Với việc chiếm đóng Constantinople, mục tiêu mơ ước từ bao đời của quân đội Hồi giáo, con bài cuối cùng đã nằm trong tay người Ottoman. Hoàng đế Mehmed II, từ nay trở đi mang biệt danh là Fatih, Người Chinh Phục, đã nối liền hai châu lục, Á và Phi, mà ông thừa hưởng được và hai truyền thống, của Hồi giáo và của tiền tuyến, đã thấm nhuần vào đất nước ông. Tiểu quốc nhỏ bé của những chiến sĩ chiến đấu trên biên cương nay trở thành một đế quốc, người đứng đầu nó nay là một hoàng đế. Chiến thắng này khắng định đế quốc Ottoman là mũi nhọn của đạo Hồi chĩa thẳng vào phương Tây và mang lại cho nó một uy tín vô cùng lớn lao trong thế giới Hồi giáo.
Trong phần còn lại của đời mình, Hoàng đế Mehmed phát động một loạt chiến dịch quân sự dọc theo các biên giới ở châu Âu cũng như châu Á. Tại châu Âu, quân đội Ottoman bắt các vua chúa Hy Lạp cuối cùng ở Morea phải cúi đầu thần phục, biến Serbia và Bosnia thành những tỉnh Ottoman, và chiếm giữ nhiều đảo của Hy Lạp. Ở châu Á, họ thu hồi Amasra từ tay người Genoa, đuổi tiểu vương đang trị vì khỏi Sinope, đoạt Trebizond của hoàng đế By-dăng. Điều có ý nghĩa lớn là Mehmed từ chối không đưa quân sang miền Đông cũng như đe dọa các vương quốc Hồi giáo. Năm 1473, sau khi đánh bại Uzun Hasan, một vị vua người Thổ của vùng Đông Anatolia và Lưỡng Hà đã dám thách thức, song Mehmed cũng không tìm cách khai thác tiếp chiến thắng ấy. Trong một cuộc nói chuyện mà sử gia thế kỷ XVI là Kemal Pasha Zade có ghi lại, hoàng đế đã nói rõ lý do của mình. Đúng là phải trừng trị Uzun Hasan vì thái độ láo xược của y, nhưng sẽ là sai lầm nếu tiêu diệt dòng giống của y, bởi vì “điều không nên làm là tìm cách huỷ diệt các triều đại cổ xưa của những vua chúa nổi tiếng của nhân dân Hồi giáo”[1]. Nói chính xác hơn là việc này sẽ làm cho hoàng đế không tập trung được vào nhiệm vụ hệ trọng là tiến hành Thánh chiến ở châu Âu.
Tuy nhiên các hoàng đế Ottoman không thể không quan tâm đến các vùng đất ở phía Nam và phía Đông nước họ, nơi đang có những thay đổi lớn xảy ra. Chẳng hạn như việc vương quốc Mamluk bao gồm Ai Cập và Syria từ giữa thế kỷ XIII đang bị suy yếu rõ rệt. Như thế là vương quốc Ai Cập trong những ngày tàn, đang trở thành một By-dăng của người A-rập. Về phía Bắc và phía Đông, trên cao nguyên Anatolia và ở Iran, nơi mà các dân tộc Thổ và Ba Tư đã nắm quyền lãnh đạo Hồi giáo trên các mặt chính trị và văn hoá, thì đang có một nền văn minh mới ra đời, mà ngôn ngữ thông dụng là tiếng Ba Tư và tiếng Thổ. Ở Ai Cập và Syria, mặc dù ảnh hưởng của phương Đông đang ngày càng lớn nhưng trật tự cũ vẫn được duy trì. Nền văn hoá Hồi giáo A-rập ban đầu đang đi vào một thời kỳ phát triển bền vững. Quân lính Mamluk đã bảo vệ được đất nước, giữ cho lưu vực sông Nil khỏi bị rơi vào tay giặc ngoại xâm. Các thư lại và học giả người Ai Cập và Syria, đa số là con cháu những người Mamluk, đảm bảo cho quốc gia hoạt động bình thường, đồng thời duy trì, giải thích và do đó làm phong phú thêm di sản của Hồi giáo cổ điển.
Vương quốc Syria-Ai Cập đã bị suy yếu nhiều do một loạt các nguyên nhân nội tại và ngoại lai như cuộc chiến tranh hao người tốn của chống Timur, tài nguyên cạn kiệt vì quản lý tài chính sai lầm và kinh tế tàn lụi, ảnh hưởng của dịch bệnh, hạn hán, mất mùa và sự tan rã của trật tự và xã hội Mamluk.
Những đòn đau cuối cùng là từ bên ngoài giáng xuống, từ phương Tây và phương Bắc. Đầu tiên là một đòn kinh tế khi người Bồ Đào Nha đến được vùng biển phương Đông. Khi mở ra được những đường hàng hải trực tiếp giưa châu Âu và Ấn Độ, người Bồ Đào Nha đi vòng quanh Ai Cập. Ảnh hưởng lâu dài của tất cả những điều này không phải lớn như người ta tưởng và vào thế kỷ XVI đã có sự phục hồi đáng kể của ngành thương mại qua ngả Cận Đông. Tuy nhiên, hậu quả tức thời lại khá nghiêm trọng và vua Mamluk Qansawh al-Ghawn (1500-1516) phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế do thương mại và thu nhập suy giảm. Được thành phố Venise khuyên khích, ông phái hải quân sang tân Ấn Độ. Lúc đầu thì có chút ít thành công nhưng sau đó hải quân Ai Cập bị phá tan rồi người Bồ Đào Nha bắt đầu đánh chìm một cách có hệ thống tất cả tàu buôn Hồi giáo trên Ấn Độ Dương. Một vài tàu Bồ Đào Nha còn vào tận Vịnh Ba Tư và Biển Đỏ.
Đòn thư hai — đòn chí tử — là một đòn quân sư. Các quan hệ giữa vương quốc Mamluk và Ottoman trong một thời gian có vẻ khá thân thiện. Nhưng trong nửa sau của thế kỷ XV, các quan hệ ấy đã xấu đi đáng kể. Giữa các năm 1485 và 1490, hai nước có nhiều cuộc xung đột nhâp nhằng trong đó quân Mamluk có phần thắng thế.
Nhưng cán cân quân sự đã thay đổi nhanh chóng, lợi thế thuộc về phe Ottoman. Một yêu tố mới có tính chất quyết định là các hoả khí — súng trường và pháo lớn — mà người Ottoman đưa vào sử dụng nhanh chóng, rộng khắp và có hiệu quả. Trái lại, quân Mamluk không sẵn sàng sử dụng các vũ khí này. Khác với đất đai của người Ottoman, lãnh thổ do người Mamluk quản lý có rất ít tài nguyên kim loại, họ thường phải nhập từ nước ngoài. Nhưng nghiêm trọng hơn các khó khăn vật chất ấy là quan điểm tâm lý và xã hội của vua chúa Mamluk, họ khăng khăng níu lấy các vũ khí lỗi thời mà họ cho là “hợp pháp” và “cao thượng”, khinh miệt các hoả khí và những kẻ sử dụng chúng vì không xứng đáng và không nghĩa hiệp. Trong những năm cuối cùng của triều đại, người Mamluk cũng cho sử dụng các hoả khí một cách rời rạc, miễn cưỡng. Họ chỉ trang bị cho những đơn vị được thành lập đặc biệt, gồm toàn nô lệ da đen, hoặc con lai của người Mamluk với thổ dân, thậm chí cả những đội tự vệ gồm thợ thủ công địa phương bắt vào quân ngũ hay cả lính đánh thuê người nước ngoài. Những việc làm này tỏ ra không có hiệu quả và thành phần tinh nhuệ của quân Mamluk gồm lính sử dụng lao, kiếm hay cung nỏ khó lòng đối địch với bộ binh trang bị súng trường và pháo binh Ottoman.
