Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19 Từ Tự Do Này Đến Tự Do Khác
Chương 19 Từ Tự Do Này Đến Tự Do Khác

❊ ❊ ❊

Sự thất bại của phe Trục và chiến thắng của phe Đồng minh năm 1945 đã không mang lại hoà bình cho thế giới ngay lập tức. Khi Liên Xô tiến dần sang Đông và Trung Âu và khi các đế quốc thuộc địa Tây Âu phải rút khỏi châu Á và châu Phi thì nhiều vấn đề nghiêm trọng được đặt ra cho các vùng ấy. Những nền độc lập mất đi hay giành lại được đã nhen nhóm lại những thù hận xưa cũ hoặc tạo ra những thù hận mới, bắt hàng triệu người dân phải di dời chỗ ở. Trung Đông cũng đã phải gánh chịu phần mình trong các xáo trộn sau chiến tranh, sau cuộc phi thực dân hoá. Hoà bình trong vùng này thật là thất thường, khó khăn và hay bị ngắt quãng bỏi những cuộc xung đột chống lại những quân thù nội bộ hay đôi khi ngoại lai. Nhìn chung thì những biến cố ấy ít mãnh liệt và ít gây chấn thương hơn khi chính quyền Xô viết chiếm lấy Trung và Đông Âu hay khi chế độ thực dân của Anh bị loại khỏi Nam và Đông Nam châu Á. Nhưng các vấn đề ở Trung Đông, mặc dù có quy mô bé hơn, lại tỏ ra có cường độ cao hơn và khó tìm ra những giải pháp ngoại giao hay chính trị hơn.

Trung Đông cũng như tại các nơi khác trước đây là thuộc địa, vấn đề chính mà công chúng quan tâm đến là độc lập; trong một khoảng thời gian, đây cũng là vấn đề duy nhất.

Ngay sau Thế chiến I, chỉ có ba quốc gia trong vùng là Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Afghanistan được hoàn toàn độc lập và họ có kinh nghiệm đầy đủ để thực thi quyền độc lập ấy. Giữa hai Thế chiến, có thêm bốn quốc gia A-rập nữa giành được độc lập: A-rập Xa-út, Yemen, Iraq và Ai Cập. Hai nước đầu được hưởng khá nhiều quyền độc lập cả trên thực tế lẫn lý thuyết, còn hai nước sau vẫn bị ràng buộc vào những nước thống trị cũ, trên mặt ngoại giao qua các hiệp ước bất bình đẳng, trên mặt quân sự vì có các căn cứ và các lực lượng quân đội Anh còn lại. Khi người Pháp bị bắt buộc phải rời khỏi Syria và Liban thì số các quốc gia A-rập có chủ quyền được tăng lên. Tháng Ba năm 1945, các nước Ai Cập, Iraq, Syria, Liban, A-rập Xa-út, Yemen và Xuyên Jordan đứng ra thành lập “Liên đoàn các nước A-rập” mặc dù Xuyên Jordan vẫn còn là một bộ phận của lãnh thổ Palestine mà Anh có quyền uỷ trị. Một năm sau, vào tháng Ba năm 1946, Xuyên Jordan giành được độc lập và mang tên Jordan.

Mục tiêu đầu tiên của các quốc gia nói trên là biến nền độc lập trên danh nghĩa của họ thành độc lập thật sự qua việc bãi bỏ các hiệp ước và chấm dứt sự hiện diện của nước ngoài. Cùng với việc các đế quốc phương Tây phải rút lui khỏi gần hết các thuộc địa của họ, mục tiêu này được hoàn tất vào đầu những năm 1950.

Đồng thời, quá trình này lan rộng ra phần còn lại của thế giới A-rập. Libya độc lập năm 1951, Sudan, Tunisie và Maroc năm 1956, Mauritanie năm 1960, Kuwait năm 1961, Algérie năm 1962, Nam Yemen gồm cả thuộc địa Aden năm 1967, Các Tiểu vương quốc vùng Vịnh năm 1971. Tất cả đều gia nhập Liên đoàn các nước A-rập. Một vài nước như Nam Yemen và Algérie giành được độc lập của họ sau một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Còn các nước khác, độc lập giành được một cách hoà bình hơn, đôi khi phải qua những cuộc thương lượng khó khăn mới đi đến thoả thuận trao trả độc lập.

Trừ trường hợp của Israel, thành lập năm 1948 sau khi quyền uỷ trị Palestine chấm dứt, còn tất cả các quốc gia mới giành độc lập sau khi Thế chiến chấm dứt đều là những nước A-rập. Vào đầu thập kỷ 1990, tình hình lại có nhiều biến động sâu sắc. Năm 1991, khi Liên Xô bị tan rã, các lãnh thổ vùng Xuyên Caucasia và Trung Á bị các Sa hoàng chiếm từ thế kỷ XIX và nằm dưới chính quyền Xô viết tiếp tục thống trị trong thế kỷ XX, bất ngờ được trao một nền độc lập mà họ không chuẩn bị kỹ để tiếp nhận. Trên mặt lịch sử, tất cả những nước ấy hoặc là những bộ phận của Trung Đông hoặc dưới quyền kiểm soát của Trung Đông. Hai nước Armenia và Gruzia là những quốc gia theo Cơ Đốc giáo nhưng từ nhiều thế kỷ đã phải thần phục các đế quốc Hồi giáo Thổ hay Ba Tư. Phần còn lại, Azerbaijan và năm nước Cộng hoà Trung Á là những nước theo đạo Hồi, có tiếng nói gần giống tiếng Thổ hay tiếng Ba Tư và có hàng nghìn sợi dây ràng buộc trên các mặt lịch sử, tôn giáo và văn hóa với các nước láng giềng Trung Đông ở phía Nam. Nước Tajikistan có cả tiếng nói và văn hoá đều gắn liền với Ba Tư.

Bốn nước còn lại — Kazakstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan và Turkmenistan — có tiếng nói rất gần tiếng Thổ. Ngoại trừ tiếng Kazak, các thứ tiếng khác đều rất giống nhau, chẳng khác gì các ngôn ngữ dân gian ở các nước A-rập từ Iraq đến Maroc. Khác với người A-rập, người Thổ không có một ngôn ngữ có cùng chung chữ viết, nhưng việc xuất hiện một thế giới gồm các quốc gia gốc Thổ tương tự như thế giới A-rập mà từ lâu đã thống trị và chỉ huy nền chính trị Trung Đông, sẽ là một phát triển mới lạ và hứa hẹn nhiều xáo trộn. Những gì mà các tân quốc gia đã phải trải qua không cho phép họ có được mức chuẩn bị đầy đủ để đạt tới hay để hưởng thụ các quyền tự do của cả dân tộc hay của từng cá nhân. Và mặc dù Liên Xô đã rút khỏi đây nhưng nước Nga mới vẫn quan tâm nhiều và để ý đến các nước cộng hoà ấy, do đó vẫn muốn duy trì ở đây một sự hiện diện của Nga dưới một hình thức nào đó. Trên nhiều khía cạnh, có vẻ như thế giới Thổ đang sống lại những kinh nghiệm của thế giới A-rập một vài thập kỷ trước, khi họ tìm cách thoát khỏi vòng tay của những người chủ thực dân cũ.

Nhưng ngay cả việc giành được độc lập và chủ quyền cũng không làm chấm dứt các cuộc xung đột chính trị trong vùng. Nhiều cuộc tranh giành trước đây nay vẫn còn đó, nhiều cuộc tranh giành mới lại xuất hiện ở những quy mô khác nhau: nội bộ, nội vùng và quốc tế. Trong số các quốc gia độc lập thuộc thế giới A-rập, một số ít đã là những đơn vị lịch sử cổ xưa và không bị gián đoạn, có bản sắc riêng của mình ví dụ như Ai Cập và Maroc. Các quốc gia khác lại mới được thành lập như một đất nước và một chế độ. Nước A-rập Xa-út, mặc dù được thành lập qua quá trình chinh phục đã liên kết nhiều bộ lạc hay nhiều địa phương với nhau nhưng ít ra cũng có lợi thế là có tính thuần nhất. Tất cả dân chúng đều là người A-rập, theo Hồi giáo và trừ các tỉnh phía Đông đa số đều theo giáo phái Sun-ni. Phần lớn các tân quốc gia khác đều không có được lợi thế này và đang bị giày vò bởi những tranh giành và thù hận nội tại. Đôi khi những cuộc xung đột vũ trang nổ ra, thường được gọi là nổi dậy, cách mạng hay nội chiến, chúng chỉ khác nhau trên các mặt quan điểm và quy mô mà thôi.

Cuộc xung đột kéo dài nhất và gây ra tàn phá nhiều nhất xảy ra ỏ Liban giữa các nhóm chống đối nhau và thường là giữa các phe đối nghịch cùng trong một nhóm - chia rẽ trên cơ sở tôn giáo và giáo phái, chủng tộc và bô lạc, địa phương và cục bộ. Các xung đột ấy lại trở nên phức tạp hơn và kéo dài triền miên vì có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là các cuộc nội chiến năm 1958 và trong hai năm 1975-1976, từ năm 1983 đến 1991 thì có những giai đoạn đình chiến mỏng manh.

Một vùng khác có nhiều cuộc xung đột kéo dài là vùng Nam Arabia. Năm 1962, với sự giúp đỡ của Ai Cập, một phong trào cách mạng nôi lên lật đổ chính quyền truyền thống của nhà vua rồi thiết lập một nền cộng hoà. Sự kiện này dẫn đến những xung đột trong nhiều năm giữa các lực lượng bên ngoài — A-rập Xa-út và Ai Cập — và giữa các phe nhóm trong nước hoặc theo phe bảo hoàng hoặc theo phe cộng hoà. Nước Đại Yemen thành lập năm 1990 bằng sự liên kết giữa vương quốc cũ và cựu thuộc địa của Anh nằm chung quanh Aden lại phải chịu một cuộc nội chiến đẫm máu giữa miền Nam và miền Bắc vào năm 1994. Người Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột kéo dài ở Dhofar, một vùng đất muốn tách rời khỏi vương quốc Oman giữa những năm 1965 và 1975. Cuộc nổi dậy ở Dhofar cuối cùng bị dẹp tan nhờ sự giúp đỡ của một đạo quân viễn chinh do hoàng đế Iran phái đến. Phong trào ly khai vũ trang này lại mang một ý nghĩa vượt quá tầm địa phương vì có sự tham gia của Nam Yemen, lúc ấy là một quốc gia theo chủ nghĩa Mác-xít thân Liên Xô.

