ai Cập. Vào thời có các cuộc chinh phục của người A- rập ở thế kỷ thứ VII, sách chép rằng khi đến Iraq thì họ mới phát hiện ra cây lúa và, cũng theo chuyện xưa kể lại, đây là một loại cây lạ đối với họ.
Một người viết hồi ký có tham gia vào cuộc chiếm đóng vùng Basra kể lại một câu chuyện kỳ quặc:[1]
Một đội trinh sát tiền tiêu Ba Tư bị quân A-rập tấn công bất ngờ trong đầm lầy nên bỏ chạy để lại hai thúng lương thực, trong một thúng là chà là còn trong thúng kia mãi sau mới biết là lúa chưa xay. Viên chỉ huy A-rập nói với lính: “Chà là thì ăn được còn thứ kia đừng đụng đến vì có thể là thuốc độc quân địch để lại cho các ngươi đó.” Vì vậy quân lính ăn chà là và tránh thúng kia. Nhưng trong khi họ đang ăn thì một con ngựa bứt dây cương và chạy đến ăn lúa. Lính định giết con ngựa để xẻ thịt ăn trước khi thuốc độc ngấm vào nhưng người chủ con ngựa bảo cứ đợi đây nếu phải giết ngựa thì anh ta sẽ làm. Sáng hôm sau, thấy con ngựa vẫn khoẻ mạnh họ bèn đốt đống lúa ấy cho cháy hết trấu và viên chỉ huy nói: “Hãy cầu Allah rồi ăn đi.” Họ ăn và thấy rất ngon.
Sau cuộc chinh phục của người A-rập, việc trồng trọt và tiêu thụ lúa gạo ngày càng được đẩy dần sang phía Tây. Sách sử cũng nói đến các ngũ cốc khác như lúa miến. Các cây lương thực khác gồm các loại cây họ đậu như đậu đỗ, đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu mỏ vv… mà đến ngày nay ở vùng Trung Đông, nhất là ở Ai Cập, vẫn còn là lương thực chính.
Cây có dầu lẽ tất nhiên cũng rất quan trọng. Dầu dùng để ăn, thắp sáng, để chế ra nhiều chất tẩy rửa, đặc biệt là xà-phòng. Cây có dầu chính là cây ô-liu, đây là loại cây trồng nhiều nhất ở Bắc Phi và Trung Đông. Người ta cũng chiết xuất dầu từ nhiều loại hạt có dầu. Một loại cây trồng du nhập từ phương Đông rồi lan sang phía Tây dưới thời Hồi giáo A-rập là cây mía. Ở Ba Tư, người ta gọi cây mía bằng hai tên “sheker” và “qand”, cả hai tên này còn giữ lại trong tiếng Anh hiện đại và chỉ biến cải đi chút ít. Trong thế giới Hy-La, người ta ít biết đến đường mía và nếu có dùng thì chỉ trong lĩnh vực y tế mà thôi. Khi cần thiết, thức ăn và nước uống được pha mật ong cho ngọt. Thời Trung cổ Hồi giáo, mía được trồng để tinh chế thành đường ở Ai Cập và Bắc Phi, và vùng Trung Đông Hồi giáo xuất rất nhiều đường sang châu Âu Cơ Đốc giáo. Nghề trồng trọt và kỹ thuật canh tác cây mía được truyền từ Bắc Phi sang nước Tây Ban Nha Hồi giáo rồi đến các đảo trên Đại Tây Dương và cuối cùng sang đến Tân Thế giới.
Nhiều nơi ở Trung Đông có trồng các loại cây gia vị và nhiều gia vị cũng được nhập từ Nam và Đông Nam Á. Đây cũng còn là một mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Đông sang Tây phương mãi cho đến khi các cường quốc hàng hải châu Âu khai phá rồi khống chế được các tuyến đường biên trực tiếp sang châu Á, bỏ qua Trung Đông. Trong một khí hậu nóng nực, trước khi các kỹ thuật làm lạnh được phát minh thì thực phẩm bị hư hỏng rất nhanh chóng. Muôn bảo quản chúng, nhất là thịt, người ta phải ướp muối và dầm giấm bằng nhiều cách do đó cần đến nhiều gia vị và phụ gia để giữ nguyên mùi vị.
Trong một xã hội phụ thuộc rất nhiều vào gia súc để chuyên chở và lấy thịt thì cây dùng làm thức ăn gia súc cũng rất quan trọng, còn cây công nghiệp cũng rất cần để lấy sợi may quần áo nhẹ trong một vùng đất mà len và da, các nguyên liệu dùng cho may mặc ở xứ lạnh tuy có nhưng lại không thích hợp. Có ba loại cây công nghiệp quan trọng: cây lanh được trồng ở Trung Đông, nhất là Ai Cập, từ thời Thượng cổ, chứng cớ là vải lanh đã được dùng để quấn các xác ướp; sau đến là cây bông, có lẽ từ Đông Á du nhập vào, đầu tiên được thấy ở Ba Tư sau chuyển sang phía Tây; cuối cùng là cây dâu, dùng để nuôi tằm và đã được trồng ở Trung Đông từ thế kỷ thứ VI. Tơ tằm sản xuất từ Ba Tư và Syria rất được ưa chuộng. Các loại cây dùng làm thuốc nhuộm và cây hương vị đóng góp vào việc làm tăng vẻ sang trọng trong cách ăn mặc của các cá nhân.
Có một loại cây công nghiệp không kém phần quan trọng, đó là cây cói làm giấy, một loại cây sậy mọc trên bờ sông Nil dùng làm giấy viết trong vùng Đông Địa Trung Hải cho đến khi được thay thế bằng giấy da và cuối cùng là giấy bản.
Rau quả cũng được trồng khắp nơi. Thời xa xưa, các loại quả chính là vả, nho và chà là. Nho được trồng để lấy quả và cũng để làm rượu và có nhiều trước khi Hồi giáo ra đời hơn là sau đấy. Cây chà là được trồng nhiều trong các ốc đảo và các vùng nửa khô cằn. Phần lớn các cây ăn quả trồng ở Trung Đông đều có nguồn gốc từ phương Đông, từ Ba Tư và xa hơn nữa, thí dụ như đào và mơ. Còn các loại rau như rau bina, cà tím hay ác-ti-sô thì ở phương Tây, chúng vẫn được gọi bằng các tên Ba Tư hay A-rập vì đã được du nhập từ vùng Trung Đông sang Âu châu.
Việc trồng cam, quýt thì có một lịch sử kỳ lạ và chưa được làm sáng tỏ. Trong phần lớn các ngôn ngữ ở Trung Đông ngày nay, cam được gọi là “Portugal” (Bồ Đào Nha) - thí dụ như trong tiếng A-rập là “bortaqal”, tiếng Thổ là “portakal” cùng những từ tương tự ở tận miền Đông như Afghanistan. Lẽ tất nhiên là cam, được trồng từ lâu ở Ấn Độ và Trung Quốc, là do các lái buôn Bồ Đào Nha đưa vào Trung Đông từ đầu thế kỷ XVI. Ba Tư đã có cam, quýt từ lâu, trước khi Hồi giáo ra đời và các tài liệu Ba Tư cũng như truyền thuyết Talmud của Do Thái có nói đến một loại quả quất ăn được gọi là turunj (tiếng Do Thái là ethrog và tiếng A-rập là utruja) có quả nhỏ, hơi chua, có hoa đẹp được dùng để trang trí, làm mỹ phẩm và chế biến thức ăn như làm nước quả lạnh và làm gia vị. Trong tiếng Ba Tư, quả này gọi là narang, do đó tiếng A-rập đọc trại lại là naranj. Ở Bồ Đào Nha và các nước phương Tây, thứ quả ngọt và ăn được này mang những tên xuất xứ từ tên trên. Nhà thơ A-rập ở thế kỷ IX, Ibn al-Mutazz, cũng đã nói đến quả naranj này, ví nó như gò má thiếu nữ. Cũng nhà thơ ấy có nói đến quả chanh, có lẽ được du nhập từ Ấn Độ vào cùng thời điểm này. Việc trồng chanh vàng và chanh xanh đã từ Trung Đông tràn qua châu Âu và cả hai loại vẫn còn mang tên có gốc Ba Tư và Ấn Độ của chúng. Chắc là chúng được đưa từ Viễn Đông sang Trung Đông nhờ các lái buôn cưỡi lạc đà rồi sau đấy du nhập sang châu Âu qua quân Thập tự chinh và những thương nhân đi theo họ.
Người Bồ Đào Nha và những người Tây Âu chắc là đã đưa vào Trung Đông các loại cây gốc châu Mỹ mà ở đây trước đây chưa hề biết đến, như cây thuốc lá, cây ngô, khoai tây và cà chua. Nhà sử học Thổ Nhĩ Kỳ, Ibrahim Pechevi đã viết năm 1635:[2]
Chính bọn ngoại đạo người Anh đã đem thuốc lá, có khói thật hôi thối và buồn nôn, đến vào năm 1009 [1600-1601 CN] để bán nói là dùng chữa vài thứ bệnh do khí trời ẩm ướt gây ra. Những… bọn thích hoan lạc và thích tìm cảm giác…bị nghiện loại này, sau đấy cả những kẻ không thích hoan lạc cũng dùng nó. Rồi ngay cả các nhà giáo lý lớn và những nhân vật quan họng trong xã hội cũng rơi vào cảnh nghiện ngập.