Nhưng trước khi tung ra trận cuối cùng tiến đánh quân Mamluk, người Ottoman đã phải đối đầu với một kẻ thù Hồi giáo khác còn nguy hiểm hơn nhiều. Năm mươi năm sau khi chiếm được Constantinople, vị trí lãnh đạo của người Ottoman đang bị thách thức bởi một đối thủ không phải thuộc phe Cơ Đốc mà thuộc phe Hồi giáo, đó là triều đại Xa-pha-vít của các hoàng đế Iran. Họ được một phong trào Si-i cấp tiến đưa lên nắm quyền rồi lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ, họ xây dựng nên một quốc gia thống nhất và hùng mạnh gồm cả phần đất nằm giữa các nước quanh bờ Địa Trung Hải đến vùng giáp ranh Trung Á và Ấn Độ. Việc thành lập một chính quyền mới đầy tính chiến đấu ở Iran, chịu ảnh hưởng của các lý thuyết Si-i cấp tiến và nằm ngay gần biên giới Ottoman về phía Tây Bắc được xem là một mối đe dọa và cũng là một thách thức đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Nó đem lại một ý nghĩa tôn giáo cho sự cạnh tranh cố hữu mới được nhen nhóm lai giữa các nhà cầm quyền trên hai cao nguyên Anatolia và Iran. Ở Iran vẫn còn hàng triệu người Hồi giáo Sun-ni, có lẽ họ là thành phần đa số. Trên đất nước Ottoman có ít nhất mười vạn người Si-i bị nghi ngờ là có cảm tình với chế độ Si-i mối ở phía Đông, cả hoàng đế Ottoman và hoàng đế (Shah) dòng Xa-pha-vít đều xem nhau là nghịch đạo và tiếm quyền không thể tha thứ được. Mối đe dọa của triều đại Xa-pha-vít đối với người Ottoman lại càng thêm sâu sắc và gần gũi vì gia tộc Xa-pha-vít cũng cùng gốc Thổ và có nhiều người ủng hộ trong đám dân Thổ ở Anatolia.
Phản ứng của người Ottoman đối với hiểm họa đến rất sớm. Năm 1502, hoàng đế Bayezid ra lệnh đầy ải những người Si-i từ Anatolia sang Hy Lạp và huy động quân lính dọc biên giới với Iran. Năm 1511, một cuộc nổi dậy của người Si-i chống chính quyền Ottoman bùng lên ở miền Trung Anatolia. Năm sau, vị hoàng đế già nua thoái vị, nhường ngôi cho con là Selim I (1512-1520) có biệt danh là “Yavuz Selim’’ (Selim Bạo chúa). Chỉ ít lâu sau, cuộc tranh chấp và thù nghịch giữa hai hoàng đế Selim của Thổ Nhĩ Kỳ và Ismail của Iran bùng nổ thành chiến tranh thật sự. Đáng nực cười là trước khi xảy ra chiến sự hai vị hoàng đế trao đổi thư từ với nhau với những lời lẽ ngày càng gay gắt, hoàng đế Ottoman viết bằng tiếng Ba Tư, ngôn ngữ của những con người lịch sự, có học thức; còn hoàng đế Iran thì dùng tiếng Thổ, giọng quê mùa, cộc lốc của bộ lạc ông.
Chiến tranh kết thúc với thắng lợi của người Ottoman, mặc dù có tính quyết định nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Ngày 23 tháng Tám năm 1314, trên cánh đồng Chaldiran gần biên giới giữa hai đế quốc, lính janissary và pháo binh Ottoman đánh tan quân Iran, và ngày 7 tháng Chín hoàng đế Ottoman chiếm được Tabriz, thủ đô của Iran. Cũng như Hoàng đế Mehmed II trước đay, Selim không thừa thắng tiến sang phía Đông, mà rút quân về Thổ Nhĩ Ky, để lại hoàng đế Xa-pha-vít, dù thua trận nhưng vẫn trị vì trên một nước Iran theo giao phái Si-i. Tiếp theo là một cuộc chiến lâu dài và ác liệt giữa hai đế quốc, với những cuộc đàn áp đẫm máu người Si-I ở Thổ Nhĩ Kỳ và người Sun-ni ở Iran, máu của những người tuẫn đạo đổ ra càng nung nấu lòng hận thù và sự sợ hãi của bên này đối với bên kia.
Cả hai phe đều mong thắng trận để nắm quyền lãnh đạo Hồi giáo và kiểm soát vùng Trung Đông. Cuộc chiến không chỉ diễn ra trên chiến trường mà cả trên mặt trận tuyên truyền giữa hai giáo phái Sun-ni và Si-i do hai hoàng đế Ottoman và Xa-pha-vít hậu thuẫn. Cuối cùng phe Ottoman giành được một thắng lợi hạn chế vì không tiêu diệt được đế quốc Iran mà chỉ ngăn không cho nó bành trướng. Nhưng chiến thắng ấy mở màn cho giai đoạn kế tiếp khi đế quốc Ottoman chiếm được những nước ở phía Nam nói tiếng A-rập. Sau một loạt trận chiến ngắn ngủi nhưng ác liệt trong những năm 1516-1517, quân Ottoman đánh đổ được chính quyền Mamluk đã kiểm soát cả Ai Cập, Syria và Tây Arabia trong hai thế kỷ rưỡi và cho sáp nhập các lãnh thổ ấy vào đế quốc mình. Với sự bành trướng này, hoàng đế Ottoman ngự trị trên một đất nước mở rộng sang mọi hướng — về hướng Tây qua Bắc Phi đến tận biên giới Maroc, về hướng Nam dọc theo hai bờ Biến Đỏ vào Arabia và châu Phi, về hướng Đông đến tận Ấn Độ Dương và sau đấy vào thế kỷ XVI tiến vào Iraq mà quân Ottoman chiếm từ tay hoàng đế Iran sau một trận chiến kéo dài. Quân đội Ottoman như vậy là đã áp sát vào Vịnh Ba Tư. Hoàng đế Ottoman lúc này kiểm soát được cả hai thành phố thánh là Mecca và Medina cùng các nước A-rập, trung tâm của Hồi giáo, do vậy ông có thêm nhiều uy tín nhưng cũng lắm trách nhiệm.
Khống chế được người Ba Tư và chinh phục được người Mamluk, người Ottoman bây giờ chuẩn bị cho nhiệm vụ chính của họ là chiến tranh ở châu Âu. Dưới triều Hoàng đế Suleyman, Nhà vua Kỳ diệu (1520-1566), đế quốc đã đạt đến đỉnh cao hùng mạnh của nó. Năm 1526, sau một trận quyết định ở Mohac, quân Ottoman đánh tả tơi quân của vương quốc Hungary. Văn hào Kemal Pasha Zade đã mô tả chiến thắng này qua những lời văn có vần gần giống như một bản anh hùng ca:[2]
Gươm tuốt ra cầm tay và sáng loáng như những ngọn đuốc, họ tấn công vào quân ngoại đạo đang ngắc ngoải nhưng còn ngoan cố. Từng đội, từng đội tiến lên như những ngọn đồi trồng hoa uất kim hương. Say sưa trong chiến đấu, chốc lát người họ nhuộm máu đỏ như rượu vang, đầu họ đỏ như hoa cây Judas, mắt sáng như mã não hồng, tay như cành san hô… [Chiến đấu cứ tiếp diễn] cho đến khi ven bờ trường đua ngựa của thiên đường, trời nhuốm màu hồng của hoàng hôn… Tên vua [Hungary] độc ác… tiến vào chiến trường, hai bên bờ Đông và Tây bụi bay mù mịt… vẫn ngoan cường trước những loạt đạn pháo và súng trường, với lòng can đảm không hề run sợ, hắn dẫn đầu bọn kỵ binh, một mạch xông thẳng vào quân janissary, những người dũng cảm nhất trong số người dũng cảm… hắn đến được các khẩu pháo và ở đấy từng loạt đạn súng trường bắn xả vào chúng gieo chết chóc làm cho những bông hoa trong vườn số phận hẩm hiu của quân thù độc ác bị rụng rơi lả tả.
Sau một trận đánh tuyệt vọng, cuối cùng thì nhà vua bị thất bại:
Theo lệnh của hoàng đế, lính janissary bắn từng loạt đạn về phía quân thù… Và chỉ trong chốc lát, hàng trăm, đúng hơn là hàng ngàn tên địch bị đưa thẳng xuống Địa ngục… Số mệnh [của nhà vua] như thế là đã tiêu tan, vòng đời quyền thế của hắn đã chấm dứt, cuốn sổ thiên tào về cuộc đời phù du của hắn đã bị xoá sạch, hắn mất cuộc sống trên thế giới này và cả ở thế giới bên kia.