Trong nhiều nước Trung Đông khác, chính phủ phải dùng vũ lực để đàn áp các nhóm thiểu số hay các địa phương muốn ly khai, cả Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq đều phải đối phó với những bất mãn và nhiều khi cả những cuộc nổi dậy của thiểu số người Kurd. Iraq cũng phải có các hoạt động quân sự chống lại người Si-i trong các vùng trung tâm và phía Nam — trên toàn lãnh thổ Iraq, người Si-i lại chiếm đa số. Tại Sudan, người dân miền Bắc nói tiếng A-rập và theo đạo Hồi thường hay xung đột với những dân gốc Phi, không phải A-rập và không theo Hồi giáo sinh sống ở miền Nam. Tại Jordan, các bất đồng giữa cấp lãnh đạo Palestine và chính phủ hoàng gia Jordan trở nên gay gắt vào tháng Chín năm 1970 khi Tổ chức Giải phóng Palestine công khai thách thức chính quyền của nhà nước Jordan và cuối cùng họ phải chịu một thất bại đẫm máu. Có lẽ đáng lo ngại nhất là cuộc nội chiến Algérie trong những năm đầu của thập kỷ 1990, khi ban lãnh đạo của một tổ chức Hồi giáo quá khích hùng mạnh không chịu công nhận tính hợp pháp và chống đối chính phủ của nước này.

Một nguyên tắc cơ bản của Liên đoàn A-rập là không một quốc gia A- rập nào được dùng vũ lực chống lại một quốc gia A-rập khác để giải quyết các tranh chấp. Tranh chấp giữa các nước A-rập thì có rất nhiều. Có khi, một quốc gia đòi toàn bộ đất đai của một nước láng giềng vì cho đấy là lãnh thổ quốc gia của họ đã bị các thế lực đế quốc chia cắt và tách rời. Thí dụ như trường hợp của Maroc đòi Mauritanie, Ai Cập đòi Sudan, Syria đòi Liban và Iraq đòi Kuwait. Ai Cập đã từ bỏ đòi hỏi về Sudan năm 1953 và công nhận chủ quyền của nước này. Maroc công nhận Mauritanie năm 1970. Tháng Mười một năm 1994, chính phủ Iraq bắt buộc phải công nhận chủ quyền và toàn vẹn lanh thổ của Kuwait sau một cuộc xung đột dài ngày và ác liệt.

Các yêu sách của Iraq được đưa ra dưới hai hình thức, đôi khi chỉ là muốn chỉnh lại đường biên giới, khi khác lại muốn thu hồi toàn bộ Kuwait. Năm 1961 đã có một cuộc điều động quân đội của Iraq đến đe dọa Kuwait nhưng không thành công vì quân Anh được nhanh chóng gửi đến đây. Đòi hỏi của Syria trên Liban và một cách chung hơn, trên toàn bộ lãnh thổ Palestine trước đây đặt dưới uỷ trị cũng là một vấn đề nan giải. Các bất đồng và đụng độ nhỏ trên biên giới cũng hay xảy ra; giữa Maroc và Algérie năm 1963, giữa Libya và Tchad năm 1980 và 1986-1987, và một số cuộc giao tranh khác nhưng chúng chỉ có tầm quan trọng cục bộ và không gây ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển chung. Nguyên tắc của Liên đoàn A-rập lần đầu tiên bị xâm phạm nghiêm trọng năm 1990 khi Iraq xâm lược, chiếm đóng và sáp nhập quốc gia Kuwait có chủ quyền. Bắt đầu như một cuộc xung đột giữa hai nước A-rập, sự kiện này đã nhanh chóng trở thành một cuộc khủng hoảng quốc tế nghiêm trọng.

Cũng có khi, để thực hiện lý tưởng thống nhất A-rập, nhiều quốc gia trước đây có chủ quyền riêng biệt được liên hiệp lại theo một hình thức thống nhất trực tiếp và tự nguyện. Đáng chú ý nhất là sự ra đời của nước Cộng hoà A-rập Thống nhất do Ai Cập và Syria hợp nhất vào năm 1958. Sau một vài năm chung sống không thoải mái lắm, Syria tách khỏi nước Cộng hoà này và năm 1961 thì trở lại thành một quốc gia riêng biệt. Cũng còn nhiều thử nghiệm khác, phần lớn do sáng kiến của chính phủ Libya, nhưng tất cả đều thất bại.

Trừ một vài trường hợp hãn hữu, các quốc gia A-rập sau thời kỳ thuộc địa đều do nước ngoài dựng lên và mang một tính chất không được tự nhiên, nhưng chúng đã tỏ ra bền vững và khá thành công trong việc duy trì nền độc lập quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ. Dù đã có nhiều cố gắng theo cả hai hướng, nhưng cho đến nay chưa hề có một quốc gia A-rập nào bị chia cắt và cũng chưa có hai quốc gia A-rập nào thực hiện thành công sự hợp nhất, trừ trường hợp Yemen không đặc trưng cho lắm.

Trong số tất cả các xung đột xảy ra trong vùng Trung Đông từ khi Thế chiến II chấm dứt, có hai cuộc chiến đẫm máu, ác liệt và kéo dài, đó là một loạt những trận đánh ngắn giữa Israel và các nước A-rập đã bắt đầu từ năm 1948 và có lẽ đã kết thúc năm 1994, và cuộc chiến kéo dài từ 1980 đến 1988 giữa ừaq và Iran.

Cuộc chiến tranh A-rập-Israel có nguồn gốc từ những sự kiện xảy ra rất lâu trước khi nước Israel được thành lập, khi ban lãnh đạo A-rập ỏ Palestine tìm mọi cách để ngừng và đảo ngược lại việc xây dựng một quê hương quốc gia của người Do Thái trên đất nước này. Cuộc xung đột bắt đầu khi đất Palestine, lúc ấy nhân dân vùng này chưa biết đến tên gọi này, vẫn còn là một bộ phận của đế quốc Ottoman. Nhưng đến khi người Anh nhận quyền uỷ trị đây thì chiến sự trở nên gay gắt hơn, quyền uỷ trị của người Anh bao hàm ý nghĩa chính thức công nhận một quê hương quốc gia Do Thái trên đất Palestine. Đến giữa những năm 1930,1940 khi đảng Quốc xã lên cầm quyền ở Đức, và các học thuyết và thực hành của Quốc xã, bằng o ép hay bằng nhiều cách khác, lan tràn đến nhiều quốc gia khác, thì cuộc xung đột ở Palestine đạt đến một tình huống khủng hoảng. Việc bùng nổ của chủ nghĩa bài Do Thái tích cực ngay trung tâm châu Âu có vẻ như đã khẳng định cách phân tích của những người Xi-ôn-rút về số phận của người Do Thái; các nước trước đây nhận dân nhập cư ngày nay phải đóng cửa vì có tình trạng suy đồi kinh tế, những người Do Thái ngày càng đông phải rời Âu châu và sau đấy là Trung Đông đi tị nạn thì nay không biết đi đâu.

Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1945, phần lớn dân Do Thái trong những vùng ở Âu châu do Đức chiếm đóng đã bị giết, chỉ còn sống sót vài trăm nghìn người, vất vưởng trong các trại của “những người di tản”. Những người bị bắt đi từ Tây Âu đều có thể trở về nhà và tái nhập cuộc sống ở đây không chút khó khăn. Những người từ Trung Âu và Đông Âu ra đi, từ những nước gặp nhiều biến động rồi bị ngoại quốc xâm lăng và chiếm đóng thì gặp nhiều vấn đề hơn, khi họ trở về quê xưa thì thường bị những láng giềng cũ tỏ vẻ chống đối và bị hành hung. Do đó, rất nhiều người không muốn quay trở lại một chu kỳ đàn áp và vùi dập từ tay những đồng bào không muốn tiếp nhận họ trở lại, đã chấp nhận những rủi ro của một cuộc hành trình về Miền Đất Hứa.

Đối với chính phủ Anh quốc đang tìm cách chống đỡ cho các cột trụ của đế quốc khỏi bị sụp đổ và biết rõ sự oán giận ngày càng mạnh của người A- rập Palestine và nhiều nơi khác, thì việc dân di cư Do Thái ào ạt tràn vào là một vấn đề không có lối thoát. Trong gần hai năm trời, chính phủ Anh đã dùng mọi biện pháp, như ngoại giao trong các nước xuất phát và tạm trú, sử dụng các lực lượng hải quân ngoài biển khơi, các lực lượng cảnh sát trên đất Palestine ủy trị, cốt để ngăn chặn, chuyển hướng hay đẩy lùi làn sóng nhập cư. Nhưng các nỗ lực quân sự hay cảnh sát đều ít hiệu quả, và ở một thời điểm mà thế giới phương Tây còn bàng hoàng sau khi phát hiện ra cuộc tàn sát diệt chủng người Do Thái do Quốc xã thực hiện nên có cảm tình với người Do Thái, khi mà khối các nước Xô viết, vì những lý do riêng, lại ủng hộ người Do Thái chống lại nước Anh, thì các nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả gì, nhiều khi còn phản tác dụng nữa.

Ngoài ra, khi quyền thống trị của người Anh ở Ấn Độ đã chấm dứt, lý do chính để lại Trung Đông không còn nữa, và một nước Anh sau chiến tranh đã bị suy yếu và nghèo khó hơn trước không còn duyên cớ nào nữa để tiếp tục một chính sách vừa khó khăn, vừa vô bổ mà còn bị chống đối ngày càng nhiều ở trong và ngoài nước. Ngày 2 tháng Tư năm 1947, chính phủ Anh tuyên bố là sẽ trao lại cho Liên Hiệp Quốc quyền uỷ trị mà nước Anh nhận được từ tay Hội Quốc Liên ngày nay đã không còn, và từ bỏ quyền uỷ trị trên đất Palestine. Vài tháng sau, ngày chấm dứt quyền uỷ trị và triệt thoái quân Anh được xác định là ngày thứ Bảy, 15 tháng Năm năm 1948.