Gần đây, hai loại cây không có nguồn gốc vùng Trung Đông đã mang đến cho vùng này nhiều hậu quả trong đời sống kinh tế, và có lẽ còn nghiêm trọng hơn, trong đời sống xã hội. Một nhà du lịch A-rập, khi kể lại cho độc giả những sự việc huyền diệu ở nước Trung Hoa bí ẩn, có một câu chuyện lạ kỳ:[3]
Hoàng đế có độc quyền sử dụng các khoản thu về muối và về một loại cỏ mà họ uống trong nước nóng, ở thành phố nào cũng có, bán rất đắt và họ gọi nó là sakh. Cây này có nhiều lá hơn cây cỏ ba lá và hơi thơm hơn nhưng cũng hơi đắng. Người ta nấu nước sôi rồi đổ lên nó. Toàn bộ thu nhập của ngân khố nhà nước là từ thuế thân, thuế muối và thuế đánh vào loại cỏ này.
Ít lâu sau, đầu thế kỷ XI, al-Biruni, một tác giả khác rất nổi tiếng, mô tả kỹ hơn và cho nhiều thông tin về ngành trồng trà và tục lệ uống trà ở Trung Quốc và Tây Tạng. Tục lệ uống trà hình như được người Mông cổ đưa vào Iran trong thế kỷ XIII. Tuy nhiên, nó không lan tràn khắp nơi và cũng không truyền xa hơn về phương Tây. Thói quen uống trà trên quy mô lớn chỉ có từ đầu thế kỷ XIX, khi trà được đưa từ nước Nga sang. Mãi đến thế kỷ XX trà mới được trồng trên diện rộng ở cả Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, có lẽ để khỏi phải nhập nhiều cà-phê mà họ không trồng được. Tuy nhiên, ngành trồng trà không phải là quan trọng lắm vì trà chỉ đủ để tiêu thụ trong nước và còn dư ra một ít thì để xuất khẩu. Nơi người ta uống trà nhiều là vùng Tây Maghreb, trà được nói đến lần đầu tiên vào khoảng năm 1700. Chính các thương lái Anh và Pháp là những người đưa trà từ phương Đông đến và họ xem vùng Tây Bắc châu Phi là phần mỏ rộng từ thị trường châu Âu của họ. Được pha với lá bạc-hà, trà trở thành thức uống quốc gia ở Maroc.
Trên toàn bộ vùng Trung Đông, cà-phê là thức uống còn quan trọng hơn nhiều. Có nhiều chứng cớ cho thấy rằng cà-phê có nguồn gốc ở Ethiopia và có thể tên cà-phê xuất xứ từ tên tỉnh Kaffa ở Ethiopia, nơi vẫn còn mọc nhiều ca-phê hoang dại. Từ Kaffa, nó đến Yemen vào thế kỷ XIV và XV. Theo lời một tác giả Ai Cập thì “vào đầu thế kỷ [XVI] này, chúng tôi ở Ai Cập nghe nói có một loại thức uống tên là “qahwa” được phổ biến rộng rãi ở Yemen và các tù trưởng dòng Xu-phi cùng nhiều người khác uống để tỉnh ngủ trong khi họ hành lễ.” Tác giả lại giải thích rằng, chính một du khách khi sang Ethiopia thấy cà-phê dùng rộng rãi ở đây mới đem về Yemen:[4]
Khi trở về lại Aden, anh lâm bệnh và nhớ là có [qahwa], anh bèn uống và thấy khoẻ lên. Anh nhận thấy rằng trong số các tác dụng của nó có việc đẩy lùi sự mệt mỏi và cảm giác thờ thẫn và mang lại cho cơ thể nhiều hưng phấn và nghị lực. Do đó, sau này khi trở thành Xu-phi, anh và những người Xu-phi khác ở Aden đều uống loại thức uống này. Rồi thì ai ai cũng bắt chước theo, cả người có học và người dân thường, tất cả đều uống vì nó giúp cho việc học hành cũng như làm các nghề chân tay và trí óc được tốt hơn, từ đó nó cứ tiếp tục phát triển.
Đúng là nó phát triển thật. Năm 1511, tại thành phố thánh địa Mecca, người ta đã uống cà-phê, rồi chắc là nhờ có những người đi hành hương và các lái buồn mà thói quen uống cà-phê lan về phía Tây, sang Ai Cập và Syria, đến trung tâm đế quốc Ottoman và đến Iran ở phía Đông. Tại Iran, cà-phê trở thành thức uống chính mãi cho đến đầu thế kỷ XV. Khác với trà là mặt hàng mà thế giới phương Tây tiếp cận trực tiếp được với những nguồn cung cấp dồi dào như Ấn Độ và Trung Quốc với giá rẻ hơn và chất lượng cao hơn, thì cà-phê, trong một khoảng thời gian dài, là một đặc sản của Trung Đông.
Những lời bình luận đầu tiên ở châu Âu về cà-phê, về người uống và các quán cà-phê đều có vẻ khinh miệt. Một phái viên của thành Venise tại Istanbul là Gianfrancesco Morosini, năm 1585 có những nhận xét như sau về một quán cà-phê ông đến thăm:[5]
Tất cả bọn ấy đều là dân vô lại, bất lương, đại lãn nên bỏ biết bao nhiêu thời gian để chẳng làm gì cả. Chúng ngồi quanh quẩn ở đấy cả ngày và để tiêu khiển, có thói quen uống cùng nhau, hoặc trong các quán hoặc ở ngoài đường, cả kẻ hèn lẫn người sang, một thứ nước đen đun sôi chiết từ một loại hạt gọi là Cavee mà chúng nói là để giữ cho khỏi buồn ngủ.
Một du khách người Anh, George Sandys, đến Thổ Nhĩ Kỳ năm 1610 lại còn miệt thị hơn nữa: “Ở đây [trong quán cà-phê], họ ngồi tán gẫu cả ngày và nhấm nháp một thức uống gọi là “Coffa”… nóng hết mức chịu được, đen như bồ hóng và cũng chẳng ngon gì hơn…” Tuy nhiên người châu Âu dần dần rồi cũng thích uống và thích đến các quán cà-phê. Cà-phê, chủ yếu là sản xuất ở Yemen, chẳng mấy chốc đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu chính từ Trung Đông sang châu Âu. Đối với các thương lái Ai Cập, vì đồ gia vị không còn buôn được nữa nên đã thay thế bằng cà-phê để xuất sang một thị trường Âu châu đang phát triển. Quán cà-phê đầu tiên ở châu Âu được mở tại Vienna ngay sau cuộc vây hãm lần thứ hai của Thổ Nhĩ Kỳ. Chủ nó là một người Armenia, anh ta xin được độc quyền vì đã có công làm gián điệp nằm vùng cho người Áo sau chiến tuyến Thổ.
Cũng dễ hiểu vì sao trà và cà-phê lại được dân chúng vùng Trung Đông ưa thích và vì sao các quán trà và quán cà-phê trở nên những nơi giao lưu quan trọng trong xã hội. Khác với đạo Cơ Đốc và Do Thái, Hồi giáo cấm uống rượu. Thật ra thì sự cấm đoán này cũng ít hiệu quả và trong thơ ca hay truyện kể có nhiều bằng chứng về việc uống và ngay cả về tình trạng say rượu. Nhưng uống rượu cần phải được giấu giếm hay che đậy khéo léo, thí dụ như trong nhà, cửa đóng then cài hay trong đám dân không theo đạo Hồi vì trong mọt nước Hồi giáo, chỉ những người Hồi giáo mới bị cấm. Trong thơ ca cổ điển A-rập và Ba Tư, các tu viện Cơ Đốc, các tu sĩ hầu lễ và các đạo sĩ Zoroastrianism đều là những biểu tượng thi vị hoá của các quán rượu và người chủ quán. Nhưng những châm chước ấy, ngay cả khi được phép, cũng phải kín đáo và trong các thành phố Hồi giáo thời Trung cổ không hề có cái gì có thể xem là tương đương với các quán rượu ở phương Tây. Chính vì có chỗ trống ấy mà các quán trà và quán cà-phê mới mọc ra. Rất nhanh chóng, người ta nghe ngay những lời phàn nàn về việc các quán cà-phê trở thành những nơi hay tung ra các tín đồn thất thiệt, gây mầm mống phản loạn và nguy hơn cả vì những nơi ấy còn là những sòng bạc.