Sau chiến thắng này, binh lính của Suleyman tiến qua Hungary, rồi năm 1529, lần đầu tiên vây hãm Vienna, về phía Đông, hạm đội Ottoman tấn công tàu Bổ Đào Nha trên khắp Ấn Độ Dương, về phía tây, sau khi kiểm soát được Bắc Phi, hải quân Hồi giáo hoạt động ở vùng Tây Địa Trung Hải và tiến hành những trận tập kích ngay cả trên Đại Tây Dương và dọc bờ biển Tây Âu. Lại một lần nữa, sự lấn tới của Hồi giáo đe dọa nghiêm trọng thế giới Cơ Đốc giáo. Thập tự chinh kết thúc thì đến lượt Thánh chiến bắt đầu. Richard Knolles, sử gia chuyên về người Thổ dưới thời nữ hoàng Elisabeth nước Anh đã nói lên cảm tưởng chung của châu Âu khi ông gọi đế quốc Thổ là “kẻ khủng bố hiện nay của thế giới”.
Thế kỷ XVI được chứng kiến sự thịnh vượng của đế quốc Ottoman như thuỷ triều dâng lên ở mức cao nhất để rồi sau đó bắt đầu rút xuống, ở Trung Âu, trận vây hãm thành Vienna đầu tiên không thành công đã mỏ đầu cho một thế kỷ rưỡi chiến tranh đẫm máu không phân thắng bại và cũng kết thúc bằng một trận hãm thành Vienna năm 1683 rồi thất bại như lần trước. Lần này, thất bại của người Thổ hoàn toàn và vĩnh viễn. Trên mặt Đông, người Ottoman dùng những căn cứ từ Ai Cập và sau đó ít lâu, từ Iraq để khống chế các đường hàng hải trong Vịnh Ba Tư và Biển Đỏ, trong một thời gian lập nên các chức thống đốc ở Yemen và trên vùng Sừng châu Phi. Ở một thời điểm, họ gửi pháo binh đến vùng Đông Nam Á để giúp các vua chúa Hồi giáo địa phương chống trả quân thù Cơ Đốc châu Âu, nhưng không mang lại kết quả gì. Ngay cả hải quân Ottoman cũng không sao chống lại được các pháo hạm của Bồ Đào Nha và Tây phương và dù có sự hợp lực của các vua chúa Hồi giáo, người Ottoman vẫn phải nhường Nam Á và Đông Nam Á cho các thế lực hàng hải Tây Âu đang lớn mạnh.
Tại Địa Trung Hải, lần đầu tiên người Ottoman bị thua lớn trong trận thủy chiến ở Lepanto năm 1571. Lutfi Pasha có kể lại là với tư cách tể tướng trong triều, ông đã nêu vấn đề xây dựng hải quân với Hoàng đế Suleyman Vua Kỳ diệu. Ông tâu: “Dưới triều các hoàng đế trước có nhiều quốc gia làm chủ trên đất liền nhưng ít ai thống trị được biển cả. Quân ngoại đạo thường mạnh hơn ta trong các trận thuỷ chiến. Chúng ta phải vượt lên chúng.”[3] Người Thổ không vượt được lên trên và phải một thời gian sau họ mới nhận thức được hết các hậu quả của thất bại ấy. Trận Lepanto được khắp châu Âu Cơ Đốc giáo ăn mừng như một chiến thắng lớn. Nhưng quan trọng hơn chính là việc đè bẹp và tiêu diệt hải quân Ottoman trong vùng biển Á châu. Người Ottoman nhanh chóng xây dựng lại lực lượng hải quân của họ ở Địa Trung Hải để bảo vệ những vùng đất họ đã chiếm được ở Âu châu. Một sử gia Thổ đã ghi lại một cuộc nói chuyện giữa Tể tướng Sokollu Mehmed Pasha và Hoàng đế Selim II (1566-1574) về việc xây dựng lại hải quân, thay thế các tàu bị đánh chìm ở Lepanto. Hoàng đế muốn biết tốn kém là bao nhiêu và tể tướng tâu: “Đế quốc ta giàu đến nỗi nếu hoàng thượng muốn trang bị cho toàn hạm đội những mỏ neo bằng bạc, dây thừng bện bằng lụa và buồm bằng xa-tanh thì vẫn còn đủ sức.”[4]
Hải quân lẽ tất nhiên là được xây dựng lại nhưng trang bị thì không được sang trọng như vậy; các chiến thuyền Hồi giáo từ các căn cứ ở Cận Đông và Bắc Phi tiếp tục làm mưa làm gió trên Địa Trung Hải, có khi ra đến tận Đại Tây Dương và cứ như thế cho đến thế kỷ XVII. Mặc dù sức mạnh thật sự của thế giới Hồi giáo so với châu Âu Cơ Đốc giáo đã suy giảm đi nhiều nhưng trong mắt của cả người Cơ Đốc lẫn người Hồi giáo, sự suy giảm ấy vẫn còn bị che lấp bởi cả một rừng vũ khí hùng hậu của người Ottoman.
Vào giữa thế kỷ XVI, Ogier Ghiselin de Busbecq, đại sứ của Thánh quốc La Mã bên cạnh triều đình Hoàng đế Suleyman, Vua Kỳ diệu, đã tỏ ra khá bi quan về khả năng sống sót của châu Âu Cơ Đốc trước sự đe dọa của cường quốc Ottoman, ông viết:[5]
Chỉ có Ba Tư là đứng ra bảo vệ cho ta, vì quân thù nếu muốn nhanh chóng tấn công ta thì cũng phải để ý đến mối đe dọa đến từ sau lưng nó… Ba Tư chỉ làm trì hoãn số mệnh của ta mà thôi; họ chẳng cứu được chúng ta. Khi người Thổ thoả thuận được với người Ba Tư thì họ sẽ nhanh chóng bay đến cắt cổ chúng ta với sự hậu thuẫn của cả phương Đông hùng mạnh; tôi dám nói là chúng ta thật chưa chuẩn bị gì cả.
Tuy nhiên, người Ottoman không đi đến “thoả thuận với người Ba Tư”. Họ tiếp tục xung đột với lân bang và cũng là kình địch ở phía Đông mãi cho đến đầu thế kỷ XIX, lúc ấy thì cả Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Ba Tư không còn có khả năng đe dọa phương Tây nữa.
Các hoàng đế Iran, cũng như các vua Mamluk ở Ai Cập, có ý khinh miệt các hoả khí và ban đầu không có cố gắng nào đê đưa chúng vào sử dụng trong quân đội của họ. Cũng như người Mamluk, họ đã được các lính bộ binh mang súng trường và lính pháo binh Ottoman dạy cho một bài học về sai lầm này ngay trên bãi chiến trường. Nhưng khác với người Mamluk, họ sẽ sống sót để còn có cơ hội mà rút ra kết luận từ những bài học cay đắng ấy. Trong thế kỷ XVI và nhất là ở thế kỷ XVII, các hoàng để Iran đã có những nỗ lực để mua súng cầm tay và pháo lớn nhằm trang bị cho quân đội của mình. Cũng như trước đây và cả sau này, các vua chúa Hồi giáo luôn luôn tìm ra những nhà sản xuất, lái buôn và chuyên gia của châu Âu Cơ Đốc giáo sẵn sàng cung cấp, trang bị và dạy cho quân lính họ cách sử dụng các vũ khí ấy và ngay cả một vài lính đánh thuê người Âu cũng đến phục vụ trong quân đội họ. Các nguồn cung cấp chính có vẻ là Venise, Bồ Đào Nha và Anh quốc.
Lúc đầu thì không sốt sắng lắm nhưng về sau người Ba Tư nhanh chóng học được cách sản xuất và sử dụng súng cầm tay. Một phái viên của Venise, Vincenzo di Alessandri, trong một báo cáo trình lên Hội Đồng Mười Lãnh tụ ngày 24 tháng Chín năm 1572, đã nhận xét:[6]
Về vũ khí thì họ dùng gươm, giáo, súng hoả mai mà tất cả quân lính đều biết sử dụng, vũ khí của họ có chất lượng cao hơn và thép tôi rắn hơn so với tất cả các nước khác. Nòng súng hoả mai thường dài sáu gang tay, mang một viên đạn nặng chưa đầy 3 ounce. Họ sử dụng súng này thuần thục đến nỗi không hề bị cản trở nếu muốn lên dây cung hay vung gươm, gươm này thường treo ở cốt yên ngựa khi không dùng đến. Khi dùng gươm thì súng đeo sau lưng, dùng thứ này thì không dùng đến thứ kia.