Trong vòng hơn một năm, người Anh vẫn còn lại Palestine nhưng chỉ với tư cách một chính phủ quá độ, trách nhiệm quyết định số phận tương lai của lãnh thổ uỷ trị cũ nay thuộc về Liên Hiệp Quốc. Sau nhiều cuộc thương thuyết phức tạp và kéo dài, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết ngày 29 tháng Mười một năm 1947 chia Palestine thành ba phần: một nhà nước Do Thái, một nhà nước A-rập và một bộ phận riêng biệt (corpus separaturri) theo pháp lý quốc tế là thành phố Jerusalem. Đại Hội đồng thông qua nghị quyết với đa số cần thiết là hai phần ba số phiếu nhưng không nói đến cách thực thi của nó.

Nhưng viẹc chống đối nghị quyết này lại được những tổ chức khác bàn đến. Ngày 17 tháng Mười hai năm 1947, Hội đồng của Liên đoàn A-rập tuyên bố là họ sẽ chống lại việc chia cắt Palestine, nếu cần thiết thì sẽ dùng vũ lực. Ban lãnh đạo Palestine lại tiếp tục cuộc chiến đấu vũ trang chống lại chính phủ uỷ trị và cốông lại quê hương quốc gia Do Thái. Ban lãnh đạo Do Thái ở Palestine thì chấp nhận kế hoạch do Liên Hiệp Quốc đề ra. Vì quyền uỷ trị chấm dứt vào ngày thứ Bảy, là ngày nghỉ Sabbath của người Do Thái, cho nên họ quyết định đi trước vài tiếng đồng hồ, và trong ngày thứ Sáu 14 tháng Năm năm 1948, họ tuyên bố việc thành lập một nhà nước lấy tên là Israel trên phần lãnh thổ mà Liên Hiệp Quôc trao cho họ theo kế hoạch chia cắt. Ban lãnh đạo Palestine đã đấu tranh từ trước chống lại việc thành lập này, bây giờ họ được quân đội các nước láng giềng và cả của những nước A-rập xa hơn đến hỗ trợ.

Cuộc chiến giữa người Do Thái và người A-rập đã giảm cường độ trong những năm xảy ra Thế chiến II, năm 1947 nó bùng nổ trở lại và tiếp diễn cho đến lúc quyền uỷ trị kết thúc và cả sau đó. Người A-rập Palestine nhận được sự trợ giúp của một đạo quân tình nguyện Syria mang tên Quân Giải phóng A-rập. Ngay sau khi thành lập, nhà nước Israel đã được Hoa Kỳ công nhận ngay trên thực tế (de facto) và Liên Xô công nhận trên pháp lý (de jure), thành thử với sự can thiệp vũ trang của các nước A-rập láng giềng, cuộc xung đột đã mang một tầm vóc quốc tế. Cuộc xung đột giành Palestine trở thành cuộc chiến tranh giữa Israel và các nước A-rập.

Đứng trước những trở lực như thế, có vẻ như nhà nước non trẻ này khó lòng sống sót. Nhưng chỉ sau vài tuần chiến đấu trong tuyệt vọng, Israel đã đảo ngược được tình hình. Người Israel bị chẹn giữa quân thù và biển cả đã tỏ ra có một sức mạnh không ai ngờ đến, trong khi đó thì liên quân A-rập lại quá chủ quan khinh địch và bị những tranh giành giữa các triều đại và giữa các quốc gia làm cho suy yếu đi.

Cuộc chiến lần thứ nhất này kéo dài vài tháng, thỉnh thoảng lại có đình chiến do Liên Hiệp Quốc giúp thương lượng giùm cho. Trong các giai đoạn nối tiếp nhau ấy, tình hình quân sự đã có những thay đổi mang tính quyết định. Nhà nước Israel đã chống trả được cuộc tấn công A-rập đầu tiên, không những giữ vững được phòng tuyến mà còn có thể mỏ rộng thêm lãnh thổ. Phần còn lại của Palestine thì do quân đội các lân bang chiếm giữ - người Ai Cập chiếm Gaza và vùng đất ngày nay được gọi là “dải Gaza”, người Jordan trên Bờ Tây và tại Đông Jerusalem, người Syria thì chiếm một khoảnh đất trên bờ Đông Biển Galilée. Từ tháng Giêng đến tháng Tư năm 1949, nhiều hiệp định đình chiến được Israel và các lân bang A-rập thương lượng rồi ký kết trên đảo Rhodes.

Trong nhiều thập kỷ, đấy là những văn kiện chính thức có tính pháp lý được cả hai bên công nhận để làm cơ sở cho các mối quan hệ giữa những bên ký kết. Các quốc gia A-rập tuyên bố rõ là việc chấp nhận các điều khoản đình chiến không có nghĩa là họ công nhận hay chấp nhận nhà nước Israel và các biên giới của nó. Hiệp định ký với Liban thì khẳng định lại biên giới quốc tế đã có từ trước giữa hai phía; các hiệp định ký với Ai Cập, Jordan và Syria chỉ công nhận các ranh giới đình chiến, còn việc hoạch định các biên giới chính trị và lãnh thổ thì dành cho “đợt giải quyết cuối cùng của vấn đề Palestine”.[1]

Trong quá trình chiến đấu, rất nhiều người A-rập Palestine trong những vùng do Israel chiếm đóng đã bỏ chạy hay bị đuổi khỏi nơi trú ngụ của họ và trở thành người tỵ nạn trong các nước A-rập láng giềng. Chứng cớ và các yêu sách thường trái ngược nhau, nhưng ở nhiều nơi có lẽ cả hai tình huống trên đã xảy ra. Số dân tỵ nạn lúc bấy giờ được các cơ quan Liên Hiệp Quốc ước tính là 726.000 người.

Giữa những rối loạn của chiến tranh và những bấp bênh của thương lượng, trong tình cảnh khổ cực của những người chạy giặc và bị trục xuất, dân tỵ nạn Palestine phải chịu chung số phận của hàng triệu nạn nhân khác ở Ấn Độ cũng như ở Đông Âu và nhiều nơi khác trên thế giới trong các cuộc xáo trộn đẫm máu để hình thành một thế giới mới sau Thế chiến II. Nhưng tình cảnh của họ lại đặc biệt, không giống những người tỵ nạn khác vì họ không được hồi hương hay định cư mà bị bỏ mặc hay bị giữ lại trong các trại tỵ nạn, qua bao nhiêu thế hệ, họ và con cháu họ chỉ là những người tỵ nạn không quốc tịch. Chỉ có một ngoại lệ ở Jordan, nơi mà chính phủ hoàng gia Hashimite chính thức sáp nhập các lãnh thổ ở bờ Tây đang do quân Jordan chiếm đóng và sau đó cấp quốc tịch cho tất cả những người A- rập Palestine. Cũng trong khoảng thời gian ấy, Israel phải nhận hàng trăm ngàn người Do Thái chạy trốn hay bị trục xuất khỏi các nước A-rập. Họ đã không chịu nổi số phận dành cho họ trong lúc cuộc xung đột A-rập - Do Thái đang nóng bỏng.

Cuộc chiến năm 1948-1949 đã mở đầu cho một loạt các xung đột giữa Israel và các lân bang A-rập, những nước này có khi liên hiệp với nhau, có khi chiến đấu riêng rẽ. Trách nhiệm phát động các cuộc chiến ấy thuộc về cả hai phía. Các cuộc chiến năm 1948 và 1973 đều do các chính phủ A-rập phát động, những năm 1956 và 1982 thì chính Israel chủ động gây chiến. Trách nhiệm về cuộc chiến năm 1967 thì thật khó phân định. Ngày nay, khi người ta có nhiều thông tin hơn về trình tự của các sự kiện dẫn đến chiến tranh, thì xem ra là các bên tham chiến chẳng khác gì các nhân vật của một bi kịch Hy Lạp, ở mỗi giai đoạn, các diễn viên không có cách nào khác hơn là phải tiến thêm một bước trên con đường dẫn đến chiến tranh.

Cuộc chiến mang đầy kịch tính nhất chắc chắn là cuộc xung đột năm 1967, khi mà chỉ trong sáu ngày, lực lượng vũ trang của Israel đã nhanh chóng và liên tục giáng những đòn chí tử lên các quân đội của Ai Cập, Jordan, và Syria và một đạo quân đến từ Iraq. Khi cuộc chiến kết thúc, Israel không những chỉ chiếm toàn bộ vùng đất Palestine trước đây dưới quyền uỷ trị nằm trên bờ Tây sông Jordan mà trên miền Bắc còn nắm được cao nguyên Golan của Syria và dưới miền Nam đoạt được bán đảo Sinai từ tay Ai Cập. Giới tuyến quân sự của Israel nay là kênh đào Suez, sông Jordan và cao nguyên Golan, chỉ cách thủ đô Damascus chừng 50 km. Người Israel nắm giữ bán đảo Sinai đến tận năm 1979 khi có một hiệp định hoà bình với Ai Cập, hiệp định đầu tiên ký với một nước A-rập, theo đó hoà bình và quan hệ ngoại giao bình thường giữa hai nước được vãn hồi và quân đội Israel sẽ từng bước rút lui về sau đường biên giới quốc tế cũ giữa lãnh thổ Palestine dưới quyền uỷ trị và vương quốc Ai Cập trước đây. Vào tháng Mười năm 1994, một hiệp định hoà bình thứ hai được ký kết giữa Israel và một nước A-rập thứ hai la Jordan. Các cuộc thương lượng giữa Israel và Syria cũng đã bắt đầu, có lẽ cũng với một mục đích tương tự.