Kỹ thuật canh tác trong vùng Trung Đông cho đến nay vẫn còn khá thô sơ. Từ thuở xa xưa, người ta đã dùng cái cày gỗ không có bánh xe và ngày nay vẫn còn dùng ở một vài nơi. Cày này thường không có tấm ván làm tơi đất và dùng bò hay lừa kéo, đôi khi dùng trâu, ít khi dùng ngựa. Trong các xã hội sống trong những lưu vực phì nhiêu thì mùa màng rất tốt, đôi khi một năm thu hoạch đến hai hay ba vụ cho nên không có động lực thúc đẩy người nông dân cải tiến kỹ thuật như ở các vùng nghèo, khí hậu khắc nghiệt hơn và đất thịt cứng hơn.
Có lẽ một lý do khác khiến cho ở đây thiếu các sáng kiến kỹ thuật là trong các xã hội này không có được hai yếu tố đặc trưng của châu Âu, đó là các tu viện với những con người có học thức và lòng nhiệt thành cống hiến đời mình cho việc trồng trọt và về sau đó là những nông dân có trình độ. Ở đây không có gì tương đương với loại hình các chủ trang trại ở nước Anh chẳng hạn, sau khi tốt nghiệp đại học, trở về quê quản lý trang trại của mình, đem kiến thức ra phục vụ cho nông nghiệp. Những người có học ở Trung Đông, trừ một số rất ít, đều không thích công việc đồng áng. Nông dân thì không có học và nhìn chung, ở đây thiếu hẳn sự kết hợp giữa kỷ luật trí óc, kỹ năng và lòng tận tuy với nông nghiệp để có được các cải tiến kỹ thuật đáng kể.
Mặc dù thời đại Hồi giáo cổ điển không có đóng góp gì lớn cho việc phát triển kỹ thuật nông nghiệp, ngoại trừ kỹ thuật tưới tiêu, nhưng người nông dân và thương nhân vùng Trung Đông Hồi giáo cũng làm phong phú rất nhiều số giống và chung loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực. Một số loại cây trồng vùng Đông và Nam Á đã tràn sang phía Tây ngay từ thời Tiền Hồi giáo như trong các tài liệu viết bằng tiếng Trung Ba Tư (trước năm 1000) và các tài liệu Talmud Do Thái có nói đến các loại cây trồng xuất xứ từ Đông Á đã có mặt ở nước Ba Tư cổ và ở Iraq. Xa hơn nữa về phía Tây, đôi khi cũng có nhưng lúc ấy chúng lại là những mặt hàng xa xỉ phẩm ngoại lai đắt tiền. Thí dụ như ở thành La Mã cổ, người ta đã biết quả đào mà tên hiện đại của nó là biến cải từ tên La Mã “persicum malum” (táo Ba Tư). Các cuộc chinh phục của Hồi giáo lần đầu tiên đã hình thành một không gian chính trị và kinh tế thống nhất trải dài từ châu Âu ở phương Tây đến biên giới Ấn Độ và Trung Quốc ở phương Đông. Quân binh và du khách Hồi giáo đến vùng Trung Á, thuỷ thủ và thương nhân Hồi giáo vượt biển từ Vịnh Ba Tư đến Ấn Độ và xa hơn nữa chắc chắn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện và du nhập các loại cây trồng mới ấy. Trong thời đại Hồi giáo, những loại cây trồng được đưa từ Iran sang vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu rồi đến Bắc Phi và Âu châu gồm có lúa, lúa miến, mía, bông vải, dưa hấu, cà tím, ác-ti-sô, cam và chuối cùng nhiều loại cây lương thực, cây dùng cho thức ăn gia súc, cây lấy sợi, gia vị và phụ gia và các loại thảo mộc dùng chữa bệnh và làm mỹ phẩm. Các nhà du lịch Hồi giáo thời Trung cổ có mô tả rất nhiều loại cây trồng, mỗi loại có thêm nhiều phân loài nữa. Một báo cáo viết về vùng bờ biển Bắc Phi năm 1400 có nói đến 65 loài nho, 36 loài lê, 28 loài vả và 16 loài mơ.
Người dân vùng Trung Đông thật sự có tài trong vấn đề tưới tiêu, trong việc tổ chức và bảo dưỡng một hệ thống phức tạp gồm các đê điều, hồ chứa nước, sông đào để điều tiết nước lũ của các con sông lớn. Đây không phải trách nhiệm của riêng người nông dân mà của cả các kỹ thuật viên và nhân viên quản lý. Vài sử gia đã thấy trong công tác quản lý tưới tiêu ở những xã hội sống dọc các triền sông, mầm mống của nhà nước quan liêu hiện đại và của các nền kinh tế chỉ huy.
Người ta dùng liềm để gặt hái và để tránh thất thoát ngũ cốc, mùa màng được giã bằng chày tay hay trong các cối xay do nô lệ hay súc vật kéo. Hình ảnh này vẫn còn thấy ở một vài nơi trong vùng.
Ở Ai Cập, người ta không cần bón phân vì hằng năm phù sa sông Nil làm cho đất phì nhiêu trở lại. Ở các nơi khác dù rất cần thiết nhưng lại không có phù sa cho nên đất thường bị bạc màu rất nặng. Ở Iraq quá trình này lại còn nghiêm trọng hơn do nước mặn từ các dòng sông thâm nhập vào đất. Khi đất nước có hoà bình thì người ta có thể tiến hành rửa mặn nhưng trong chiến tranh thì đất bị bỏ mặc cho muối biển thâm nhập. Thường thì nông dân trồng trọt một năm rồi để đất hoang hoá năm tiếp theo, trừ các vùng gần sông ngòi thì mới đủ nước trồng trọt mỗi năm một vụ.
Ngay từ thời Thượng cổ, đã có vấn đề đất đai bị xói mòn và trong thời Trung cổ hay cả ngày nay vấn đề ấy vẫn còn đặt ra. Mỗi khi trật tự xã hội bị đổ vỡ, người du mục tiến từ sa mạc vào vùng trồng trọt và kết quả là đất trồng trọt bị sa mạc hoá ngày càng nhiều.
Quá trình này có thể xảy ra bằng nhiều cách. Trong những giai đoạn có loạn lạc, rừng phòng hộ để ngăn sa mạc bị phá huỷ và sa mạc tiến dần vào vùng đất trồng trọt. Ngoài ra cũng có một yếu tố phá hoại nhìn thấy rõ hơn, đó là việc nuôi dê. Không như cừu chỉ gặm cỏ, dê thường đào bới làm lớp đất trên cùng bị xới lên, đất không còn chắc nữa và dễ bị gió cuốn đi. Dê cũng hay ăn vỏ cây làm cho cây chết khô, không còn gì chắn gió nữa nên mặt đất dễ bị huỷ hoại. Vì các nguyên nhân này thêm vào nhiều yếu tố khác, cho nên đất đai trong vùng bị xói mòn rất nhiều; nếu ta đem so sánh diện tích đất trồng trọt ngày nay với diện tích trước kia do khảo cổ học phát hiện thì ta phải rùng mình. Vào thế kỷ XIV, Ibn Khaldun đã viết rằng, ngay cả vào thời ông “đâu đâu cũng thấy cảnh tàn hoang” trên đất Bắc Phi, nơi mà ngày xưa đã có “một nền văn minh phồn thịnh, chứng cớ còn lại là các vết tích của bao nhà cửa, tượng đài, hay những đống gạch vụn mà trước đây là làng mạc, thành thị.”[6]
Qua các số liệu về thuế khóa và các chứng cớ khác, người ta nhận thấy từ thời La Mã trở về sau đã có sự suy giảm toàn diện trong năng suất nông nghiệp và trong thu nhập từ nông nghiệp đưa lại. Quá trình này có vẻ đã khá nghiêm trọng khi người A-rập bắt đầu đi chinh phục. Sau khi có tiến bộ trong một thời gian ngắn nó lại tiếp tục ở thời Trung cổ Hồi giáo. Có nhiều dấu hiệu về sự suy giảm ấy. Các bằng chứng khảo cổ học như các giếng nước hay nông trại bị bỏ hoang, các ruộng bậc thang bị sụp đổ, các làng mạc tiêu điều ở nhiều nơi thuộc Trung Đông và Bắc Phi đã được khẳng định thêm qua những tài liệu và sách vở nói về việc sản lượng nông nghiệp kém cỏi kéo theo suy giảm trong thu nhập. Những thay đổi này đi song song với việc dân số giảm dần, với việc người ta bỏ nông thôn lên thành phố vì sưu cao thuế nặng lại bị bọn người cho vay nặng lãi o ép cùng nhiều lý do bất an tương tự.