Hình ảnh này của người kỵ binh, được trang bị đồng thời cả cung, gươm và súng là khá tượng trưng cho những thay đổi phức tạp đang xảy ra. Trong thế kỷ thứ XVI và XVII, các vua chúa Ba Tư dù không nhiệt tình lắm nhưng cũng sử dụng nhiều súng trường và càng ngày càng trang bị cho quân lính các vũ khí ấy. Cũng như người Ottoman, nhưng ở một mức độ khiêm tốn hơn, họ cũng dùng pháo để công hãm thành. Nhưng pháo trận địa thì họ dùng ít hơn và kém hiệu quả hơn.
Người kế tục lỗi lạc nhất Hoàng đế Ismail là Hoàng đế Abbas (1587¬1629). Nhiệm vụ chính của ông là xây dựng lực lượng bộ binh và một pháo binh mới phong theo mô hình Ottoman. Trong công việc này, ông được sự giúp đỡ đắc lực của hai anh em Anthony và Robert Shirley, hai người Anh đã cùng 26 người đến Iran vào năm 1598, rồi sau đó ở lại phục vụ cho hoàng đế Ba Tư một số năm. Việc đầu tiên của Abbas là chặn đứng người Uzbek ở Trung Á đã xâm lược và chiếm giữ một số thành phố ở miền Đông Iran. Để rảnh tay làm việc này, ông ký một hiệp định hoà bình với người Ottoman, nhường cho họ Gruzia và Azerbaijan, kể cả thủ đô cũ của triều đại Xa-pha-vít là Tabriz. Sau khi đánh thắng người Uzbek và thu hồi lại các tỉnh phía Đông đã bị mất, ông hướng sang phía Tây. Năm 1603, quân của Abbas chiếm lại Tabriz rồi liên tiếp thắng nhiều trận, đoạt nhiều vùng đất mới, kể cả Iraq trước đây đã bị rơi vào tay người Ottoman. Một sự kiện quan trọng dưới triều Abbas là việc xuất hiện Công ty Đông Ấn Độ của người Anh có trụ sở đóng ỏ Surat, Ấn Độ. Người Bồ Đào Nha, từ trước vẫn giữ độc quyền buôn bán với phương Tây ở Iran, đã tìm đủ mọi cách ngăn không cho người Anh vào đây nhưng đã không thành công, và năm 1622, với sự trợ giúp của quân đội Ba Tư, các thương nhân Anh quốc đã chiếm lại cảng Hormuz trên vịnh Ba Tư mà người Bồ Đào Nha đoạt lấy từ năm 1514. Một bản anh hùng ca đã được viết để kỷ niệm chiến thắng này của quân Ba Tư.
Triều đại của Hoàng đế Abbas, đôi khi được gọi là Abbas Đại đế, xứng đáng là đỉnh cao của thời đại Xa-pha-vít. Các cuộc cạnh tranh thương mại của các cường quốc phương Tây - Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh - trong Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương cho thấy có nhiều khả năng khai thác các cơ hội thuận lợi mà hoàng đế không hề bỏ qua. Năm 1597, Hoàng để Abbas lại dời đô một lần nữa. Trước đây, thủ đô đã được dời từ Tabriz sang Qazvin, nay hoàng đế cho dời đến Isfahan ở một vị trí trung tâm hơn, từ đây nhà vua có thế chỉ huy các chiến dịch quân sự chống quân thù ở cả hai mặt Đông Tây là người Uzbek và người Ottoman. Nhiều đền đài miếu mạo được xây lên hay trùng tu lại dưới triều Abbas đã mang đến cho Isfahan một vẻ đẹp vĩnh cửu và người dân ở đây tự hào rằng “Isfahan nisf-ijehan (Isfahan đã là một nửa thế giới).
Sau khi Abbas qua đời, triều đại Xa-pha-vít nhanh chóng bị tàn lụi rồi biến mất. Người Ottoman chiếm lại Baghdad và các vùng đất mà Hoàng đế Abbas đã thu hồi lại trong khi các dân tộc láng giềng ở phía Đông, người Afghan và người Uzbek lại vào quấy nhiễu như trước; nhưng một sự kiện đáng lo ngại cho tương lai là việc một phái bộ Nga lần đầu tiên đến Isfahan năm 1664, trong khi người Cossack bắt đầu mở các cuộc đột kích trên biên giới giữa Iran và Caucasus.
Trong thời gian ấy nhiều thay đổi lớn đang xảy ra ở phía Bắc. Năm 1480, Sa hoàng Ivan Đại đế của Mạc Tư Khoa cuối cùng đã lật đổ được cái mà các sử gia Nga gọi là “ách thống trị của người Tatar” và xoá bỏ mọi triều cống và biểu hiện thần phục. Cũng như người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở phương Tây, nhưng lại thành công hơn rất nhiều, người Nga đã xoá bỏ sự đô hộ của Hồi giáo trên đất nước mình và bắt đầu đánh đuổi những người chủ cũ về tận sào huyệt của họ. Năm 1552, sau một trận chiến rất dài và khốc liệt, họ chiếm được thủ đô Kazan của người Tatar vùng Volga, rồi sáp nhập vào lãnh thổ Nga. Từ đây họ tiến theo dòng sông Volga và năm 1556 chiếm được cảng Astrakhan, kiểm soát được toàn bộ dòng Volga và có chân đứng trên biển Caspi. Trên đường Nam tiến, đi đến đâu họ dẹp tan quân Hồi giáo đến đó rồi xâm nhập vào lãnh thổ Ottoman và đất của người Tatar trên bán đảo Crimea. Người Ottoman nhận thức được hiểm họa này nhưng các cuộc phản công của họ đều thất bại. Cũng thất bại là một chiến dịch nhằm giành lại Astrakhan và kế hoạch khơi một con kênh giữa hai sông Don và Volga để đưa hải quân Ottoman từ Biển Đen vào Biển Caspi. Trong một thời gian, các Hãn vương người Tatar ở vùng Crimea chống trả được quân Nga và giữ nguyên sự thần phục của họ đối với các hoàng đế Ottoman. Lúc ấy, Biển Đen nằm dưới sự kiểm soát của người Thổ và người Tatar, giữa Crimea và Istanbul có một luồng giao lưu hàng hoá quan trọng, chủ yếu là các mặt hàng lương thực và người nô lệ Đông Âu.
Nhưng người Nga vẫn tiếp tục tiến lên. Vào thế kỷ XVII, Astrakhan trở thành bàn đạp để người Nga bành trướng chiếm lấy các quốc gia Hồi giáo độc lập ở miền Bắc Caucasus. Dần dần, nó trở thành trung tâm hành chính của một tỉnh trực thuộc đế quốc Nga bao gồm cả vùng đất nằm giữa các cửa sông Don và Volga. Năm 1637, người Cossack sông Don, tự ý chiếm lấy pháo đài Azov của hải quân Thổ nằm gần Biển Đen. Trong nhiều năm, họ đánh lui được nhiều cuộc tấn công của hải quân và lục quân Thổ rồi đưa ra đề nghị dâng nó cho Sa hoàng. Sau nhiều đắn đo suy nghĩ, Sa hoàng từ chối món quà này vì không muốn có một cuộc chiến toàn bộ với đế quốc Ottoman. Con đường dẫn người Nga xuống Biển Đen mặc dù chưa mở ra nhưng đã được vạch sẵn rõ ràng.
Ngay từ năm 1606, Hiệp định Sitvatorok giữa hoàng đế Thánh quốc La Mã và hoàng đế Ottoman đã đánh dấu một thay đổi lớn. Hiệp định này được thương lượng và ký kết trên một hòn đảo nằm giữa con sông ngăn cách hai đế quốc Habsburg và Ottoman. Không như trong quá khứ, hiệp định này không phải do bên thắng trận buộc bên thua trận phải đến thủ đô mình chấp nhận các điều kiện đề ra, trái lại đây là hiệp định do hai bên bình đẳng cùng nhau ký trên biên giới. Điều thay đổi là lần đầu tiên, trong bản tiếng Thổ của hiệp định, hoàng đế Ottoman đã dùng chính danh hiệu của mình, Padishah, hoàng thượng, để chỉ nhà vua Habsburg mà từ trước đến nay chỉ được gọi bằng cái tên khinh miệt là “vua thành Vienna”. Trong quá khứ, khi quân Ottoman tiến sang châu Âu, không có hiệp định nào được ký kết và cũng có rất ít thương lượng. Tình trạng chiến tranh giữa một cường quốc Hồi giáo và các kẻ thù ngoại đạo được xem như là một nhiệm vụ chiên đấu liên tục vì tôn giáo; đôi khi cũng ngừng lại theo những điều kiện mà người Ottoman chiến thắng ngồi tại Istanbul ép buộc người thua phải chấp nhận. Hiệp định Sitvatorok đánh dấu một thay đổi quan trọng trong cả nội dung lẫn hình thức thương lượng, phản ánh một thực tế mới trong quan hệ giữa hai bên.