Việc người Israel mở rộng quyền kiểm soát sang Bờ Tây và dải Gaza đã làm nảy sinh một nhân tố mới trong cuộc xung đột: đó là việc ban lãnh đạo Palestine tích cực tham gia vào cuộc chiến. Giữa những năm 1949 và 1967, Liên đoàn A-rập, đặc biệt là các nước A-rập đang chiếm những phần đất của Palestine, tự cho mình có quyền đại diện cho Palestine và không khuyến khích, nhiều khi còn ngăn chặn việc tham gia tích cực của người Palestine vào quá trình chính trị. Các thất bại toàn diện của những quốc gia này trong cuộc chiến năm 1967 đã chấm dứt những yêu sách ấy và cũng nâng cao vị trí của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) thành lập trước đấy ba năm, và cho đến thời điểm ấy chỉ là một công cụ cho chính sách của phe Liên A-rập. Bây giờ thì tổ chức ấy có được một vai trò hoàn toàn mới, và khi quân du kích tiêh ra chiến trường chống lại Israel để thay thế cho những người lính chính quy A-rập đang rút lui, thì PLO nhanh chóng trở thành một đối tác quốc tế quan trọng. Trong vòng 25 năm, ban lãnh đạo PLO đã tiến hành một cuộc chiến đấu mà tuỳ theo góc độ quan sát, người ta gán cho các tên khác nhau như kháng chiến, du kích chiến hay chiến tranh khủng bố. Căn cứ địa đầu tiên của họ là Jordan, nhưng đến năm 1970 vì có đụng độ với chính phủ hoàng gia Jordan, họ phải rút sang Liban. Trên đất nước này, trong điều kiện nội chiến và do sự suy yếu của chính quyền trung ương mà họ thiết lập được một nhà nước trong nhà nước dưới quyền kiểm soát của PLO. Tình trạng này kéo dài đến năm 1982, khi quân Israel kéo vào Liban và trục xuất PLO. Ban lãnh đạo cùng đại bản doanh của PLO phải dời sang Tunis và họ đóng ở đó cho đến năm 1994.

Trong giai đoạn cuối này, tính chất cuộc chiến đấu của PLO chống Israel đã có thay đổi. Trước đây, các hoạt động của họ chủ yếu là tấn công vào người Israel và các mục tiêu khác ở nước ngoài với chủ định chính là đánh động dư luận thế giới. Vào cuối thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990, người Palestine đem chiến tranh trở lại vùng bị chiếm đóng mà phát động một giai đoạn kháng chiến và nổi dậy mới mang tên Intifada. Intifada không nhắm vào các mục tiêu phi quân sự ở nước ngoài nữa mà tấn công các nhân viên và công cụ của cuộc chiếm đóng ở trong nước với mục đích chính là làm suy yếu và làm nản lòng quân chiếm đóng hơn là gây tiếng vang trực tiếp. Cuối cùng, vào năm 1993, PLO và chính phủ Israel quyết định công nhận lẫn nhau và đi vào đàm phán. Kết quả là hai bên thoả thuận tạm thời việc Israel trao quyền lực quân sự và cảnh sát cho người Palestine trên dải Gaza và trên Bờ Tây.

Các phát triển này không thể nào không chịu ảnh hưởng và đôi khi còn được quyết định bởi các khía cạnh quốc tế của cuộc xung đột A-rập - Israel. Năm 1948-1949, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều ủng hộ nhà nước Israel non trẻ trên mặt ngoại giao. Trong những năm ấy, Stalin xem nước Anh, chứ không phải Hoa Kỳ, là đối thủ chính của mình trên trường quốc tế, và nhà nước Israel là cơ may tốt nhất để làm xói mòn vị trí của người Anh ở Trung Đông. Để theo đuổi mục tiêu ấy, ông cho phép Tiệp Khắc, lúc ấy là một nước xã hội chủ nghĩa, thân Liên Xô, cung cấp vũ khí cho Israel, nhờ đó mà nước này chống trả được cuộc chiến lần thứ nhất. Còn về phía Mỹ thì cũng có những trợ giúp quân sự từ những nguồn tư nhân, mặc dù Mỹ chính thức cấm vận vũ khí đến các bên tham chiến. Năm 1956, khi Anh và Pháp cho quân đổ bộ lên Ai Cập, lấy cớ là để làm hàng rào ngăn quân Israel và quân Ai Cập nhưng kỳ thật là đã có thoả thuận trước với người Israel, thì chính phủ Hoa Kỳ rồi cả chính phủ Liên Xô đều cương quyết chống lại ba quốc gia xâm lược và bằng nhiều biện pháp đã bắt họ rút lui khỏi lãnh thổ Ai Cập.

Nhưng cũng vào thời điểm ấy, tình hình chiến lược đã hoàn toàn thay đổi. Ngay sau chiến tranh, áp lực của Liên Xô đè nặng trực tiếp lên các nước gần mình, tức là hai nước Thổ Nhĩ Kỳ và Iran thuộc nhóm nước “Dãy phía Bắc”. Trước những áp lực và lôi kéo của chính phủ Xô viết, hai nước này đã tìm kiếm sư giúp đỡ của Hoa Kỳ, lúc này đang can thiệp sâu vào Trung Đông, trước tiên là để vực dậy vị trí của người Anh đang bị suy sụp, và rồi, vì thấy đây là một mục tiêu khó thực hiện nên đã tìm cách xây dựng một hệ thống phòng thủ ở Trung Đông chống lại các tấn công có thể xảy ra của Liên Xô. Năm 1952, cả Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đều được nhận làm thành viên của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Năm 1955, chính phủ Iraq cũng được mời vào một liên minh mới cùng với Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Anh quốc, đó là Hiệp ước Baghdad. Lúc bấy giờ Mỹ chỉ là một thành viên không chính thức của liên minh này vì không muốn trở thành thành viên chính thức.

Cuối cùng thì cố gắng đưa một nước A-rập vào một liên minh do phương Tây bảo trợ tỏ ra phản tác dụng. Thổ Nhĩ Kỳ và Iran là những nước từ xưa đã có chủ quyền. Nằm ở rìa biên giới phía Nam của Liên Xô, qua các thực tiễn trong quá khứ và trong hiện tại, họ nhận thức được các mối đe dọa đến từ phương Bắc. Các nước A-rập không có được kinh nghiệm như vậy và lịch sử chính trị gần đây của họ chỉ là việc tìm cách thoát khỏi sự đô hộ của phương Tây và sau đó là tháo dỡ các mối ràng buộc với phương Tây. Việc đưa Iraq vào Hiệp ước Baghdad được dân chúng đây xem là một bước lùi nhằm lập lại quyền đô hộ của phương Tây, còn theo quan điểm của các nước A-rập khác, đặc biệt là Ai Cập dưới chế độ cộng hoà mới thành lập, thì đó lại là một cố gắng của phương Tây để thay đổi cán cân quyền lực trong vùng, bất lợi cho Ai Cập. Đến giữa thập kỷ 1990, khi người Xô viết, vượt qua các nước láng giềng của họ miền Bắc Trung Đông, lập quan hệ thân thiết với Ai Cập và các nước A-rập khác thì họ thường được hoan nghênh và họ nhanh chóng xây dựng được một thế đứng và một ảnh hưỏng vững mạnh đây; đến nỗi là có thể ký kết các hiệp định với các chính phủ A-rập và lập các căn cứ quân sự trong vùng.

Trong những năm giữa thập kỷ 1950, và nhất là trong các thập kỷ 1960 và 1970, một yếu tố quan trọng trong chính sách của Liên Xô là sự ủng hộ các nước A-rập chống lại Israel, trên mặt ngoại giao ở Liên Hiệp Quốc và tại các diễn đàn quốc tế khác, trên mặt quân sự bằng cách cung cấp các vũ khí hiện đại và trợ giúp kỹ thuật và hậu cần cho các quân đội A-rập. Việc này dẫn đến các quan hệ chiến lược mới mẻ và khăng khít giữa Hoa Kỳ và Israel, Hoa Kỳ trở thành nguồn ủng hộ chính của Israel trên các mặt ngoại giao, chiến lược và về sau là cả tài chính nữa.

Các phát triển này làm cho cuộc xưng đột giữa các nước A-rập và Israel trỏ thành một vấn đề chính của cuộc Chiến tranh lạnh. Trong vấn đề Trung Đông cũng như trong nhiều vấn đề khác, sự có mặt của các cường quốc bên cạnh những nước được họ bảo trợ có thể ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng hay hạn chế các tác động của chúng nhưng đồng thời cũng chặn đứng bất kỳ một tiến bộ nào có thể thật sự dẫn đến một giải pháp. Đối với quá trình lập lại hoà bình ở Trung Đông, cũng như ở các nơi khác trên thế giới, điều kiện tiên quyết là phải chấm dứt Chiến tranh lạnh.

Trong tất cả các cuộc chiến tranh xảy ra giữa các quốc gia và dân tộc vùng Trung Đông, cuộc xung đột A-rập - Israel gây được sự chú ý lớn nhất của thế giới bên ngoài, một phần vì có sự can thiệp trực tiếp của hai siêu cường đối nghịch nhau và một phần có lẽ vì các quyền lợi và các mối quan tâm có rất ít quan hệ đến những mục tiêu đề ra. Những yếu tố ngoại lai này đã ngăn không cho có được một giải pháp dứt khoát cho cuộc xung đột bằng một chiến thắng của bên này hay bên kia. Do đó, cuộc xung đột thật ra chỉ là một loạt các cuộc chiến ngắn và mãnh liệt luôn luôn dừng lại vì có những can thiệp của bên ngoài và những chiến thắng giành được cùng lắm cũng chỉ trên mặt chiến thuật chứ không bao giờ trên mặt chiến lược. Kết quả không ai muốn có là khi xử lý các vấn đề này, vai trò của các tổ chức quốc tế không phải là tìm ra giải pháp mà lại là nuôi dưỡng cho chiến tranh tiếp diễn.

Các phản ứng trước cuộc chiến tranh giữa Iran và Iraq xảy ra từ 1980 đến 1988 thì lại rất khác. Khác với những người A-rập và người Israel, cả hai đối thủ đều không có sự ủng hộ mạnh mẽ của quốc tế, mà ít ra cũng có tác động ngược lại vì cả hai phía đều bị thế giới bên ngoài ghét bỏ. Cả hai quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế có vẻ như không cố gắng hay cũng không mạo hiểm để tìm ra những giải pháp nhằm chấm dứt cuộc xung đột. Kết quả là cuộc chiến tranh này kéo dài lâu hơn Thế chiến II, và sự tàn phá cũng như số thương vong còn nghiêm trọng hơn nhiều so với tất cả các cuộc chiến tranh A-rập - Israel gộp lại.