Chắc chắn một yếu tố quan trọng gây nên việc sản lượng nông nghiệp ít dần đi là do cả chính phủ lẫn giới thượng lưu và ngay cả tôn giáo ở một chừng mực nào đó, đều ít tôn trọng nghề trồng trọt và những người làm nghề này. Hồi giáo ra đời trong một thành phố nằm trên đường đi của những đoàn lạc đà chở hàng hoá và Đấng Tiên tri thuộc một gia đình thương nhân. Sau khi ông qua đời, những người kế tục ông đã chinh phục được một đế quốc rộng lớn và họ cai quản và khai thác đế quốc ấy nhờ một mạng lưới các thành phố đóng quân rải rác khắp mọi nơi. Các thành phố nay nhanh chóng trơ thành những trung tâm văn hoá và giáo dục Hồi giao trong khi nông thôn còn giữ nguyên các tôn giáo cũ thời Tiền Hồi giáo. Sau đó, ngay cả nông dân cũng quy theo và hội nhập vào Hồi giáo, nhưng các dấu vết cũ vẫn còn đấy rồi đến khi Hồi giáo chinh phục Ấn Độ và Balkan, quá trình cũ lại được lặp lại, nghĩa là sự hình thành một lớp thị dân theo Hồi giáo cai quản những nông dân không theo Hồi giáo. Trong số các truyền thuyết gán cho Đấng Tiên tri có nhiều bài ca ngợi nghề buôn và rất ít biểu dương nông nghiệp. Cũng theo chiều hướng ấy, Thánh luật Hồi giáo Sharia chủ yếu quan tâm đến đời sống và các vấn đề của dân thành thị mà nó khảo sát, bàn luận và xử lý trong từng chi tiết nhỏ. Luật pháp Hồi giáo rất ít quan tâm đến số phận của nông dân, có chăng cũng chỉ để bắt họ đóng thuế. Tình hình lại càng tồi tệ hơn khi nhà nước tăng cường kiểm soát kinh tế, khi đất đai trồng trọt lại trong tay các sĩ quan quân đội đã ít hiểu biết về nông nghiệp lại không quan tâm đến sự phồn thịnh về lâu về dài của cơ ngơi của mình.
Phần lớn đất đai trong vùng thuộc loại nửa khô cằn bạc màu, không thích hợp cho nông nghiệp, ngay cả trồng cỏ cho súc vật ăn cũng không được, chỉ đủ để chăn thả cừu, dê. Chúng cho thịt, lông và da, ngoài ra còn là nguồn cung cấp sữa chua và phô-mai, là những thức ăn quan trọng ở Trung Đông. Từ hàng nghìn năm trước, ở đây đã hình thành một nền văn hoá chăn nuôi du mục, đến khi có một ngành nông nghiệp thô sơ xuất hiện thì cũng là lúc một nền văn minh ra đời. Du mục trên lưng lạc đà đã phổ biến ở đây từ thời tiền sử, đó là một đặc điểm của cuộc sống và nền kinh tế của người Bedouin. Lạc đà là phương tiện chuyên chở chính cả trong chiến tranh và trong hoà bình. Vùng Trung Đông cổ không có nhiều ngựa nhưng chúng rất được ưa thích và được biết đến bằng tên và nguồn gốc từng con. Sau khi Hồi giáo nổi lên, các nhà chọn giống A-rập, sử dụng nguồn giống Ba Tư và By-dăng đã tăng mạnh số lượng đàn ngựa và chăn nuôi nhiều trên các thảo nguyên. Ngựa là loài vật rất quan trọng đối với dân du mục trên các thảo nguyên nằm giữa châu Âu và châu Á. Còn súc vật nuôi để lấy thịt, để lấy sức kéo hay để làm cảnh thì rất ít. Lợn là con vật chăn nuôi rất quan trong trong các nền văn minh khác thì ở đây lại không có do các cấm đoán của đạo Hồi, cũng như của đạo Do Thái. Nhiều sử gia còn cho rằng giới hạn của cuộc bành trướng Hồi giáo được xác định nhờ con lợn. Những vùng đất như Tây Ban Nha, Balkan và Tây Trung Quốc đã bị người Hồi giáo đến xâm chiếm và đô hộ trong nhiều thế kỷ, thế nhưng đạo Hồi vẫn không bén rễ được trong đám dân chuyên nuôi lợn và thích ăn thịt lợn ở đây. Gà vịt được nuôi để lấy thịt và trứng. Các nhà chăn nuôi ở Ai Cập (và có lẽ ở nhiều nơi khác nữa) đã làm cho nhiều người phương Tây phải kinh ngạc khi lần đầu, họ tiếp xúc với kỹ thuật mới của người Hồi giáo. Nhà du lịch Pháp, Jean de Thévenot đến Ai Cập vào năm 1655, có nhận xét:[7]
Những điều kỳ lạ mà tôi chứng kiến ở Caire [Cairo], là cách ấp trứng gà nhân tạo. Cứ như truyện ngụ ngôn khi thấy gà con nở ra mà không có gà mái ấp và còn hay hơn nữa là gà con được bán ra từng đấu. Vậy mà cả hai chuyện đều có thật, cách họ làm là như thế này: họ cho trứng vào lò đốt hơi âm ấm, chỉ bằng độ nóng thiên nhiên và gà con cứ thế mà hình thành và nở ra. Họ đốt lò ở một nhiệt độ rất thấp, chỉ dùng tro nóng của phân bò hay phân lạc đà đặt vào miệng lò, hằng ngày họ thay tro, cho tro nóng mới vào thay tro cũ. Có người cho rằng việc này chỉ có thể làm ở Ai Cập do khí hậu nóng ỏ đây; nhưng Đại Công tước thành Florence cho mời một người làm nghề này đến và cũng ấp trứng được thành công chẳng khác gì bên Ai Cập. Tôi nghe nói là bên Ba Lan, họ cũng làm được như vậy.
Thévenot cũng nói thêm là phương pháp ấp trứng nhân tạo này về sau được du nhập và sử dụng rộng rãi ở châu Âu.
Ở Tây Âu, nông nghiệp thường đi đôi với chăn nuôi và lẽ tất nhiên là một người đảm đương cả hai việc này. Trong vùng Trung Đông, từ thuở xa xưa đã có sự phân biệt và xung đột giữa nông dân và dân du mục. Trồng trọt và chăn nuôi là hai nghề khác biệt và đối kháng với nhau. Người nông dân có thể nuôi một vài con vật để dùng riêng cho mình, nhưng việc chăn nuôi súc vật dùng để vận chuyên hay để giết thịt, đại loại vẫn là việc của người du mục. Việc phân chia lao động này thường dẫn đến những mâu thuẫn về quyền lợi có hại cho cả hai bên. Ngay trong truyện kể lâu đời nhất của vùng Trung Đông mà ngày nay còn lưu truyền lại, ta đã thấy xuất hiện mối xung đột này, đó là câu chuyện giữa Cam và Abel. Mỗi người trong hai anh em này cúng Trời bằng sản phẩm của mình, một người cúng súc vật quay, đó là người chăn nuôi; người kia cúng hoa quả, đó là người trồng trọt. Thần Pentateuchal thiên vị cho người chăn nuôi. Thần nhận lễ vật của anh ta và từ chối không lấy hoa quả của người trồng trọt. Vì ghen tức, Cain, người nông dân giết Abel, người du mục. Nhưng trong lịch sử Trung Đông, sự việc thường ngược lại; chính người nông dân hay bị người du mục đến cướp bóc. Đất đai trồng trọt ở Trung Đông nơi nào cũng nằm gần sa mạc và dân du mục thường tấn công mỗi khi thấy các biện pháp phòng ngự do chính quyền lập ra có dấu hiệu yếu đi. Và bên kia bờ Bắc và Nam của những vùng đất văn minh, trong các thảo nguyên Âu-Á hay trong các sa mạc Arabia, là những công quốc hay vương quốc của người du mục chỉ chờ thời cơ để trở thành các đế quốc.
Cả nông nghiệp và chăn nuôi đều cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và đặc biệt là cho ngành công nghiệp chính thời Trung cổ là ngành vải sợi. Vải sợi xuất khẩu sang châu Âu quan trọng đến nỗi nhiều tên chỉ các loại vải đều có xuất xứ từ Trung Đông — các địa danh như vải muxơlin (mushn từ Mosul), vải hoa nổi đamát (từ Damascus), hay các từ kỹ thuât như the, lượt, ga (qazz), vải len môhe angora (mukkhayyar), lụa trơn taffeta (từ tiếng Ba Tư taftah). Hàng vải sợi được làm ra và xuất khẩu còn gồm cả thảm dệt, gối thêu, vải bọc bàn ghế và áo quần. Nông dân thì cung cấp sợi lanh và sợi bông còn người du mục cung cấp len và da thuộc. Một nguyên liệu quan trọng khác là gỗ, vì thiếu hụt nên đắt tiền và phần lớn là hàng nhập.
Lẽ tất nhiên là khoáng sản cũng rất quan trọng. Nó gồm cả đá, đất sét … đào lên từ mặt đất và kim loại lấy ra từ các mỏ. Trong thời tiền sử, vùng Trung Đông đã sản xuất vàng, bạc và đồng. Đồng thau được chế tạo trong vùng Đông Lưỡng Hà từ thế kỷ thứ III và ở Ai Cập trong thế kỷ thứ II. Kẽm được nhập từ các “đảo kẽm” xa xôi, tức là từ Cornwall, còn sắt từ nhiều nơi trên miền Bắc như Armenia, Transcaucasia và vùng Đông Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Nhiều mỏ kim loại ở Trung Đông đã cạn kiệt từ thời Thượng cổ nên các nước Hồi giáo phải nhập ngày càng nhiều từ các tỉnh ngoại vi hoặc xa hơn nữa.