Thế kỷ XVII bắt đầu bằng sự chấp nhận miễn cưỡng của phía Ottoman rằng đối phương cũng không thua kém gì mình, rồi nó kết thúc bằng sự cam chịu một thất bại rõ rệt. Những thay đổi trong cán cân quyền lực chính trị và quân sự giữa hai thế giới Hồi giáo và Cơ Đốc giáo chỉ chậm chạp nhích đi từng bước nhỏ và phải một thời gian nữa người ta mới thấy, hiểu và khai thác được chúng. Sự chênh lệch về trình độ kinh tế thì ít thấy rõ ngay lập tức nhưng nó thật là sâu xa và dẫn đến những hậu quả có tính quyết định. Sau các hành trình thám hiểm trên đại dương, các trung tâm chính của nền thương mại Âu châu và cũng của quyền lực đã chuyển từ Địa Trung Hại sang Đại Tây Dương và từ Trung và Nam Âu sang các quốc gia hàng hải ở phía Tây.
Trong quan hệ với các quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông và các nơi khác, các nước phương Tây có một lợi thế rất lớn. Tàu thuyền của họ, thiết kế để vượt các cơn bão Đại Tây Dương, thường to hơn và nặng hơn tàu của các nước Hồi giáo dùng để di chuyển trong Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Được thiết kế cho điều kiện khắc nghiệt của Đại Tây Dương, chúng cũng dễ vận hành hơn các tàu Hồi giáo. Hai ưu điểm của chúng là: trong chiến tranh mang được nhiều pháo lớn, còn trong hoà bình chở nhiều hàng hoá hơn, đi xa hơn mà chi phí lại thấp hơn. Khi các quốc gia hàng hải Tây Âu bắt đầu chiếm thuộc địa ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới cua Trung Mỹ Nam và Đông Nam Á thì họ trồng được nhiều cây cỏ mà trước đấy châu Âu không có hay không hề biết đến. Bây giờ, họ có thể cung cấp cho thị trường Trung Đông nhiều mặt hàng rất đa dạng nhờ có tình hình trên và cũng nhờ nhiều yếu tố khác như sự phát triển kinh tế trong nội bộ châu Âu, sự thu thập được nhiều vàng từ châu Mỹ và các khả năng tín dụng mới mà Trung Đông chưa có.
Cũng không kém phần quan trọng hơn các thay đổi về điều kiện buôn bán là những khác biệt ngày càng lớn trong chính sách kinh tế. Trong thế kỷ XVI và về sau, các nền kinh tế hướng về sản xuất và chủ nghĩa trọng thương đã giúp cho các công ty thương mại Âu châu và cả các chính phủ đứng đằng sau họ mở rộng được các hoạt động buôn bán ở một mức độ chưa bao giờ đạt đến trong các xã hội hướng về tiêu dùng của đế quốc Ottoman và của các quốc gia Hồi giáo khác. Các hoạt động thương mại còn được tăng lên gấp bội cả về số lượng và chất lượng khi người Tây Âu đến Ấn Độ và Nam Dương với tư cách chủ nhân chứ không phải chỉ là thương gia nữa; rồi nhờ có lực lượng hải quân hùng hậu mà họ khống chế được nền mậu dịch đồ gia vị và các nhu yếu phẩm khác giữa châu Âu và châu Á từ cả hai đầu.
Nhưng những thay đổi về mối tương quan giữa hai nền kinh tế không thể chỉ gán vào việc phương Tây đang tăng trưởng mạnh. Ít ra thì một phần nào nguyên nhân cũng bắt nguồn từ sự thoái hoá tương đối của các lực lượng Hồi giáo gây ra bởi những thay đổi nội tại.
Trong nửa đầu của thế kỷ XVI, hệ thống Ottoman cổ điển đang ở đỉnh cao của vinh quang và chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà quan sát đương thời ở châu Âu xem đấy là mô hình đáng noi theo của một chính thể chuyên chế tập trung và hữu hiệu. Nêu có một số người do lòng trung thành với những đặc quyền cố hữu trong một chế độ Âu châu già nua mà xem đế quốc Ottoman như một điển hình khủng khiếp của một chính phủ độc đoán và tuỳ tiện thì nhiều người khác mong muốn có một thời kỳ mà mỗi quốc gia châu Âu có được một hoàng đế chuyên chế anh minh, và Thổ Nhĩ Kỳ đối với họ là điển hình của một nền quân chủ hiện đại và có kỷ luật.
Thật là một trớ trêu của lịch sử khi mà Machiavelli và các nhà lý luận chính trị ở châu Âu đang có những so sánh giữa một nhà vua Pháp nhu nhược va một hoàng đế Thổ hùng mạnh, thì ở cả hai nước, những biến đổi lại đang diễn ra để cuối cùng có sự hoán vị giữa hai nhân vật ấy. Ở Pháp, các quan lớn đang trở thành triều thần, các vùng tự trị thành những khu vực hành chính và uy quyền của nhà vua đối với toàn dân và toàn quốc tăng lên cho đến một lúc, vua đã có thể nói “L’etat C est moi’ (Quốc gia chính là ta đây). Trong các đế quốc Hồi giáo, chữ A-rập sultan (quốc vương) vừa có nghĩa nhà nước vừa có nghĩa nhà vua, nhưng ở đây các triều thần đang trở thành quan lớn, các tỉnh trở thành những tiểu quốc, nô lệ của vương triều đang thành chủ nhân và “chúa tể của thế gian” đang trở thành con rối trong tay quân đội, chính phủ và hoàng gia.
Khi Suleyman, Vua Kỳ diệu, nhận thanh gươm của Osman để đăng quang năm 1520 thì ông là chúa tể của một bộ máy hoàn hảo trong một chính quyền chuyên chế, trị vì trên một đất nước trải dài từ Hungary đến biên giới Ba Tư, từ Biển Đen sang Ấn Độ Dương. Dù ông phải hoạt động trong khuôn khổ của những điều khoản bất di bất dịch mà Thánh luật đề ra, nhưng chính Thánh luật lại ban cho ông quyền uy gần như tuyệt đối và những người được phép giải thích Thánh luật là những người hậu thuẫn mạnh mẽ nhất của chính quyền trước dân chúng. Chính phủ và quân đội - những người cai trị và những người bảo vệ - là những nô lệ của bản thân hoàng đế, họ có những ưu đãi và miễn trừ so với dân chúng, nhưng họ không hề có bất kỳ quyền nào chống lại ý muốn của nhà vua. Việc nhà vua thường xuyên cho thay các chức sắc cũ bằng những người nô lệ hạ tiện đã ngăn không cho xuất hiện một giai cấp quý tộc cha truyền con nối ngay tại trung tâm quyền lực, đồng thời phe quý tộc phong kiến đã được hoàng đế ban cho những thái ấp công vụ dù có thể bị thu hồi bất kỳ lúc nào nhưng cũng cảm thấy yên tâm để góp phần vào việc đảm bảo cho nông nghiệp được phồn thịnh và thôn xóm được ấm no hạnh phúc.
Nếu các thách thức của thế kỷ XVI bắt buộc các nước châu Âu phải đi vào những con đường phát triển kinh tế và chính trị mới thì đối với đế quốc Ottoman đấy là những việc quá ư dễ dàng cho nên họ không có động lực nào thúc đẩy để làm việc ấy, vì trong số các quốc gia châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ đã có đất đai, nhân lực, tài nguyên và một chính phủ trung ương để tổ chức và tài trợ cho một bộ máy chiến tranh mới. Khi các dân tộc khác ở châu Âu bước vào một thời kỳ sôi động để gắng sức tiến lên thì Thổ Nhĩ Kỳ lại nhẩn nhơ giẫm chân tại chỗ - và sau cùng là thụt lùi.