Các vấn đề đặt ra trong cuộc xung đột A-rập - Israel về cơ bản rõ ràng và đơn giản. Theo thứ tự có cả thảy ba vấn đề. Israel có quyền được tồn tại hay không và nếu có thì trong những biên giới nào, bên kia biên giới ấy thì ai được nắm quyền? Cuộc chiến tranh Iran-Iraq lại có nhiều khía cạnh khác nhau. Các vấn đề thì cũng phức tạp hơn nhiều. Nó có thể và đã được mô tả là những vấn đề cá nhân, là cuộc ganh đua giữa hai nhà lãnh đạo có nhiều sức thu hút quần chúng là Khomeini và Saddam Hussein; trên mặt chủng tộc đó là cuộc xung đột giữa người Ba Tư và người A-rập; trên mặt ý thức hệ, đó là giữa sự thức tỉnh của Hồi giáo và sự hiện đại hoá mang tính thế tục (về sau Saddam Hussein có chuyên ý về vấn đề này); trên mặt giáo phái, đó là giữa hai dòng Sun-ni và Si-i; trên mặt kinh tế, đó là quyền kiểm soát các mỏ dầu trong vùng; và ngay cả trên các mặt quyền lực chính trị mặc dù đã lỗi thời thì đó là một cuộc tranh giành đất đai và bá quyền khu vực. Một điểm đáng chú ý toong cuộc xung đột này là lòng yêu nước và lòng trung thành với chính thể đương quyền của cả người Iran và người Iraq. Dân thiểu số A-rập vùng Tây Nam Iran đã không theo Iraq, cũng như giáo dân Si-i của Iraq, trừ một vài ngoại lệ, đều tỏ ra ít có cảm tình với cuộc cách mạng Iran và chế độ của nước này.

Không bị một sức ép nào trong nước hay trên trường quốc tế, cũng chưa gặp nhiều khó khăn kinh tế đáng kể - cả hai đều là nước xuất khẩu dầu mỏ — hai địch thủ này tha hồ mà tiếp tục cuộc chiến để tàn sát lân nhau trong 8 năm trời. Ban đầu, người Iran có vẻ thắng thế. Sau khi chống trả được cuộc tấn công mở màn của Iraq, họ tổ chức phản công mạnh mẽ và tiến vào lãnh thổ Iraq. Người Iraq được sự giúp đỡ về tình báo vá hậu cần của Mỹ, và có sự ủng hộ tài chính của các nước A-rập giàu có đã chặn đứng được cuộc phản công này, và cuối cùng Iran phải đồng ý lập lại một nền hoà bình trong đó Iraq hơi có lợi thế hơn.

Saddam Hussein đã gần như chiến thắng trong cuộc đụng đầu với Iran, và việc thế giới bên ngoài không có phản ứng trước cuộc tấn công của ông đã làm cho ông mạnh bạo hơn để phát động một cuộc chiến mới bằng cách xâm lược, chiếm đóng rồi sáp nhập nước Kuwait vào tháng Tám năm 1990.

Khi phát động hai cuộc chiến tranh này, Saddam Hussein đã có những tính toán trên cả hai mặt chính trị và quân sự, cả hai đều đúng và cũng đều sai. Khi tấn công Iran, ông đã phán đoán đúng là không một quốc gia nào trong hay ngoài vùng lại đi ủng hộ một chính thể cách mạng mà họ thù ghét và khiếp sợ. Ông cũng tính toán sai là trong thời buổi có các xáo trộn ở Iran do cuộc cách mạng gây nên thì xâm lăng nước này thật dễ như trở bàn tay. Mười năm sau, khi xâm lược Kuwait, các tính toán đúng vá sai lại đi ngược lại. Trên mặt quân sự, việc ông tính toán rằng cuộc xâm lăng và sáp nhập Kuwait chẳng mấy khó khăn đã tỏ ra đúng đắn. Nhưng trên mặt chính trị, giả định của ông là các quốc gia trong vùng sẽ ủng họ ông hay ít ra cũng đồng tình, còn các cường quốc ngoài vùng bất quá cũng chỉ phản đối cho có lệ thì cuối cùng dã là một sai lầm thảm hại.

Sai lầm ấy xuất phát từ chỗ Saddam Hussein không tính đến những đổi thay trong chính trường quốc tế. Vào mùa hè năm 1990, một quá trình đã bắt đầu dẫn đến sự tan rã của Liên Xô và sự kết thúc của Chiến tranh lạnh trong những tháng sau. Không như trong quá khứ, khi siêu cường đỡ đầu Saddam Hussein thận trọng ngăn không cho ông dấn thân vào những cuộc phiêu lưu mạo hiểm, thì ngày nay ông mặc sức mà tự do vẫy vùng. Nhưng ông phải trả một giá khá đắt. Các sự kiện xảy ra sau đó chứng minh một cách hùng hồn là ông không thể nhờ cậy vào siêu cường bảo hộ để che chở cho mình chống lại siêu cường kia mà các nạn nhân trong vùng của ông đã mời đến giúp đỡ họ.

Một ván bài mới được hình thành Trung Đông. Trong bối cảnh này, các cường quốc bên ngoài không còn là người quyết định hay điều khiển các sự kiện xảy ra trong vùng này nữa. Chỉ có các chính sách và hành động của các chính phủ Trung Đông mới gây ra hay kéo theo những can thiệp mà các cường quốc bên ngoài càng ngày càng không muốn nhúng tay vào. Cuộc chiến tranh ở Kuwait năm 1990, khác với những xung đột trước đây trong vùng, không phải do sự giành giật của các cường quốc bên ngoài châm ngòi và nuôi dưỡng. Đó là một cuộc xung đột có tính chất địa phương, chắc chắn là giữa các nước A-rập với nhau, và các cường quốc bên ngoài, đứng đầu là Hoa Kỳ, chỉ bị lôi cuốn vào mà thôi. Cuộc chiến tranh ấy và hậu quả của nó cho thấy cả hai siêu cường đã thật sự rút khỏi chiến trường Trung Đông, một siêu cường thì không còn khả năng, siêu cường kia thì không còn ý muốn đóng vai trò đế quốc ở đây, ngay cả việc đơn thuần dành cho vùng này một sự bảo vệ chống lại những kẻ gây rối sở tại, họ cũng không muốn làm.

Những thất bại của quân đội Saddam Hussein trước một liên quân gồm cả các nước trong và ngoài vùng đã đến một cách nhanh chóng và dễ dàng, khác hẳn với cuộc chiến tranh kéo dài 8 năm giữa Iraq và Iran. Nhưng sau khi đánh đuổi quân Iraq khỏi Kuwait, Mỹ và các đồng minh để mọi việc như cũ, nghĩa là cho Saddam Hussein và chế độ của ông tồn tại như ban đầu. Về quyết định này thì đã có nhiều giải thích, với những mức độ đúng đắn khác nhau nhưng hình như có một lý do cơ bản khá rõ ràng. Trong tình hình năm 1991, lật đổ chính quyền này có nghĩa là phải đưa lên một chính quyền khác để thay thế, và như vây lại cần có một hình thức hỗ trợ và bảo vệ cho nó, làm cho người ta liên tưởng ngay đến các chế độ uỷ trị và bảo hộ, hoặc chính thức hoặc không chính thức trong thời quá khứ. Được biết là Hoa Kỳ không hề có ý định bổ nhiệm một viên toàn quyền ở Baghdad, và một hành động như thế chắc chắn là các đồng minh A-rập của Mỹ cũng không thể chấp nhận. Thay vào đấy, người ta đã quyết định để cho nhân dân Iraq - và đấy cũng là quyền chính đáng của họ - có thể lựa chọn hoặc giữ nguyên, hoặc thay đổi hoặc thay thế chính phủ của đất nước họ. Các hậu quả thực tiễn của chính sách này được thấy rõ trong giai đoạn tiếp ngay sau cuộc đình chiến giữa Iraq và liên quân. Saddam Hussein đã đàn áp tàn nhẫn các phong trào chống đối của người Kurd miền Bắc, người Si-i miền Nam và của nhiều thành phần khác miền Trung.

Bài học lịch sử này thật rõ rệt. Hoa Kỳ có thể hành động cương quyết để bảo vệ quyền lợi cốt yếu của mình và của cộng đồng quốc tế, và chỉ qua nhiều thử nghiệm mới định nghĩa được các quyền lợi ấy là những gì. Phần còn lại, các chính phủ và nhân dân Trung Đông phải tự lo liệu lấy. Vùng Trung Đông trở nên tự do hơn, nhưng cũng có nhiều mầm mống nguy hiếm hơn.

Cuộc Chiến tranh lạnh chấm dứt và nền trật tự lưỡng cực mà hai siêu cường áp đặt, khi thì đối kháng nhau khi thì đồng loã với nhau, cũng cáo chung. Các dân tộc Trung Đông, cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, không còn bị hai siêu cường kiểm soát và không chế, nay đang đứng trước một sự lựa chọn đau đớn. Họ có thể, như một vài vùng trên thế giới, chậm chạp và thận trọng, nhích lại gần nhau, xoá bỏ tranh chấp để cùng nhau chung sống hoà bình, hay họ cũng có thể buông lỏng cho xung đột và hận thù mặc sức hoành hành để rồi rơi vào vòng xoáy trôn ốc của chiến tranh, giết chóc và đau khổ, điều đã xảy ra ở nhiều nơi khác. Chính những viễn cảnh của chém giết dẫn đến tình trạng hỗn loạn và cũng vì ý thức được là có những thế lực, ngay trong vùng chứ không phải ngoài vùng, đang tìm cách đưa Trung Đông vào tình trạng này, mà chính phủ Israel cũng như ban lãnh đạo của Tổ chức Giải phóng Palestine và một số chính phủ A-rập đã đi vào thương thuyết, rồi nhờ có sự trợ giúp bên ngoài, đặc biệt là của Mỹ, họ đang tiến tới việc công nhận lẫn nhau, tha thứ cho nhau và thiết thực hơn nữa, chuyển giao những vùng đất bị Israel chiếm đóng sang cho người Palestine.