Một vài mỏ kim loại còn sót lại ở những vùng ngoại vi như Armenia, Iran, Thượng Ai Cập và Sudan; khu vực giữa Trung Đông như vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu và Ai Cập thì còn rất ít mỏ. Vàng và bạc phải nhập từ nơi khác về. Việc tìm kiếm những kim loại quý ấy và việc mở đường chuyên chở chúng thường có những ảnh hưởng lớn lao trên các sự kiện. Một trong những nguồn cung cấp vàng lớn nhất cho thế giới Hồi giáo là các mỏ nằm ở châu Phi, đặc biệt là trong khu vực Allaqi tại Aswan trên vùng biên giới giữa Ai Cập và Sudan. Chắc chắn là một trong những động cơ thúc đẩy người Hồi giáo tiến xuống miền Nam Sahara là để có vàng và bạc. Bạc thì tìm được ở nhiều nơi, đặc biệt là trên các lãnh Thổ cũ của triều Sasanid.
Kỹ thuật công nghiệp thì còn thô sơ. Trừ vài ngoại lệ, nguồn năng lượng duy nhất là sức người và sức động vật. Người ta có chế tạo vài thứ máy tự động nhỏ nhưng chủ yếu là để làm đồ chơi. Ngoài ra, các máy móc chỉ gồm các cối xay và máy phóng hoả tiễn. Cối xay chạy bằng sức gió hay sức nước đã có từ lâu và đến nay vẫn còn dùng. Tuy nhiên, chúng không có nhiều như ngay cả ở phương Tây lúc bắt đầu thời Trung cổ và chỉ dùng để dẫn nước tưới hay để xay lúa chứ không được sử dụng cho công nghiệp. Các máy móc khác gồm có máy phóng đạn hay các vũ khí tương tự dùng trong chiến tranh để phóng các bình chứa chất lỏng xuống đốt cháy các thành phố hay tàu bè quân địch. Cho đến cuối thời Trung cổ, khi súng được nhập về từ châu Âu, các máy phóng này hoạt động nhờ sức bật, sức xoắn, hay đòn bẩy trong giai đoạn kỹ thuật tiến bộ nhất, tức là nhờ các chuyên động của quả trọng và quả đối trọng. So với các kỹ thuật trước, kỹ thuật này cho phép phóng đạn lớn hơn, mạnh hơn và đi xa hơn. Các vũ khí chiến tranh khác như gươm, dao, khiên, áo giáp, và phóng pháo (như máy bắn đá, máy phóng tên) chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất công nghiệp và trong thương mại quốc tế.
Một lý do rõ rệt về việc thiếu tiến bộ trong sản xuất năng lượng là không có nguyên liệu thích hợp - ở đây chẳng có gì có thể tương đương với củi đốt, than củi và than đá ở Tây Âu và cũng không có nhiều sông ngòi và thác nước để tạo ra thuỷ lực. Lẽ tất nhiên là có dầu mỏ nhưng chỉ trong tương lai xa vời, người ta mới tìm ra bí quyết khai thác và sử dụng nó. Trong các thời Thượng và Trung cổ, dầu mỏ chỉ thu hoạch được khi nó tự trong lòng đất phun ra. Trong nước Ba Tư theo đạo Zoroastrianism, dầu mỏ được dùng để đốt lửa thờ trong các ngôi đền. Trong các đế quốc By- dăng và Hồi giáo, người ta lấy dầu mỏ để chế biến các hỗn hợp gây nổ dùng trong chiến tranh.
Sau áo quần thì nhà ở là một nhu cầu đâu đâu cũng cần, nhiều ngành công nghiệp được phát triển để cung cấp vật liệu xây dựng, đồ dùng trong nhà và các vật liệu toang trí các công trình tư và công. Dân thành thị cũng cần nhiều thứ như nồi niêu xoong chảo và các dụng cụ khác trong nhà bếp cũng như xà phòng, nước hoa, thuốc bôi dẻo và đương nhiên là các vật dụng văn phòng như mực, giấy da, giấy cói và về sau là giấy bản.
Ngành vận tải trong các nền văn minh khác đóng một vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy sản xuất công nghiệp, nhưng trên đất Hồi giáo ngành này lại không quan trọng lắm. Có lẽ vì thiếu gỗ và kim loại nên người ta ít đóng và dùng xe có bánh, do đó đường sá cũng chẳng có nhiều. Đôi khi sách có nói đến các xe có bánh, cũng mô tả và có thể vẽ hình chúng nhưng thật cũng chỉ xem chúng như những vật hãn hữu. Vào thế kỷ XIV, Ibn Battuta, rời quê hương Maroc đi du lịch ngang qua Trung Đông đến tận vùng Trung Á, thấy xe có bánh do người Thổ trên các thảo nguyên điều khiển và ông cho đó là điều đáng được nói đến và mô tả. Còn ở thế kỷ XVIII, Volney, một nhà du lịch Pháp nhận xét:[8]
Điều đáng chú ý là trong khắp nước Syria không hề thấy có xe cộ gì cả; có lẽ họ sợ bị nhân viên chính phủ tịch thu và như vậy mất ngay một khoản tiền lớn chăng?
Vận tải thường bằng súc vật kéo hay bằng đường thủy. Lạc đà đã được thuần hóa từ thiên niên kỷ thứ II TCN, là một con vật có thể mang đến 600 kg, đi một ngay 350 km và liên tục trong 17 ngày không cần uống. Không phải ở đâu cũng có thể dùng lạc đà được. Trong vùng có khí hậu ẩm ướt như ở Balkan, rất nhiều lạc đà được đưa từ Anatolia và Syria đến để chở lương thực và vũ khí đạn dược cho quân đội Ottoman đã ngã bệnh và chết hàng loạt, do đó làm chậm bước tiến của các đoàn quân. Nhưng trong một khí hậu nóng khô như ở Trung Đông, việc dùng lạc đà tỏ ra tiết kiệm hơn nhiều so với bất kỳ một hệ thống xe cộ, đường sá nào. Ngay cả những con lừa hèn mọn cũng tỏ ra khá thích hợp cho việc chuyên chở người và hàng hoá trên những đoạn đường ngắn. Trái lại, vận tải bằng đường thuỷ đã được biết đến từ xưa và công nghệ đóng tàu được phát triển trên một bình diện lớn để cung cấp phương tiện chuyên chở trên Địa Trung Hải và trên vùng biển phía Đông cũng như trên các sông ngòi nội địa. Các nhà sử học La Mã đã tính rằng chở một xe lúa mì trên 100 km theo đường bộ trong đế quốc La Mã còn đắt hơn là chở bằng đường biển từ đầu này đến đầu kia Địa Trung Hải. Trong thời đại Hồi giáo chắc cũng gần giống như vậy.
Hình thức sản xuất thường gặp, đặc biệt trong ngành vải sợi, là quy mô gia đình, người thợ thủ công hành nghề tại nhà, có lẽ cùng với gia đình mình hay trong một xưởng nhỏ. Sản xuất chủ yếu chỉ để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, gia đình hay địa phương; chỉ một vài mặt hàng, quan trọng nhất là thảm len, mới đạt đến mức xuất khẩu ra thị trường thế giới. Nhiều khi các cơ sở công nghiệp quy mô lớn hơn cũng được phát triển. Có những tài liệu từ thời Trung cổ ở Ai Cập cho thấy thợ dệt vải lanh làm việc cho một ông chủ và được trả lương hằng ngày. Đối với ngành mía đường, một ngành công nghiệp quan trọng khác ở Ai Cập, người ta cũng thấy có cách tổ chức tương tư. Nhà nước cũng can thiệp vào công nghiệp bằng nhiều cách, đôi khi đứng ra bảo trợ để khuyến khích phát triển, có lúc nhà vua đầu tư bằng tiền của mình, cũng có lúc nhà nước lập ra các độc quyềnn sản xuất.
Độc quyền nhà nước quan trọng nhất là tiraz. Trong tiếng A-rập đây là một loại gấm vóc hay vải thêu mà chỉ nhà vua mới có quyền mặc hay ban phát cho người khác. Ngoài vua thì những người được vua khen thưởng cũng có quyền mặc. Cuối cùng, tiraz trở thành một hệ thống khen thưởng và một loại huân chương. Vì có tính chất đặc biệt như vậy cho nên trong các thế kỷ đầu, nghề sản xuất tiraz là một độc quyền tuyệt đối của nhà nước. Các xưởng dệt tiraz là các cơ sở quốc doanh, giám đốc cơ sở này do nhà nước bổ nhiệm. Về sau, cơ chế này được mở rộng. Ngành vũ khí nhiều khi cũng do nhà nước kiểm soát, thí dụ như ngành đóng tàu chiến hay chế tạo một số vũ khí.