Các sử gia Ottoman cho rằng, đế quốc bắt đầu suy thoái từ sau cái chết của Suleyman, chắc chắn là vào nửa sau thế kỷ XVI đã xuất hiện những dấu hiệu sụp đổ đầu tiên của cơ cấu chính quyền Ottoman. Các dấu hiệu ấy đã được đưa ra thảo luận trong một loạt bài viết của các chính trị gia và quan chức Ottoman, những thảo luận ấy tiếp diễn từ cuối thế kỷ XVI cho đến những ngày cuối cùng của đế quốc.
Một trong những dấu hiệu mà các thảo luận hay bàn đến là sự suy đồi của giai cấp sipahi— một giai cấp quý tộc phong kiến đã là xương sống của nhà nước Ottoman những ngày đầu và sau đấy là một thành phần quan trọng của nó. Có nhiều yếu tố góp phần vào quá trình suy thoái của nó. Một là, việc hoàng đế ưa chuộng đội quân “nô lệ” chuyên nghiệp hơn là lính do các quý tộc phong kiến tuyển mộ, vì họ hữu hiệu hơn và ít độc lập hơn. Một điều nữa là vì có các tiến bộ kỹ thuật quân sự nên người ta cần những binh đoàn chuyên nghiệp phục vụ lâu dài như những đội pháo thủ, công binh, lính đánh mìn; do đó phải giảm dần, tuy không xoá bỏ, vai trò của kỵ binh phong kiến.
Thái ấp quân sự Ottoman, gọi là timar, có thế bị thu hồi nhưng cũng có thế chuyển giao và phụ thuộc vào việc chủ nhân có còn trong quân ngũ hay không. Mặc dù theo thông lệ, con cái của một sipahir thường được nối quyền cha làm chủ thái ấp nhưng đây không phải là một quyền lợi và còn tuỳ thuộc vào khả năng chỉ huy của người được hưởng. Người sirpahi có thể được hoán chuyển từ thái ấp này sang thái ấp khác, việc này rất hay xảy ra, hay từ tỉnh này sang tỉnh khác. Vào cuối thế kỷ XVI, khi chủ nhân qua đời thì thường cũng chấm dứt quyền hưởng thu thái ấp, nó có thể chuyển sang chủ nhân mới hay sáp nhập vào cương thổ của hoàng đế. Địa bạ của thế kỷ XVI trở đi cho thấy đất thái ấp ngày càng ít đi trong khi công điền thì tăng lên. Điều này đặc biệt xảy ra nhiều ở phần châu Á, còn châu Âu ít hơn.
Khi kỵ binh phong kiến bị xoá bỏ thì quân đội chính quy tăng lên nhanh chóng, tiền nuôi quân cũng tăng theo. Chắc chắn đây là một trong những nguyên nhân của việc thu hồi các thái ấp. Muốn có thu nhập nhập chóng và dễ dàng, hoàng đế không trực tiếp quản lý đất đai mà khoán chúng dưới nhiều hình thức như cho thuê hoặc nhượng quyền. Tất cả đều do sức ép tài chính chứ không còn là lý do quân sự nữa. Một số là đất đai cho khoán thuế, một số là đất cho thuê lấy lãi. Lúc đầu đất chỉ khoán trong một thời gian ngắn, về sau người nhận khoán thường được một khoản tiền lãi suốt đời rồi do lạm dụng mà trở thành có quyền thừa kế và nhà nước không thu hồi lại được. Hệ thống này nhanh chóng tràn ra khắp đế quốc và không chỉ đất của hoàng gia mà cả nhiều thái ấp cũng được ban cho các quan chức hay các triều thần được sung ái, họ đều khai thác chúng theo một kiểu giống nhau, về sau nhiều sipahi cũng đem ra khoán thu nhập của các tirmar quân sự của họ.
Do có vị trí cao trên các mặt kinh tế và xã hội vì họ kiểm soát lâu dài được tiền khoán thuê và tiền thuê đất đai ở các địa phương mà một giai cấp tư sản có quyền thể xuất hiện, họ nhanh chóng trở nên có vai vế ở các tỉnh. Giai cấp này đóng vai trò trung gian giữa chính phủ và nông dân, họ chiếm đoạt gần hết các khoản thu nhập của nhà nước. Trên nguyên tắc, họ chỉ sở hữu đất đai với tư cách lá người thuê hay người nhận khoán, nhưng vì chính phủ càng ngày càng hèn yếu không kiểm soát nổi các tỉnh lẻ nên những chủ đất mới này có thể tăng diện tích cơ ngơi của họ và củng cố quyền sử dụng đất. Vào thế kỷ thứ XVI, họ còn tiếm đoạt cả một số chức năng của chính phủ.
Trong lịch sử Ottoman, họ được gọi là ayan, thường dịch ra là chức sắc. Từ ayan đã được dùng từ lâu đời theo nghĩa chung là chức sắc tỉnh lẻ hay địa phương, thường là các thương gia. Bây giờ nó được dùng để chỉ một tầng lớp địa chủ cũ và mới giữ những chức vụ chính trị quan trọng. Ban đầu thì họ bị cho là những kẻ lạm quyền, nhưng đến thế kỷ XVIII vì gặp nhiều khó khăn về tài chính và quản lý nên chính phủ trung ương dần dần giao cho họ nhiều quyền hành ở các tỉnh, kể cả việc cai trị các thành phố, cho nên người ayan bắt đầu trở thành một giai cấp địa chủ không bị bất cứ một điều kiện gì ràng buộc.
Trong khi các phát triển ấy đang xảy ra và có ảnh hưởng đến vai trò của quân kỵ binh phong kiến, chủ yếu ở nông thôn là căn cứ địa của họ, thì hệ thống nô lệ cũng có nhiều xáo trộn. Các xáo trộn này thường được xem là bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ XVI, khi có những dấu hiệu về sự thay đổi trong phương thức tuyển mộ. Quân janissary là một tập thể khép kín có nhiều đặc quyền, có uy lực lớn và gắn bó với nhau bằng một tinh thần đồng đội vưng chắc. Ban đầu họ được tuyển mộ trong giới nô lệ hay từ các con tin gốc Cơ Đốc giáo qua hình thức devshirme. Cùng một lúc-lại gia nhập vào bang hội huyền bí Bektashiyya đã gắn bó với quân janissary ngay từ buổi đầu, những người được tuyển mộ sẽ sống một cuộc đời không vợ con, toàn tâm toàn ý với binh nghiệp, lấy doanh trại làm nhà, lấy bạn đồng ngũ làm gia đình. Các sĩ quan janissary cũng như các lính già đã về hưu hay sống trong doanh trại thì có quyền lấy vợ. Trong quy chế của quân janissary, Kavanm-i-Yenicheriyan, có đoạn viết:[7]
Từ buổi đầu quân janissary không có quyền lấy vợ; chỉ khi nào xin được phép của hoàng đế thì các sĩ quan hay binh lính già không còn khả năng phục vụ nữa mới được lấy vợ. Lính janissary phải là người độc thân, doanh trại được xây cho họ cũng vì lý do ấy.
Đạo quân janissary bị suy tàn bắt đầu từ ngày có việc tuyển mộ theo hình thức thừa kế hay qua mua bán. Lúc đầu các phương thức mới này chỉ dùng để bổ sung cho hệ thống devshirme, nhưng cuối cùng, chúng hoàn toàn thay thế phương thức tuyển mộ cũ. Lỗ hổng ban đầu được mở ra là do việc lính janissary lấy vợ ngày càng nhiều. Dưới triều Suleyman, Vua Kỳ diệu, việc này đã hay xảy ra, nhưng khi Selim II lên ngôi, nhà vua công nhận quyền này và sau đó có nhiều quân janissary, cả sĩ quan lẫn binh lính, trở thành những người có gia đình.
Có lấy vợ thì có con cái và đương nhiên là những người cha thành viên của một nhóm nhiều đặc quyền đặc lợi sẽ tìm cách cho con mình cũng được hưởng các đặc quyền ấy. Năm 1568, sau khi nhận được nhiều thỉnh cầu, Selim II đã cho phép lính janissary ghi tên con cái mình vào thiếu sinh quân, hưởng lương của quân đội. Lúc còn nhỏ, chúng đã được phát khẩu phần và có một khoản tiền lương nhỏ, khi đến tuổi quy định thì được nhận vào quân ngũ. Những người lính mới này - họ tự gọi mình là “con nô lệ” để phân biệt với những “nô lệ” thật sự — không được tuyển chọn và cũng chẳng được tập luyện như những người lính nhập ngũ qua phương thức devshirme. Khoảng năm 1592, thành phần này chiếm đa số trong đội quân janissary.