Khi Israel rời bỏ những vùng họ chiếm đóng thì người Palestine là dân tộc A-rập cuối cùng có vẻ đang thực hiện được giấc mơ tự do của mình. Nhưng người dân Palestine, cũng như người dân A-rập trước đây, đang phải bàn cãi về một vấn đề khác lạ và ngày càng cấp bách, đó là sau khi thoát ách đô hộ của người nước ngoài, họ thật sự muốn hưởng một hình thức tự do nào? Đối với các dân tộc dưới quyền thống trị của ngoại bang, mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu duy nhất của nhiều người, là thoát khỏi ách thống trị ấy. Nhưng ngay cả khi còn bị ngoại bang đô hộ, người ta đã bắt đầu tranh cãi về tính chất của chế độ tương lai. Đến khi đã giành được độc lập, cuộc tranh cãi lại càng trở nên cấp bách.

Cả người Anh lẫn người Pháp đều đã tạo ra những quốc gia theo hình ảnh của họ. Người Pháp lập ra những nước cộng hoà đại nghị, còn người Anh xây dựng các vương quốc lập hiến. Sau khi họ bỏ đi, phần lớn các chế độ này bị sụp đổ, nhân dân trong vùng không còn hưởng ứng nữa và đi tìm những mô hình khác.

Sau khi các nước phe Trục bại trận thì những mối đe dọa chính trị và chiến lược của họ đối với vùng Trung Đông cũng tan biến, nhưng tác động của các tư tưởng họ gieo rắc trên các phong trào dân tộc chủ nghĩa đang nổi lên hì vẫn còn đó, có khi lại lớn mạnh thêm. Cách suy nghĩ mới và các phong trào xã hội và chính trị có một sức hấp dẫn kép, trước hết chúng chống lại phương Tây, như thế cũng đã đủ sức quyến rũ; sau đó, các tư tưởng và chiến lược xã hội đề ra lại rất gần với các thực tế và các truyền thống trong vùng. Trong những nước mà biên giới chưa được hoạch định chắc chắn và bản sắc dân tộc có thể thay đổi thì người ta cảm nhận chủ nghĩa chủng tộc dễ hơn chủ nghĩa yêu nước. Cũng tương tự như vậy, các chủ nghĩa cấp tiến và độc đoán có sức hấp dẫn hơn là các tư tưởng tự do. Các bản sắc và các quyền lợi của thôn xóm và của cộng đồng thường có ý nghĩa hơn là các ý niệm về cá nhân mà phương Tây đưa ra, các tư tưởng ấy ở đây có vẻ không đúng chỗ và không phù hợp. Những ảnh hưởng này đã và vẫn còn tác động mạnh ở Syria và ở Iraq hơn là ở Ai Cập vì nước này đã có một bản sắc dân tộc mạnh mẽ hơn, một truyền thống tự do lâu đời hơn và một kinh nghiệm về chế độ đại nghị rộng rãi hơn và có hiệu quả hơn.

Việc thất bại của liên quân A-rập không ngăn nổi sự ra đời của Israel làm cho các nước A-rập phải tự kiểm điểm mình một cách sâu xa, và chỉ trong vòng một vài năm đã dẫn đến sự lật đổ nhiều vua chúa, đôi khi của cả những chế độ bị xem là phải chịu trách nhiệm cho tình trạng này. Chế độ đầu tiên bị lật đổ là của Syria; tháng Ba năm 1949, Đại tá Husni Zaim, trong một cuộc đảo chính không đổ máu, đã kết liễu chính quyền tổng thống và đại nghị, mở màn cho một loạt cuộc đảo chính quân sự khác. Giai đoạn các chính phủ quân sự nắm quyền chấm dứt vào năm 1954, khi ấy một chế độ đại nghị được phục hồi và các cuộc bầu cử được tổ chức. Nhưng chế độ này cũng chẳng sống được lâu. Từ năm 1958 đến năm 1961, Syria là một bộ phận của nước Cộng hoà A-rập Thống nhất. Sau khi nước này tách rời trở lại thì Syria nhanh chóng bị rơi vào chế độ độc tài của đảng Bath chuyên quyền. Vua Abdallah của Jordan bị quy trách nhiệm trong việc quân A-rập thua trận ở Palestine và tệ hại hơn nữa là đã tìm cách giảng hoà với Israel nên bị ám sát năm 1951. Dòng dõi Hashimite lúc ấy được nhiều người xem là ít vững chắc nhất trong số các chế độ A-rập, tuy nhiên họ vẫn trụ được vá con cháu của vua Abdallah, người sáng lập ra vương quốc Jordan, cứ tiếp tục nắm ngôi báu.

Những thay đổi đáng chú ý nhất xảy ra Ai Cập, trong những năm từ 1952 đến 1954, sau một loạt sự kiện, vua Faruq bị lật đổ và phải sống lưu vong, nền quân chủ bị xoá bỏ và thay vào đấy là một nước cộng hoà. Lãnh tụ đầu tiên của nước cộng hoà, tướng Muhammad Neguib, thủ lĩnh trên danh nghĩa của cuộc cách mạng, cũng nhanh chóng bị mất chức và được thay thế bởi Đại tá Nasser, thủ lĩnh thật sự của nhóm gọi là “Các sĩ quan tự do”, tức là nhóm người đã lập kế hoạch, tổ chức rồi thực hiện việc thay đổi chế độ. Chính phủ cộng hoà dần dần mất đi tính chất quân sự của nó, nhưng nó vẫn là một chính phủ độc đoán.

Sau đó, nhiều nước A-rập cũng bị làn sóng cách mạng tràn đến. Năm 1958, ở Iraq chế độ quân chủ, đặc biệt bị mất uy tín vì theo phương Tây, cũng bị lật đổ và thay thế bằng một loạt các chế độ độc tài quân sự. Cũng như Syria chế độ quân sự về sau lại được thay thế bằng một chế độ độc tài đảng trị của đảng Bath. Mặc dù có cùng nguồn gốc với đảng cầm quyền ở Syria, nhưng hai nhánh của đảng Bath ở Iraq và Syria chống đối nhau mãnh liệt.

Trong số các nước A-rập nằm gần Israel, chỉ có Liban là không tham gia tích cực vào cuộc chiến năm 1948 và cũng là nước duy nhất công nhận một biên giới quốc tế với Israel qua hiệp định đình chiến ký kết trên đảo Rhodes. Liban vẫn giữ được một chính thể đại nghị và dân chủ cho đến khi bị xoá bỏ bởi một cuộc nội chiến do sự can thiệp của nước ngoài.

Trong số các quốc gia A-rập nằm xa vùng Trung Đông thì hai nước Yemen trên bán đảo Arabia cũng như Libya và Algérie Bắc Phi đều có các cuộc cách mạng để thay đổi chính quyền. Còn những nước xa hơn, ít dính dáng đến cuộc xung đột Palestine, như Maroc Bắc Phi hay các nước trên bán đảo Arabia thì các chính quyền truyền thống vẫn tồn tại.

Còn ở các nước có liên quan mật thiết đến cuộc tranh chấp Palestine, nhiều cuộc cách mạng đã xảy ra, hết chính quyền cách mạng này đến chính quyền cách mạng khác cứ thay nhau lãnh đạo đất nước. Nhưng bất kỳ chính quyền nào mới nổi lên cũng không giải quyết được những vấn đề cơ bản đã gây ra những cuộc đổi thay chế độ: vấn đề trước mắt là sự hiện diện của Israel ở ngay giữa khu vưc và vấn đề lâu dài là Israel không những cứ tiếp tục tồn tại mà lại còn trở nên thịnh vượng mặc dù có sự chống đối của toàn thể thế giới A-rập.

Sự sống sót ban đầu của Israel sau nhiều tháng chiến đấu ác liệt có thể được giải thích như là chiến thắng của tuyệt vọng trước lòng chủ quan khinh địch. Tuy nhiên giải thích này không đủ để cắt nghĩa các chiến thắng chớp nhoáng và vũ bão mà người Israel giành được trong các cuộc chiến về sau chống lại những đạo quân lớn hơn và được trang bị tốt hơn.

Đối với một số người, việc thành lập và phát triển của Israel chỉ là sự kế tục của các hành động xâm lược mà chủ nghĩa đế quốc Tây phương dành cho các nước A-rập và Hồi giáo. Trên quan điểm ấy, Israel được tạo ra để làm đầu cầu cho sự thâm nhập và thống trị của phương Tây; chủ nghĩa Xi- ôn-nít chỉ là công cụ của chủ nghĩa đế quốc và Israel là tay sai của các cường quốc Tây phương, về sau, khi tìm đủ mọi cách để giải thích tình hình, một số người đã sử dụng các từ ngữ và hình ảnh của chủ nghĩa bài Do Thái châu Âu và mô tả lại các sự kiện nhưng trong đó người Do Thái đóng một vai trò ngược lại với vai trò nạn nhân trước đây của họ.

Một số người khác, thay vì tìm cách bới ra và lên án những hành động của người nước ngoài, đã tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phục những sai sót của chính xã hội mà họ đang sống, nhấn mạnh đến những khoảng cách giữa hai bên, với các thành tựu khoa học và kỹ thuật, các cơ cấu kinh tế và xã hội, các quyền tự do chính trị về phía Israel đem so sánh với chính họ. Trong những so sánh này, Israel, mặc dù có dân gốc Trung Đông chiếm đa số, nhưng lại là một bộ phận của phương Tây, không chỉ đơn giản là một công cụ của các nước phương Tây mà với ý nghĩa sâu xa hơn, Israel thuộc về nền văn minh Tây phương, về các thành công của Israel, người ta phải đặt chúng vào một vấn đề rộng lớn hơn mà từ nhiều thế kỷ người Hồi giáo đã phải dày công suy nghĩ, đó là vấn đề sức mạnh và sự giàu có của phương Tây đối nghịch với sự bất lực và đói nghèo tương đối của các quốc gia và các dân tộc Hồi giáo.