Đôi khi, nhà nước can thiệp vào đời sống kinh tế qua việc định giá. Đây đã là một biện pháp có từ xưa, đặc biệt là dưới triều hoàng đế La Mã Diocletian, có lẽ là người đầu tiên quy định giá cả trên một phạm vi rộng lớn. Mặc dù có một hadith (lời truyền) được xem là của Đấng Tiên tri và nói rằng: “Chỉ có Thượng đế mới có quyền định giá” - một bằng chứng rất hùng hồn cho học thuyết kinh tế tự do - các nhà chức trách Hồi giáo thường cố gắng quy định một cái “giá phải chăng”, theo cách nói của các nhà kinh tế thời Trung cổ. Những chính sách như thế hầu như khi nào cũng gặp thất bại. Một vài vua chúa còn đi xa hơn việc định giá bằng cách lập những độc quyền. Đặc biệt là trong giai đoạn cuối của triều đại Mamluk ở Ai Cập, chính phủ hình như ngoại suy từ việc đánh thuế ngành buôn bán hạt tiêu, cho rằng nếu hằng năm thu được nhiều tiền thuế như vậy thì cứ việc kiểm soát hết ngành này, lúc ấy vơ vét được hết lợi nhuận chứ không phải chỉ là một phần do các thương gia hạt tiêu đóng vào. Đặc biệt là vua Mamluk Barsbay (1422-1438) đã thi hành rất triệt để chính sách độc quyền. Kết quả là ngành buôn bán quá cảnh bị sụp đổ và đây là một nguyên nhân chính thúc đẩy người Bồ Đào Nha tìm đường hàng hải vòng qua châu Phi.
Trong công nghiệp cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, một phát triển quan trọng của thời đại Hồi giáo là sự kết hợp hài hoà giữa kỹ thuật và truyền thống thuộc nhiều vùng khác nhau, của một bên là nền văn minh cổ từ thế giới Đông Địa Trung Hải và bên kia là thế giới Iran; các đồ gốm Hồi giáo với một vẻ đẹp mới chính là kết quả của sự kết hợp này. Vào thế kỷ XIII, các cuộc xâm lược lớn của người Mông cổ lần đầu tiên đã thu Đông và Tây Á về một mối, và đem lại cho Trung Đông, đặc biệt là Ba Tư các thị hiếu và kiểu cách của vùng Viễn Đông.
Việc tìm tòi và khai thác kim loại đã khuyến khích và tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển một hệ thông phân phối và trao đổi rộng rãi. Việc đồng thời sử dụng hai loại tiền, tiền vàng trong các lãnh thổ By-dăng cũ và tiền bạc trong các lãnh thổ Sasamd trước đây đã dẫn đến một nền kinh tế song bản vị và một hệ thống chuyển đổi tiền tệ. Vì cần phải phát triển một nền thương mại rộng khắp trên một lãnh thổ bao la mà một giới chuyên nghề đổi tiền đã ra đời trong tất cả các trung tâm thương mại lớn, cuối cùng dẫn đến việc phát triển một hệ thống ngân hàng tinh vi và có chi nhánh khắp nơi.
Tìh hình trong thế giới Hồi giáo thời Trung cổ là cơ hội thuận tiện có một không hai để phát triển một ngành thương mại rộng lớn giữa những vùng nằm cách xa nhau. Lần đầu tiên trong lịch sử, một vùng đất bao la gồm nhiều nền văn minh khác nhau, trải dài từ Maroc qua Bắc Phi đến tận Trung Đông và sáp sát biên giới Ấn Độ và Trung Quốc — về sau còn đi xa hơn nữa - đã được thống nhất trong cùng một hệ thống chính trị và văn hoá, trong một khoảng thời gian lại còn dưới một chính quyền trung ương duy nhất. Tiếng A-rập được sử dụng ở khắp mọi nơi, ít ra cũng như một công cụ truyền thống quốc tế và liên vùng; từ đầu này đến đầu kia thế giới Hồi giáo ai ai cũng biết tiếng A-rập, nó chính là một công cụ truyền thống vừa tế nhị, vừa phong phú lại vừa tinh vi.
Kinh Cô-ran có nói: “Thượng đế cho phép người ta mua bán… nhưng cấm cho vay nặng lãi… những ai [sau khi bị cảnh cáo] vẫn làm nghề cho vay nặng lãi sẽ bị mãi mãi đốt trong lửa địa ngục…” (2:275). Việc cấm cho vay nặng lãi đã được Kinh Cô-ran nêu lên với những lời lẽ mạnh mẽ, sau đó lại còn được nói rõ trong cả các truyền thuyết và lời bình luận, có đoạn còn nói rằng chỉ cần cho vay nặng lãi một lần cũng có tội hơn ba mươi ba lần phạm lỗi thông dâm. Sự cấm đoán này rất được người Hồi giáo tôn trọng, và ngay cả ngày nay, những người ngoan đạo rất khó tham gia vào các hoạt động ngân hàng và đầu tư. Một số lớn các nhà thần học và luật gia giải thích việc cấm đoán này như là phải áp dụng cho tất cả lợi nhuận chứ không phải chỉ cho những khoản tiền lời quá mức; đây là một quy tắc mà khi được áp dụng chặt chẽ sẽ ngăn việc phát triển tín dụng và qua đó phát triển thương mại ở quy mô lớn. Trong vấn đề này cũng như trong nhiều vấn đề khác, các thương nhân và luật gia đã tìm ra những mưu kế - từ kỹ thuật của nó là hila shariyya (thủ thuật hợp pháp) - để vừa không phạm pháp trên hình thức mà vừa có thể tổ chức các hoạt động tín dụng, đầu tư, góp vốn và ngay cả các dịch vụ ngân hàng.
Một nghĩa vụ cơ bản quy định trong đạo Hồi là việc hành hương đến Mecca (hajj) mà người Hồi giáo nào cũng phải thực hiện ít nhất là một lần trong đời mình; chính việc hành hương lại là một nhân tố đóng góp rất nhiều cho phát triển thương mại giữa những vùng đất cách xa nhau. Cuộc Đại Hành hương, tổ chức hằng năm, đã quy tụ rất nhiều người Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đến cùng một thánh địa, cùng nhau tiến hành nhiều nghi thức tế lễ, do đó chắc chắn là đã tạo ra và duy trì một ý niệm về một bản sắc chung.
Thế giới Hồi giáo cũng có những tập tục địa phương, nhiều khi rất đậm nét, nhưng hầu như từ những ngày đầu đã có một tính thống nhất thể hiện qua các giá trị, các chuẩn mực và các tục lệ xã hội ở các nền văn minh thành thị của đạo Hồi mà trong thế giới Cơ Đốc giáo cùng thời Trung cổ không hề có. Rashid al-Din có nói: “Người Franks nói đến 25 thứ tiếng, nhưng chẳng dân tộc nào hiểu được tiếng của dân tộc khác.”[9] Đây là lời bình luận tự nhiên của một người Hồi giáo quen với tính thống nhất về ngôn ngữ trong thế giới Hồi giáo, với hai hoặc ba ngôn ngữ chính không phải chỉ dùng trong giới nhỏ hẹp của các tu sĩ, như tiếng Latin ở Tây Âu, mà còn là một công cụ truyền thông hữu hiệu và rộng khắp, thay thế cho các thổ ngữ và tiếng địa phương ở mọi tầng lớp dân chúng, chỉ trừ ở tầng lớp thấp nhất. Nhờ có tính cơ động không những chỉ trong không gian mà cả trong các lĩnh vực xã hội và trí tuệ chưa bao giờ có được trong các thời cổ đại và Trung cổ, thế giới Hồi giáo đã phát triển được một mạng lưới giao thông rộng khắp cả trên đường bộ và trên đường thuỷ.
Cả hai phương tiện giao thông này đều nguy hiểm do nạn cướp bóc trên bộ và hải tặc trên biển, và cả hai đều chậm chạp và khó khăn, lại còn tốn kém nữa dù so với đường bộ thì đường thủy rẻ hơn nhiều. Vì những lý do ấy, việc buôn bán đường dài chỉ giới hạn trong một số ít mặt hàng cao giá để có thể bù đắp được những rủi ro gặp phải.
Vì vậy cho nên lương thực, mặt hàng mà ngày nay giữ một vị trí quan trọng đến thế, thì trước kia lại ít được để ý đến. Lương thực thường có giá rẻ và phải chuyên chở với một số lượng lớn cho nên được xem là chẳng bõ công vì giá thành cao, lợi nhuận thấp và có nhiều rủi ro. sản xuất lương thực gần như là chỉ để tiêu thụ ở địa phương mà thôi. Buôn bán đường dài tập trung chủ yếu vào ba mặt hàng vì hiếm và cao giá nên có thế gánh chịu được các rủi ro và nhọc nhằn khi phải chuyên chở bằng tàu thuyền hay bằng đoàn lạc đà trên những đoạn đài. Các mặt hàng ấy là các khoáng sản cần thiết, người nô lệ và hàng xa xỉ phẩm.
Cây lương thực có thể trồng ở địa phương và rất ít phụ thuộc vào nhập khẩu. Nhưng vàng, bạc và sắt thì phải được nhập với bất cứ giá nào.