Khi có một lỗ hổng được mở toang trong hệ thống cứng nhắc về tuyển quân từ người nô lệ thì người ta ào ào chui qua. Trong cuộc chiến tranh với Iran vào cuối thế kỷ XVI, ai muốn gia nhập quân janissary cũng được, bất kể nguồn gốc, địa vị, miễn là có tiền mua quyền được kết nạp. Dưới triều hoàng đế quá cố Murad Khan [1574-1595] sử gia Selaniki Mustafa viết:[8]
…một bọn xâm nhập đáng khinh bỉ đang chui vào ngôi nhà kính mến này và nhờ có tiền hối lộ mà các đội quân janissary, thiết kỵ, pháo binh bây giờ đầy rẫy những bọn dân quê bỏ bê đồng ruộng cho người Tat, Chepni, Di- gan, Do Thái, Laz, Nga và cả bọn dân nghèo thành thị nữa. Khi chúng vào quân ngũ thì chẳng còn gì là truyền thống, là lòng kính trọng nữa, tấm màn tôn thờ chính phủ ngày nay đã bị xé rách và như thế là bọn người bất tài không kinh nghiệm bây giờ ngồi chễm chệ trên các ghế quyền lực…
Những lời ta thán bây giờ đâu đâu cũng nghe thấy, nhà viết hồi ký Kocu Bey (đầu thế kỷ XVII) cũng phải thốt lên rằng trong thời ông, bọn cặn bã của xã hội cũng chui được vào đạo quân janissary: “bọn người chẳng biết theo tôn giáo nào, bọn lưu manh thành phố, bọn Turkoman, Di-gan, Tat, Kurd, người nước ngoài, Laz, du mục, chăn lừa, cưỡi lạc đà, phu khuân vác, bán nước ngọt, cướp đường, móc túi và nhiều loại vô lại khác, thành thử chẳng còn trật tự kỷ cương nào cả, pháp luật, truyền thông cũng biến mất… ”[9]
Chính Kocu Bey là người đã được tuyển mộ ở Goritsa nước Macedonia qua phương thức devshirme cho nên ông rất buồn phiền về sự thoái hoá của binh đoàn janissary, ông muốn nhắc hoàng đế là không cần lấy vào quân ngũ những quân vô lại như thế: “ở Bosnia và Albania vẫn còn những người… có những đứa con can đảm và dũng mãnh…”
Nhưng đã quá muộn. Sự tuyển mộ vội vã và cẩu thả vì những khó khăn quân sự và tài chính vào cuối thế kỷ XVI đã dẫn đến những thay đổi nhanh chóng và toàn bộ binh đoàn janissary đã biến chất trong một khoảng thời gian ngắn. Khi từ bỏ chế độ devshirme và nhận vào những người Hồi giáo còn tự do thì binh đoàn đã trở thành một phường hội có quyền thừa kế, có những đặc quyền quan trọng cho cả cá nhân và tập thế mà người ta cố gắng duy trì. Quyền gia nhập vào tập thế ấy chủ yếu là qua thừa kế nhưng cũng có thể qua mua bán, và rất nhiều lái buôn hay thợ thủ công dùng tiền để mua cho họ hay cho con cháu một chỗ trong đội quân janissary. Mặc dù trên danh nghĩa vẫn là những người nô lệ của hoàng đế nhưng thường quân janissary lại là chủ nhân của nhà vua; trên danh nghĩa vẫn còn là những người lính nhưng họ đã biến chất thành một đám người hạ tiện mang vũ khí, thích đánh nhau hên đường phố để bảo vệ các đặc quyền của mình bị những nhân vật tôn giáo hoặc đám triều thần kích động chứ ít khi chịu ra trận đối đầu với những quân thù có kỷ luật.
Việc từ bỏ hệ thống devshirme cũng có ảnh hưởng tức thời và to lớn đến trường dạy các thị đồng của triều đình, vì đây là nguồn cung cấp các nhân viên phục vụ hoàng đế và các quan chức cao cấp của nhà nước. Ở một chừng mực nào đó, khi không có nhiều con tin hay người bỏ đạo Cơ Đốc từ châu Âu thì có thế thay thế bằng những nô lệ vùng Caucasus. Phụ nữ vùng này được ưa chuộng trong các hậu cung và nô lệ nam giới cũng đã đóng những vai trò quan trọng đặc biệt trong giai đoạn cuối của vương quốc Mamluk bên Ai Cập. Trong đế quốc Ottoman, họ chỉ đóng một vai trò thứ cấp, và cả trong hệ thống nô lệ và quân đội họ thường bị các đồng nghiệp có nguồn gốc Balkan hay Âu châu lấn áp. Vào cuối thế kỷ XVI, tình trạng này bắt đầu thay đổi, dân các vùng Caucasus như người Gruzia, người Circassia, Chechens và Abaza bắt đầu nổi lên trong giới cầm quyền chóp bu của đế quốc. Vị tể tướng vizier đầu tiên rõ ràng có nguồn gốc là nô lệ vùng Caucasus có lẽ là Hadim Mehmed Pasha, một hoạn quan sinh ra ở Gruzia và giữ chức khoảng bốn tháng trong những năm 1622-1623. Về sau, người Caucasus ngày càng đông và ở thế kỷ XVII, XVIII, họ giữ nhiều chức vụ tướng lĩnh, thông đốc, bộ trưởng của đế quốc.
Cuộc xung đột giữa các phe phái tại thủ đô xảy ra dưới nhiều hình thức, và lòng trung thành đối với một nhóm nào đó cũng hay thay đổi. Tuy nhiên, cuộc tranh giành ấy có vẻ phân hoá ở hai cực - một bên là phủ tế tướng với sự hậu thuẫn của những người trong chính quyền không xuất thân từ thành phần nô lệ và được sự ủng hộ của hàng giáo phẩm, còn một bên là hoàng cung và hậu cung với một mạng lưới quyền bính rộng lớn và với các đại diện của chúng, nô lệ hay người tự do, nằm trong khắp guồng máy hành chính của đế quốc.
Cuộc đụng độ giữa châu Âu Cơ Đốc giáo và Hồi giáo Ottoman thường được đem ra so sánh với cuộc chiến ngày nay giữa thế giới tự do và Liên Xô. Sự so sánh này cũng khá đúng. Trong cả hai trường hợp, phương Tây bị đe dọa bởi một chế độ và một xã hội có tính chiến đấu và bành trướng mà động cơ thúc đẩy là hai đặc tính của chủ nghĩa đế quốc, đó là khát vọng bá quyền và cảm tưởng là được giao phó một sứ mệnh, lại được kích động bởi lòng tin có tính giáo điều về một cuộc chiến đấu không ngừng và một chiến thắng tất yếu. Nhưng cũng không nên đi quá xa trong so sánh. Trong cuộc xung đột trước đây, kích động và giáo điều có cả ở hai bên và phía Thổ Nhĩ Kỳ lại có lòng khoan dung độ lượng cao hơn. Trong các thế kỷ XV va XVI, làn sóng tị nạn — của những người mà theo câu nói sinh động của Lenin “đã bỏ phiếu bằng hai bàn chân”, lại từ Tây sang Đông chứ không ngược lại như trong thời nay. Cuộc di cư của người Do Thái đến Thổ Nhĩ Kỳ sau khi bị đuổi khỏi Tây Ban Nha năm 1492 được biết đến rất nhiều, nhưng không phải là đơn độc. Nhiều nhóm tị nạn khác, như những người Cơ Đốc ly khai bị các giáo hội nắm quyền trong nước họ truy hại, hay người Do Thái đều đến tị nạn trên đất Ottoman. Khi nền thống trị Ottoman cáo chung ở châu Âu, các quốc gia Cơ Đốc mà họ cai quản trong nhiều thế kỷ thì vẫn còn đây cùng với ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo của mình và trong một chừng mực nào đấy cả các thể chế cũ vẫn được duy trì để sẵn sàng bước vào đời sống mới của một quốc gia độc lập. Số phận này đã không đến với những người Hồi giáo ở lại sau khi chế độ Thổ Nhĩ Kỳ chấm dứt trên vùng Balkan hay ở Tây Ban Nha sau khi chính quyền A-rập sụp đổ.