Để trả lời cho câu hỏi đó, cũng có nhiều cách nói. Một số người cho rằng nguyên nhân chính là sự mất đoàn kết, cả một thế giới A-rập trước đây hùng mạnh bây giờ bị chia năm xẻ bảy thành hàng chục nước nhỏ bé, tranh giành lẫn nhau, không thoả thuận với nhau trên bất kỳ vấn đề gì, bao nhiêu năng lực bị tiêu tan trong những cuộc tranh chấp và xung đột vô bổ. Giải pháp cho vấn đề này phải là chủ nghĩa liên A-rập - một lý tưởng nhắm vào sự trung thành đối với một quốc gia rộng lớn hơn, trong sạch và cao cả hơn nhiều so với các chính sách cục bộ thấp hèn của từng quốc gia A-rập. Lý tưởng này đã đạt đến đỉnh cao của nó trong giai đoạn đâu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Sức hấp dẫn cũng như cường độ của nó giảm đi khi các quốc gia giành được độc lập thật sự và các vị lãnh đạo không ai muốn mất đi quyền độc lập ấy khi phải ghép mình vào một tổ chức rộng lớn hơn. Dù sao thì lịch sử châu Âu và chắc chắn là lịch sử thế giới phương Tây đã hùng hồn chứng minh rằng sự chia rẽ không nhất thiết phải là một trở ngại cho các tiến bộ vật chất và tinh thần và trong một vài trường hợp lại còn giúp đạt đến những tiến bộ ấy một cách dễ dàng hơn.

Khi các quốc gia hình thành qua việc chia cắt vùng Trung Đông đạt đến một tình trạng ổn định và vĩnh cữu rồi thì cả trong ý thức của giới chính trị cũng như trong thực tiễn của khu vực, các chính phủ và nhân dân bắt đầu xem xét đến các vấn đề được đặt ra cũng như các giải pháp có thể áp dụng được trong cơ cấu chủ quyền quốc gia. Cuộc chiến đấu giành độc lập chính trị đã lùi vào dĩ vãng, người ta ngày càng để ý đến các vấn đề kinh tế và đặc biệt là đến sự cần thiết phải phát triển nhanh chóng nền kinh tế của đất nước. Người ta cho rằng, chỉ bằng cách này thì các quốc gia mới có vị trí của nó trong thế giới hiện đại và có đủ sức mạnh để đối phó với những kẻ thù tiên tiến. Tình hình kinh tế trong phần lớn các nước trong vùng đã tồi tệ đi nhiều, không những trên mặt tương đối khi so sánh với các nền kinh tế phương Tây và các nền kinh tế đang lớn mạnh của Viễn Đông, mà cả trên mặt tuyệt đối thể hiện qua mức sống đang giảm sút của dân chúng mà số lượng tăng lên nhanh chóng.

Từ lâu, người ta xem lời giải của các vấn đề này chỉ có thể tìm thấy với chủ nghĩa xã hội. Người ta đã nhiều lần tranh cãi và đi đến kết luận là các nước đang phát triển không có thời giờ để chờ đợi từng bước những tiến bộ không lường trước được của một nền kinh tế thị trường; họ cũng không đủ kiên nhẫn để chịu đựng một nền dân chủ chính trị đầy chuyện đột xuất và bất ngờ. Chỉ có một chính quyền cứng rắn và một nền kế hoạch hoá tập trung, nghĩa là chỉ với một chính phủ xã hội độc đoán mới có thể nhanh chóng đạt đến những phát triển cần thiết. Cách tiếp cận này lẽ tất nhiên là được cổ vũ mạnh mẽ bởi ảnh hưởng và kinh nghiệm của Liên Xô, cường quốc được phần lớn các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi lúc bấy giờ hết sức tôn trọng.

Vào giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội được nhiều giới trí thức ưa chuộng nhưng không phải họ là những người xây dựng chính quyền và áp dụng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, chẳng khác gì chủ nghĩa tự do của thế hệ trước, được áp đặt từ trên xuống và cũng chẳng thành công hơn chút nào. Tại Ai Cập, chủ nghĩa xã hội được áp dụng qua một quyết định của chế độ của Tổng thống Nasser, chín năm sau khi lên nắm quyền. Trong các nước khác, các chế độ quân sự và dân tộc chủ nghĩa với nhiều màu sắc khác nhau cũng áp đặt chủ nghĩa xã hội với sự tin tưởng rằng đó là con đường duy nhất đi đến phát triển kinh tế nhanh chóng. Có nhiều hình thức xã hội chủ nghĩa, một số ang ít nhiều tính Mac-xít, theo kiểu gần giống Liên Xô, một số khác, “chủ nghĩa xã hội A-rập” lại có vẻ nhân đao hơn, ít cứng rắn hơn và thích nghi hơn với các điều kiện của xã hội A-rập.

Khoảng đầu thập kỷ 1990, rõ ràng là chủ nghĩa xã hội cả A-rập và Mác-xít đều thất bại và các cuộc cải cách sai lầm và vô hiệu quả mà các chính phủ đề ra đã cản trở chứ không đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế mà các nhà lãnh đạo rất quả quyết hứa hẹn còn dân chúng thì nóng lòng mong đợi.

Chỉ trên một khía cạnh là các chính sách kinh tế mang lại hiệu quả, đó là khi chúng củng cố được những chế độ độc tài khát máu tràn lan khắp mọi nơi, những chế độ mà trong đó cả các đạo đức của Hồi giáo truyền thông lẫn các tự do mới du nhập từ phương Tây đều bị bóp nghẹt và bị xoá bỏ. Thay vào đó, trong những nước gọi là xã hội chủ nghĩa, các nền chính trị mới chỉ là một loạt các chế độ độc tài chuyên chế, chúng chỉ là những phiên bản và đôi khi còn có sự hướng dẫn của các chuyên gia, của các mô hình chính trị tồi tệ nhất ở Trung và Đông Âu.

Mặc dù các chính sách kinh tế đều thất bại nhưng đây là một giai đoạn có những đổi thay rất nhanh chóng trong lĩnh vực kinh tế và có lẽ các chuyển biến xã hội và văn hoá lại còn đi nhanh hơn nữa. Trên mặt chinh trị, ảnh hưởng của phương Tây bị thu nhỏ lại đến mức tối thiểu nhưng trên tất cả các mặt khác, ảnh hưởng ấy lại có những bước tiến đáng kể.

Ảnh hưởng của phương Tây được thấy rõ nhất, tuy tràn lan khắp nơi nhưng lại ít được công nhận nhất chính là trong các đối tượng vật chất, như các cơ cấu hạ tầng, các tiện nghi của đời sống, các dịch vụ trong một quốc gia hay trong một đô thị hiện đại mà các nhà cầm quyền thuộc địa Âu châu và các nhà thầu đã đưa vào là chính. Người ta không hề có ý định đảo ngược hay làm chệch hướng quá trình hiện đại hóa. Và lẽ tất nhiên là những thứ như máy bay và xe hơi, điện thoại và máy truyền hình, xe tăng và trọng pháo đều không bị xem là đại diện cho phương Tây hay đã được phát minh ra nhờ có triết lý Tây phương.

Đáng chú ý hơn nữa, ngay cả những quốc gia quyết liệt bài Tây nhất cũng vẫn duy trì các định chế chính trị của phương Tây như hiến pháp hay quốc hội. Nước Cộng hoà Hồi giáo Iran tuyên bố là muốn khôi phục lại một chính quyền Hồi giáo chân chính nhưng lại qua một ban hiến pháp được thảo ra và một quốc hội được bầu lên — cả hai thứ chưa bao giờ có trong chủ thuyết cũng như trong lịch sử của Hồi giáo.

Có lẽ ý tưởng chính trị phương Tây mạnh mẽ nhất và vững bền nhất trong vùng Trung Đông là ý tưởng cách mạng. Lịch sử của vùng Trung Đông Hồi giáo cũng như lịch sử của nhiều xã hội khác cho thấy có đầy rẫy những cuộc nổi loạn hay những âm mưu để lật đổ chính quyền đương trị. Cũng có một truyền thống cũ trong Hồi giáo là khi các nhà lãnh đạo cho rằng nhiệm vụ thiêng liêng của họ là đánh đổ bạo quyền, lập lại công lý thì nhất định họ phải đứng lên chống lại chế độ xã hội và chính trị đương quyền. Pháp luật và truyền thống Hồi giáo có quy định về giới hạn cho sự trung thành với nhà vua và đưa ra những tranh luận - mặc dù hết sức thận trọng — về trường hợp nào mà nhà vua không còn được hưởng sự phục tùng của thần dân nữa và lúc ấy việc lật đổ và thay thế vương quyền chỉ là rất hợp pháp.

Nhưng khái niệm về cách mạng như đã được phát triển trong thế kỷ XVI Hà Lan, trong thế kỷ XVII Anh và trong thế kỷ XVIII ở Mỹ và Pháp thì thật mới lạ đối với vùng Trung Đông. Những người đầu tiên trong vùng này gán cho hành động của họ danh từ cách mạng là các nhà theo chủ nghĩa lập hiến Iran năm 1905 và những “Người Thổ Trẻ” trong đế quốc Ottoman năm 1908. Sau đó còn có nhiều cuộc cách mạng khác và vào thập niên cuối của thế kỷ XX, phần lớn các quốc gia trong vùng đều có những chính phủ lên nắm quyền sau khi dùng bạo lực để lật đổ các chế độ cũ. Trước đây, nhiều khi là do cuộc chiến đấu của nhân dân để xoá bỏ ách đô hộ của nước ngoài, về sau thì thường do các sĩ quan quân đội nổi lên chống lại các nhà cầm quyền mà họ đang phục vụ. Tất cả các hành động ấy đều được gán cho danh từ “cách mạng” với tất cả sự nhiệt tình sôi nổi; về sau chỉ có cách mạng mới được xem là nguồn gốc hợp pháp của chính quyền trong vùng Trung Đông.