Ngành buôn người trên quy mô lớn và trên diện rộng chủ yếu được phát triển trong thời đại Hồi giáo và xuất phát từ những tiến bộ có tính nhân đạo của pháp luật lúc bấy giờ, đó cũng là một nghịch lý của lịch sử. Trong các để quốc co, ngay cả ở giai đoạn đầu của Cơ Đốc giáo, thành phần nô lệ đông đảo được tuyển mộ ngay ở địa phương. Có nhiều nguồn cung cấp nô lệ bổ sung: từ các tội phạm hay người không trả được nợ, từ việc “nuôi” nô lệ ngay từ nhỏ với đám trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi, từ những người tình nguyện bán con cái hay bán mình làm nô lệ. Tất cả những hình thức này đã châm dứt khi có các cuộc chinh phục và khi luật pháp Hồi giáo dần dần được áp dụng. Theo các nguyên tắc do các luật gia Hồi giáo đề ra và được các vua chúa tôn trọng thì điều kiện tự nhiên của nhân loại là tự do. Những thần dân sinh ra tự do trong các quốc gia Hồi giáo, dù theo đạo Hồi hay bất kỳ một tôn giáo khác được cho phép thì không thế bị bắt làm nô lệ do thiếu nợ hay do phạm pháp ngoại trừ làm phiến loạn. Trẻ em bị bỏ rơi phải được xem là người tự do trừ khi có bằng chứng cho thấy chúng thuộc thành phần nô lệ. Con cái của những người nô lệ sinh ra và lớn lên là nô lệ cho đến khi chúng được giải phóng. Người tự do chỉ trở thành nộ lệ nếu họ là người ngoại đạo bị bắt trong các cuộc thánh chiến. Trong trường hợp này cả những kẻ bị bắt và gia đình họ, theo pháp luật được xem là chiến lợi phẩm và là vật sở hữu của người chiến thắng. Trong đế quốc, số dân nô lệ do tăng trưởng tự nhiên không bao giờ đáp ứng được nhu cầu bất tận của xã hội Trung Đông và do đó đã xuất hiện một đường dây buôn bán nô lệ quan trọng với những người nô lệ nguyên là dân ngoại đạo bắt được từ ngoài biên ải. Giá mua nô lệ, đặc biệt là nô lệ nữ trẻ, thì khá cao và mặc dù đây là một mặt hàng dễ hư hỏng, các rủi ro cũng không đủ làm nản lòng khách thương. Giá mua các nô lệ nam trẻ có thể tăng lên rất nhiều nếu họ bị hoạn. Hoạn quan được cung cấp cho cung vua, cho các nhà giàu có và cho một số đền thờ. Pháp luật Hồi giáo cấm việc huỷ hoại thân thể con người, cho nên các hoạn quan được “chế tạo” ngay trên biên giới trước khi nhập vào lãnh thổ Hồi giáo.
Người nô lệ đến từ ba vùng: châu Âu, các thảo nguyên Âu-Á, và châu Phi. Đôi khi có thấy nói đến nô lệ đến từ những vùng xa hơn như Ấn Độ, Trung Quốc và các nơi khác nhưng chỉ là những ngoại lệ hiếm hoi. Nguồn cung cấp nô lệ thường xuyên từ thời Trung cổ đến thời hiện đại là từ ba vùng chính ở trên. Người gốc Xla-vơ ở Đông và Trung Âu là thành phần nô lệ quan trọng nhất ở Tây Ban Nha và Bắc Phi Hồi giáo, từ Xla-vơ (slave) để chỉ họ có nghĩa là nô lệ. Trong thời Trung cổ, ngành buôn bán nô lệ nằm trong tay các con buôn và mối lái Tây Âu. Ở Đông Âu, khi người Ottoman tiến vào vùng Balkan, họ qua mặt được các mối lái trung gian và có được nô lệ Xla-vơ ngay tận nguồn. Một nguồn cung cấp nô lệ Tây Âu tuy nhỏ hơn nhưng không kém phần quan trọng là từ những tên cướp biển vùng Barbary ở Bắc Phi đã từ lâu hoành hành trên các vùng biển và dọc các đường thông thương trên Địa Trung Hải, đến thế kỷ XVII còn mở rộng hoạt động sang Đại Tây Dương. Năm 1627, chúng đột kích vào Iceland bắt đi 242 người đem bán trên chợ nô lệ ở Alger. Ngày 20 tháng Sáu năm 1631, bọn cướp biển Barbary đánh phá một làng chài ở Baltimore nước Ireland. Trong một báo cáo gửi về London, danh sách những người dân Baltimore bị “bắt đi” cùng vợ, con, tôi tớ của họ được liệt kê; cả thảy là 107 người cộng thêm bốn mươi bảy người “bị bắt từ những nơi khác”. Một nhân chứng đương thời, tu sĩ người Pháp là đức cha Pierre Dan, mô tả cảnh họ đến Alger như sau:[10]
Thật thương tâm khi thấy họ bị đưa ra bán tại Alger, vì từ đây thì vợ sẽ phải lìa chồng, cha lìa con. Tôi tự nhủ mình rằng, vậy thì chồng bị bán đi một nơi, vợ một nẻo, đứa con gái thì bị giằng khỏi tay người vợ, chẳng còn bao giờ có hy vọng gặp lại cha mẹ nữa.
Cũng vào khoảng thời gian ấy, các vua chúa Tatar ở Đông Âu hay đánh phá các ngôi làng ở Nga, Ba Lan và Ukraine, mỗi năm bắt đi hàng ngàn nô lệ trẻ - “thu hoạch của thảo nguyên” - để gửi đến Istanbul và bán ở các thành phố của đế quốc Ottoman. Việc mua bán này tiếp tục cho đến cuối thê kỷ XVIII, sau khi người Nga chiếm được Crimea năm 1783 thì mới chấm dứt.
Nhóm nô lệ quan trọng thứ hai là người Thổ trong các thảo nguyên Âu- Á mà ngay từ đầu thời đại Hồi giáo đã chịu số phận này vì bị bắt hay bị mua ở khắp nơi từ Bắc Biển Đen cho đến vùng biên giới Trung Quốc và Mông Cổ. Họ chiếm đa số trong nhóm nô lệ da trắng trên phần phía Đông của thế giới Hồi giáo thời Trung cổ và thường phải phục vụ trong quân đội. Đến khi các thảo nguyên có người Thổ ở quy theo Hồi giáo thì không con tuyển mộ nô lệ ở đây được nữa, nhưng một nguồn mới lại xuất hiện ở vùng Caucasus và rất nhiều nô lệ gốc Gruzia và Circassia cả nam và nữ được nhập nhiều vào đất Ottoman và Ba Tư. Vào phần tư đầu của thế kỷ XIX, khi người Nga chiếm vùng Caucasus thì nguồn nô lệ này cũng bị cạn.
Nhóm nô lệ thứ ba là nhóm người da đen sống ở Nam sa mạc Sahara. Việc buôn bán người nô lệ da đen kéo dài khá lâu. Nô lệ da đen đôi khi xuất hiện từ thời La Mã, đặc biệt là ở Ai Cập đã có nô lệ từ thời cổ đại. Nhưng thường chỉ là ngoại lệ mà thôi. Khi quân Hồi giáo tiến vào châu Phi thì mới có việc bắt và nhập nô lệ trên một quy mô lớn. Nô lệ nhập từ ba đường chính: từ Đông Phi qua đường biển vào Biển Đỏ và Vịnh Ba Tư đến Arabia, Iran va xa hơn nữa, từ Sudan dẫn từng đoàn bằng đường bộ dọc lưu vực sông Nil đến Ai Cập, từ Tây Phi đi lên miền Bắc qua sa mạc Sahara đến vùng bờ biển Địa Trung Hải từ Maroc qua Ai Cập. Nguồn cung cấp nô lệ này cũng sẽ bị cắt một thời gian khi người châu Âu lập chế độ thuộc địa trên phần lớn lãnh thổ châu Phi nhiệt đới. Người nô lệ da đen được dùng cho nhiều mục đích: trong nông nghiệp, công nghiệp, thương mại nhưng chủ yếu là để phục vụ trong gia đình. Mặc dù có nô lệ da đen phục vụ trong nông nghiệp như đào kênh mương ở Iraq, trong khai thác hầm mỏ, nhất là các mỏ muối và mỏ vàng ở Nubia và Sahara và trong một số ngành sản xuất công nghiệp, nhưng nền kinh tế Hồi giáo thời Trung cổ, khác với các nền kinh tế trong thế giới cổ đại, không phải dựa vào lao động nô lệ là chính.
Sau cùng có ngành thương mại các mặt hàng xa xỉ phẩm, khối lượng bé, trọng lượng thấp nhưng giá trị cao và rất được ưa chuộng.
Mặt hàng quan trọng hàng đầu là vải vóc, đặc biệt là các loại vải quý như lụa tơ tằm hay lụa thêu. Trong các thời đại La Mã, By-dăng và Ba Tư vào giai đoạn cuối và Hồi giáo vào giai đoạn đầu, tơ lụa chiếm một địa vị quan trọng trên cả các mặt chính trị và thương mại. Thường thì hoàng gia giữ độc quyền nhập tơ lụa và sau đây là độc quyền sản xuất. Đôi khi nhà vua cũng ban cho các chúa tể man di áo bào may bằng lụa tơ tằm để tỏ lòng ưu ái, cho nên ngành buôn bán tơ lụa lại còn có một ý nghĩa ngoại giao nữa. Vấn đề nhập tơ lụa từ phương Đông trong một thời gian đã là một trong những chủ đề của lịch sử chính trị và quân sự của những vùng có con đường buôn bán này đi qua.