Người tị nạn thì không phải là những người châu Âu duy nhất nhận được ân huệ của chê độ Ottoman. Người dân quê trong các vùng mới bị chiếm cũng có cuộc sống tốt đẹp hơn trước. Đế chế Ottoman đã mang lại thống nhất và an ninh thay cho chiến tranh và hỗn loạn với nhiều hệ quả trên các mặt xã hội, kinh tế. Trong các cuộc chiến tranh chinh phục, phần lớn giai cấp quý tộc địa chủ thế tập đã bị xoá bỏ, đất đai vô chủ của họ bị chia làm thái ấp cho quân lính Ottoman. Tuy nhiên, trong hệ thống Ottoman, làm chủ thái ấp chỉ có nghĩa là được quyền hưởng các thu nhập mà thôi. Ít ra, trên mặt lý thuyết, quyền ấy dành cho cả đời hay cho một thời gian ngắn hơn và kết thúc khi chủ nhân thái ấp không còn trong quân ngũ. Cũng không có quyền thừa kế hay quyền lãnh chúa kèm theo. Trái lại, người nông dân lại được hưởng một hình thức thừa kế tài sản mà luật pháp Ottoman bảo vệ trong cả hai trường hợp phân chia hay tập trung đất đai. Do đó, họ có nhiều quyền tự do trên nông trại của mình hơn là dưới các chính quyền Cơ Đốc. Thuế khóa của họ thì được tính phải chăng và thu một cách nhân đạo hơn so với những nhũng nhiễu của các chế độ trước đó và ngay cả ở những nước láng giềng. An ninh và phồn thịnh là hai lý do làm cho họ chịu đựng dễ dàng so với các mặt khác ít hấp dẫn hơn của chế độ Ottoman và đóng góp một phần quan trọng vào tình hình yên tĩnh kéo dài trong các tính của đế quốc cho đến khi có cuộc xâm nhập bùng nổ của các tư tưởng quốc gia đến từ phương Tây.
Mãi đến cuối thế kỷ XIX, những người châu Âu đến thăm vùng Balkan đều ghi nhận sự sung túc và hài lòng của người nông dân ở đây, hơn hẳn điều kiện sinh sống trong nhiều vùng của châu Âu Cơ Đốc giáo. Mối tương phản lại càng rõ rệt trong thế kỷ XV và XVI khi ở châu Âu đang có nhiều cuộc nổi dậy của nông dân. Ngay cả hệ thống mộ lính devshirme nhiều khi bị lên án thì cũng có nhiều mặt tích cực. Nhờ có nó mà một người dân quê cùng cực cũng có thể đạt đến những chức vụ cao nhất của nhà nước. Nhiều người đã đi theo con đường làm quan ấy và cho cả họ được nhờ, đây là một hình thức thăng tiến xã hội không hề có ở các xã hội quý tộc trong thế giới Cơ Đốc giáo đương thời.
Đế quốc Ottoman đã ảnh hưởng đến châu Âu bằng nhiều cách. Trong một thời gian dài người ta sợ nó vì là một kẻ thù nguy hiểm — nỗi sợ hãi này còn kéo dài sau khi mối nguy hiểm đã qua đi. Đối với các thương gia, nhà sản xuất và sau đó là các nhà tài chính, đấy là một thị trường giàu có và ngày càng mở rộng cửa, còn đối với nhiều người — ở đây cũng còn có một điều giống như trong cuộc xung đột ngày nay - nó có một sức quyến rũ mạnh mẽ. Những người bất mãn và nhiều tham vọng thấy có nhiều cơ hội trong xã hội Ottoman, và nhiều người mà ở châu Âu được gọi là những “kẻ phản bội” nhưng người Hồi giáo gọi là “muhtadir (người đã tìm ra đúng hướng đi) thì đã làm nên những sự nghiệp hiển hách qua việc phục vụ đế quốc Ottoman. Những người nông dân bị giày xéo đặt cả hy vọng vào những kẻ thù của chủ họ. Trong bài viết “Lời kêu gọi cho cầu nguyện chống quân Thổ” xuất bản năm 1541, Luther King cảnh cáo rằng những người nghèo khó bị bọn vua chúa, địa chủ, cường hào o ép có lẽ thích sống với người Thổ hơn là dưới quyền thống trị hà khắc của những người Cơ Đốc ấy. Ngay cả những người bảo vệ cho chế độ đã được thiết lập cũng bị ấn tượng bỏi hiệu quả về chính trị và quân sự của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ ở đỉnh cao của nó. Phần lớn các bài viết ở châu Âu nói về hiểm họa Thổ Nhĩ Kỳ đều nhắc tới những thành tựu của hệ thông chính trị Thổ và sự khôn ngoan nếu bắt chước nó.
Trong đêm mùng 5 rạng ngày mùng 6 tháng Chín năm 1566, Hoàng đế Suleyman qua đời ngay trong lều trại của ông khi đang bao vây thành Szigetvar của Hungary. Đây là một thời kỳ khủng hoảng. Cuộc chiến đang tiếp diễn, phần thắng chưa chăc đã nắm trong tay và người nối ngôi thì còn ở xa. Vị Đại tể tướng quyết định không cho công bố cái chết của nhà vua. Thi hài của Suleyman được ướp qua loa rồi trong ba tuần lễ đặt trong kiệu để mang đi cho đến khi được tin Selun II, vị tân hoàng đế đã lên ngôi an toàn ở Istanbul. Chỉ lúc ấy người ta mới thông báo về cái chết của Suleyman.
Vị hoàng đế đã qua đời nhưng vẫn chỉ huy quân lính từ sau bức màn kiệu khép kín, đó thật là một biểu tượng. Người kế vị ông, một nhân vật bất tài cả ngày say khướt mà trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ được gọi là “Selim Vua Rượu”, đã báo hiệu cho sự suy tàn của nhà nước và đế chế. Quân đội Ottoman phải rút khỏi Vienna, hạm đội Ottoman phải rút khỏi Ấn Độ Dương. Trong một thời gian, đằng sau bộ mặt hùng mạnh của quân đội Ottoman là cảnh sụp đổ thật sự của chính quyền Ottoman. Tại thủ đô Istanbul, một hoàng đế tài năng và cương quyết, Murad IV (1623-1640) rồi sau đó là hai tể tướng xuất sắc gốc Albania, Mehmed Koprulu và con là Ahmed chấp chính từ 1656 đến 1678 đã tạm chặn đứng được cảnh thối nát ở hậu phương và còn gặt hái được vài thắng lợi nơi chiến tuyến. Năm 1683, dưới sự lãnh đạo của một tể tướng mới là Karamustafa Pasha, em rể của Ahmed Koprulu, quân Ottoman lại một lần nữa cố gắng đánh chiếm Vienna.
Nhưng mọi sự đã quá trễ và lần này thất bại của người Ottoman là hoàn toàn và vĩnh viễn. Trước kia là sức mạnh, còn nay, chính sự yếu hèn của nhà nước Ottoman mới là một vấn đề đặt ra cho châu Âu mà về sau sẽ được gọi là “vấn đề phương Đông”.
❀ ❀ ❀
[1] Ibn Kemal, Tevarih-i Al-i Osman VII Defter, ed. Serafettin Turan (Ankara 1957), t. 365.
[2] Kemalpashazade, Mohaczname, bản dịch tiếng Pháp của M. Pavet de Courteille, Historie de la campagne de Mohacs, (Paris 1859), t. 97-109.
[3] Rudolf Tschudi, Das Asafname des Lufti Pasha (Berlin 1910), t. 32¬33.
[4] Pecevi, Tarih (Istanbul 1283 lịch HG), vol. 1, t. 498-499.
[5] The Turkish Letters of Ogier Ghiselin de Busbecq, Imperial Ambassador at Constantinople, 1554-1562 bản dịch từ tiếng Latin sang tiếng Anh của Edward Seymour Forster (Oxford 1922), 1.112.
[6] Guglielmo Berchet ed. La Repubblica di Venezia e la Persia (Torino 1865), t 181, bản dịch tiếng Anh trong A Narrative of Italian Travels in Persia in the 15 and 16 Centuries (London 1873), t. 227.
[7] Được trích trong Ismail Hakki Uzuncarscili, Osmanli Devleti Teskilatindan Kapilulu Ocaklan, vol.l (Ankara 1943), t. 306, ghi chú 1.
[8] Selaniki Mustafa, Tarih-i Selaniki, ( ed. Ipsirli, Istanbul 1989), t. 471.
[9] Kocu Bey, Risale, ed. Ali Kemal Aksut (Istanbul 1939) t. 32 và t. 45.