Một mặt hàng quan trọng nữa là hương trầm được nhập, cùng với các hương liệu khác, từ Nam Arabia và những vùng xa hơn nữa về phía Đông. Vì đã được dùng nhiều trong các ngôi đền của thế giới Hy-La và sau đấy trong các nhà thờ Cơ Đốc, bởi vậy hương trầm là một mặt hàng rất quan trọng. Vài sử gia hiện đại đã so sánh vai trò của nó với vai trò của dầu mỏ ngày nay, nó cũng làm cho máy chạy, nói theo nghĩa bóng.
Hồi giáo không dùng hương trầm trong lễ bái, thờ cúng, vậy nên sau khi tôn giáo mới này ra đời, hương trầm không còn quan trọng trong thế giới Hồi giáo nữa, mặc dù nhu cầu vẫn tiếp tục cao ở châu Âu Cơ Đốc. Sau khi ngành buôn bán hương trầm tàn lụi đi thì việc trao đổi gia vị, đặc biệt là hạt tiêu sản xuất ở vùng bờ biển Malabar, lại trở nên quan trọng. Hạt tiêu và các gia vị, phụ gia khác có một thị trường khá rộng ở các nước Hồi giáo và xa hơn nữa, do đó giới thương nhân chuyên buôn bán các mặt hàng này trở nên giàu có và được mọi người kính trọng.
Đá quý cũng là một mặt hàng có lợi thế là nhẹ cân nhưng cao giá. Điều này cũng đúng với ngà voi, các loại gỗ quý hiếm, cả súc vật hiếm mà dưới thời La Mã thường được nhập rất nhiều cho các gánh xiếc.
Trong giai đoạn đầu của thời Trung cổ, nền thương mại ở vùng Trung Đông Hồi giáo trên nhiều mặt đã vượt xa châu Âu vì có thị trường giàu có hơn, rộng lớn và tổ chức quy mô hơn, hàng bán thì nhiều và tiền mua cũng lắm, lại có thêm một mạng lưới quan hệ buôn bán rộng rãi, tinh xảo hơn. Nhưng đến cuối thời Trung cổ thì tình thế đảo ngược. Không như trước đây người ta lầm tưởng, ngành thương mại ở Trung Đông không phải bị phá sản do các hành trình thám hiểm hay do việc người Bồ Đào Nha đặt chân đến châu Á - ngày nay người ta thấy rõ là nó vẫn tiếp tục trong hơn một thế kỷ sau khi Vasco da Gama đến Ấn Độ. Nó cũng không tàn lụi vì việc phát hiện ra các đường hàng hải vượt đại dương, các tác động kinh tế của các phát hiện này chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân của những đổi thay ở Trung Đông. Điều đáng chú ý là người Bồ Đào Nha, một dân tộc nhổ bé trong một nước Tây Âu bé nhỏ lại có thể thiết lập một sự hiện diện trên biển và trong buôn bán ở phương Đông, rồi trong một thời gian còn khống chế được tất cả; trong khi các cường quốc Trung Đông như nước Ai Cập dưới triều Mamluk, nước Thổ Nhĩ Kỳ của người Ottoman, hay nước Iran dưới triều Xa-pha-vít lại không thể huy động sức mạnh kinh tế của mình để cạnh tranh với họ hay sức mạnh hàng hải của mình để đánh bại họ. Các phát hiện hàng hải chắc chắn đã đẩy nhanh nền thương mại Trung Đông xuống vực sâu. Đó không phải là nguyên nhân của sự sụp đổ ấy và các sử gia phải tìm nguyên nhân ở nơi khác.
Sự suy sụp này không chỉ giới hạn trong các vùng lãnh Thổ Hồi giáo. Một quá trình tương tự cũng đang xảy ra toong những vùng đất còn lại của đế quốc By-dăng, và ngay cả ở châu Âu quanh Địa Trung Hải, dù ở mức độ thấp hơn. Nước Italia, nơi mà trước kia có những quốc gia lớn chuyên nghề buôn bán thì nay thua xa các nền kinh tế đang đi lên ở Tây Bắc Âu châu. Cũng không thể nói là sự suy sụp này bắt nguồn từ các tín ngưỡng của đạo Hồi hay cách thi hành Thánh luật Hồi giáo. Trước đây đã có các nhân tố này nhưng thương mại không ngừng phát triển; đế quốc By-dăng và nước Italia không có các nhân tố ấy mà vẫn bị suy tàn không cứu vãn nổi.
Một vài yếu tố có thể dễ dàng nhận thấy. Các mỏ sản xuất và các nguồn kim loại quý hoặc bị cạn kiệt hoặc bị rơi vào tay quân thù làm cho các nước Hồi giáo bị thiếu tiền nghiêm trọng khi mà các đối thủ ở châu Âu của họ lại tìm ra ở châu Mỹ những nguồn vàng bạc mới. Cơn Đại Dịch hạch (Cái Chết màu Đen) toàn cầu và các thiên tai khác giáng xuống cả thế giới Cơ Đốc và thế giới Hồi giáo, nhưng đất Hồi giáo còn chịu đựng nhiều cuộc tàn phá khác, đặc biệt là các cuộc xâm lăng của người Mông cổ hay các huỷ hoại của dân Bedouin thuộc bộ lạc Banu Hilal trên đất Bắc Phi.
Có lẽ về lâu về dài, còn gây mất ổn định hơn các cuộc ngoại xâm là các thay đổi chính trị trong nước và sự lộng hành ngày càng lớn của giai cấp quý tộc quân phiệt không hề quan tâm đến thương mại và cũng chẳng để ý đến sản xuất. Ngay cả các đường thông thương trên Địa Trung Hải cũng bị các thành bang Italia khống chế không cần phải qua chinh phục vũ trang mà chỉ nhờ có các phương pháp thương mại tích cực hơn và hiệu quả hơn. Trừ một vài sản phẩm như đường và sau đó là cà-phê, các ngành nông, công nghiệp Trung Đông không còn khả năng có hàng hoá dư thừa để xuất khẩu, và càng ngày các thương nhân trong vùng càng phải dựa nhiều vào việc quá cảnh hàng hoá giữa châu Âu và Viễn Đông. Việc đổi hướng thương mại ấy là một đòn rất mạnh đánh vào vùng Trung Đông. Trong lúc ấy thì các tiến bộ kỹ thuật, tài chính, thương mại ở Tây Âu đã đem lại cho các thương nhân của họ những phương tiện, tài nguyên và kỹ xảo để khống chế các thị trường Trung Đông và chính tính thống nhất và sự ổn định của đế quốc Ottoman đã giúp họ thâm nhập dễ dàng các thị trường ấy. Quân đội Ottoman làm chủ đất liền, hải quân Ottoman trong một thời gian làm mưa làm gió trên biển cả, nhưng các thương nhân Âu châu đang nắm hết các thị trường một cách êm thấm và không cần vũ lực.
❀ ❀ ❀
[1] Ibn al-Faqih, Mukhtasar Kitab al-Buldan, ed. M. J. de Goeje (Leiden 1885), 1187-188.
[2] Percevi, s. đã dẫn, vol. 1, t. 365.
[3] Akhbar al-Sin wal-Hind, ed. J. Sauvaget (Paris 1948) 1.18.
[4] Trích trong Ralph s. Hattox, Coffee and Coffeehouses: the Origins of a Social Beverage in the Medieval Near East (Seattle, Wah. 1985), t.14-15- 93.
[5] Relazioni degli Ambasciatori Veneti, ed. E, Alberi (Firenze 1855), t. 267-268.
[6] Ibn Khaldun, Al-Muqaddima, ed. E. Quatremère (Paris 1858), vol 1, t. 272; bản dịch của Vincent Monteil, Discours sur Ihistoire universelle (Beừut 1967), vol. 1, t. 298.
[7] Jean de Thévenot, Relation d’un voyage fait au Levant (Paris 1665), bản dịch tiếng Anh của A. Lovell, The Travels of Monsieur de Thevenot into the Levant (London 1687) pt. 1,1.144.
[8] Volney, Voyage en Egypte (Paris 1825) vol. 2, t. 254; Voyage en Egypte et en Syrie (Paris- La Haye 1959), t. 382
[9] Karl Jahn, Die Frankengeschichte des Rasid al-Din (Vienna 1977), fol. 415v (bản tiếng Ba Tư), t. 54 (bản dịch tiếng Đức).
[10] Pierre Dan, Histoire de Barbarie et des Corsaires (Paris 1637), t. 277. Danh sách những người bị bắt trong Calendar of the State Papers relating to Ireland of the Reign of Charles I, 1625-1632, preserved in the Public Record Office, ed. R. p. Mahaffy (London 1900), t. 621-622.