Trong một số rất ít trường hợp, việc thay đổi chế độ lại xuất phát từ những chuyển động rất sâu xa trong xã hội, với những nguyên nhân và hậu quả còn to lớn hơn việc thay thế đơn thuần những người lãnh đạo. Chắc chắn cuộc Cách mạng Hồi giáo ở Iran năm 1979 là một trường hợp như vậy, nó có thể so sánh với cuộc Cách mạng Pháp và đặc biệt là cuộc Cách mạng Nga nếu xét về nguồn gốc và có thể cả về số phận cuối cùng của nó.

Dù cho sau này hay dở thế nào — ngay từ đầu đã có nhiều cách nhìn khác nhau – thin hững gì xảy ra ở Iran có thể xem là một cuộc cách mang theo đúng nghĩa cổ truyền của nó: một phong trào quần chúng đươc ủng hộ rộng rãi cuối cùng đã mang lại những đổi thay quan trọng về kinh tế cũng như về chính trị để mở đầu cho, hay nói đúng hơn là để tiếp tục, môt quá trình cải cách xã hội lớn lao.

Nước Iran dưới triều đại Pahlavi, cũng như nước Pháp dưới triều đại Bourbon hay nước Nga dưới triều đại Romanov đã chứng kiến một quá trình thay đổi đang tiến triển và đã đạt đến một mức độ mà phải có một thay đổi trong cơ cấu chính trị thì mới tiếp diễn được. Trong cuộc Cách mạng Iran cũng như trong nhiều cuộc cách mạng khác có thể là có một điều gì đã xảy ra làm chệch hướng, làm hư hỏng và ngay cả đến xoá bỏ quá trình thay đổi. Ngay từ đầu, nhiều người Iran, dựa trên những cách suy luận khác nhau, nhiều khi còn mâu thuẫn với nhau, đã cho rằng điều này thật sự đã xảy ra. Đến khi chính quyền cách mạng đã được củng cố thì càng có nhiều người cũng suy nghĩ như họ.

Cuộc cách mạng ở Iran, khác với những phong trào trước đây có mang tên cách mạng, lại là một cuộc cách mạng Hồi giáo. Các thủ lĩnh cũng như các lý thuyết gia của cuộc cách mạng ấy không thèm đếm xỉa đến các mô hình của Paris hay của Petrograd và xem các tư tưởng Âu châu thuộc phái tả hay phái hữu chỉ là những cách nhìn của kẻ thù ngoại đạo mà họ đang phải đối đầu. Xã hội của họ hoàn toàn khác hẳn, được nuôi dưỡng bằng những kinh sách và những áng văn chương cổ điển khác, được xây dựng nên từ những quá khứ khác. Các biểu tượng và các khẩu hiệu của cuộc cách mạng này phải mang tính Hồi giáo vì chỉ có chúng mới động viên được quần chúng đứng lên đấu tranh.

Hồi giáo không phải chỉ đơn thuần cung cấp các biểu tượng và các khẩu hiệu. Qua cách suy luận của những lãnh đạo và những phát ngôn viên của cuộc cách mạng ấy, Hồi giáo đề ra những mục tiêu phải đạt được, và cũng không kém phần quan trọng, Hồi giáo vạch mặt những ke thù cần phải tiêu diệt. Những kẻ thù ấy đã quá quen thuộc trong lịch sử, trong pháp luật và trong truyền thống: đó là bọn ngoại đạo ở bên ngoài và bọn chống đạo ở bên trong. Lẽ tất nhiên là đối với các nhà cách mạng, bọn chống đạo là những người Hồi giáo, đặc biệt là các vua chúa Hồi giáo, đã không chịu đi theo cách đinh nghĩa của họ thế nào là Hồi giáo chân chính mà lại còn du nhập những phong cách ngoại lai và ngoại đạo để phá hoại cộng đồng Hồi giáo, phá hoại niềm tin và luật pháp đang ngự trị trên cộng đồng ấy. Trên nguyên tắc, mục tiêu của cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran, và ở những quốc gia khác có một phong trào tương tự, là cắt bỏ hết những ung nhọt ngoại đạo và ngoại lai mà cuộc đô hộ cũng như ảnh hưởng của nước ngoài đã ghép lên đất nước và dân tộc Hồi giáo và khôi phục lại chế độ Hồi giáo chân chính do Thượng đế ban cho.

Khi quan sát kỹ các thành quả của những nhà cách mạng ở Iran và các nơi khác, ta thấy việc loại bỏ tất cả những gì đến từ phương Tây thật ra không tuyệt đối và quả quyết như luận điệu tuyên truyền của họ cho thấy và ít ra cũng có vài thứ du nhập từ đất nước của bọn ngoại đạo vẫn được hâm mộ.

Nhiều thứ du nhập ấy không sao che giấu được. Cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran là cuộc cách mạng thật sự hiện đại của kỷ nguyên điện tử. Khomeini là nhà hùng biện đầy quyến rũ đầu tiên đã từ nước ngoài gửi các bài giảng của mình ghi trên băng cát-xét về cho đồng bào mình, ông cũng là lãnh tụ cách mạng đầu tiên sống lưu vong nước ngoài dùng điện thoại để chỉ huy những người theo mình ở trong nước, nhờ có điện thoại quay số trực tiếp mà hoàng đế đã cho lắp ở Iran, ông có thể từ Pháp gọi về nước, chứ ở Iraq, nơi cư ngụ trước đây của ông thì không có. Không cần phải nhắc lại là trong các cuộc chiến tranh cả chính thức và không chính thức mà Iran tham gia vào, các lãnh tụ của họ đã sử dụng ở mức tối đa các vũ khí mà phương Tây vầ những nước bắt chước phương Tây đã bán cho họ. Lẽ tất nhiên là những vũ khí như fax, internet và ăng ten chảo để thu hình qua vệ tinh cũng được những người chông đối sử dụng để tìm cách lật đổ họ.

Đáng tiếc thay, cũng có một khía cạnh khác mà chế độ cách mạng Iran đã mượn được của châu Âu. Trong khi các biểu tượng và các tư tưởng chỉ đạo của họ hướng về Hồi giáo chứ không phải về Âu châu, thì phong cách và phương pháp của họ lại thường theo châu Âu hơn là theo Hồi giáo. Những phiên toà bôi bác và những án tử hình đối với một số đông kẻ thù trên mặt ý thức hệ; những việc đày ải hàng trăm nghìn người đi sống lưu vong; những hành động tịch thu tài sản cá nhân trên một diện rộng; những phương pháp củng cố chính quyền qua đàn áp trộn lẫn với lũng đoạn, qua bạo lực trộn lẫn với tuyên truyền nhồi sọ, tất cả đều xuất phát từ các tiền lệ do Robespierre và Stalin lập ra hơn là những điển hình của Mu-ha-mát và của Ali. Các phương pháp ấy khó có thể gọi là Hồi giáo nhưng chúng lại rất cách mạng.

Cũng như người Pháp và người Nga trước đây, những nhà cách mạng Iran biết cách đóng kịch trước khán giả quốc tế và trong nước; cuộc cách mạng của họ có một sức hấp dẫn đáng kể đối với những dân tộc khác, đối với những quốc gia có cùng nền văn hoá, cùng một thế giới tư tưởng với Iran. Sức hấp dẫn ấy lẽ tất nhiên là mạnh nhất trong số dân chúng theo giáo phái Si-i, như ở miền Nam Liban và trong một số nước vùng Vịnh, nhưng lại rất yếu ớt ở những nước lân cận theo giáo phái Sun-ni. Trong một thời gian, nó cũng có sức quyến rũ mạnh trong phần lớn thế giới Hồi giáo, ngay cả những nơi mà người ta không hề biết đến giáo phái Si-i. Tại đây, người ta không quan tâm nhiều đến sự khác biệt của các giáo phái. Giáo chủ Khomeini được xem là một lãnh tụ cách mạng Hồi giáo chứ không chỉ đơn thuần là một người Si-i hay một người Iran. Cũng như những người phương Tây cấp tiến thời xưa đã đi theo tiếng gọi của các sự kiện ở Paris và ở Petrograd với tất cả lòng nhiệt thành gần như khi họ mong đợi một vị cứu tinh giáng thế, thì ngày nay, trong thế giới Hồi giáo, hàng triệu thanh niên nam nữ, và cả những người đã quá tuổi thanh xuân, cũng đứng lên theo lời kêu gọi của cuộc cách mạng Hồi giáo này cũng với những tình cảm nồng thắm ấy, những trái tim sôi nổi ấy, những hy vọng vô bờ bến ấy, cùng với lòng tha thứ và sự biện minh cho mọi hành động dã man và cùng với những câu hỏi bức xúc đặt ra về tương lai.

Những năm tháng sau cách mạng là thời kỳ khó khăn đối với Iran. Người dân đã khổ cực vì chiến tranh với nước ngoài, lại bị chính quyền đàn áp, còn kinh tế thì suy sụp triền miên. Cũng như trong các cuộc cách mạng khác, các phe phái không ngừng chống đối nhau, giữa phe được gọi là quá khích và phe được gọi là ôn hoà nhưng chính xác là giữa những người giáo điều và những người thực tiễn. Vì có các tranh giành này và cũng vì nhiều biến đổi khác mà lý tưởng của cuộc cách mạng Hồi giáo theo kiểu Iran bị mất dần sức hấp dẫn của nó, nhưng không phải hoàn toàn mất hẳn. Các phong trào cách mạng Hồi giáo có nguồn gốc từ cách mạng Iran hay bắt chước cuộc cách mạng này hoặc phát triển song song với nó đã bùng lên trong nhiều nước Hồi giáo khác; chúng trỏ thành những đối thủ đáng gờm của các chính phủ và đôi khi chúng đã thành công trong việc giành lấy chính quyền.

Tất cả những chính quyền cách mạng ấy cũng như các chế độ quân chủ truyền thống còn sót lại đều có chung ý muốn duy trì và sử dụng cơ cấu chính trị và các lợi lộc kinh tế mà công cuộc hiện đại hoá đã mang đến cho họ. Điều mà họ căm ghét là việc người nước ngoài kiểm soát và khai thác bộ máy kinh tế chứ bản thân nguồn gốc ngoại lai của bộ máy ấy thì họ không hề đả động đến.

Cũng như hai nước Anh và Pháp trước đây, trong việc tranh giành ảnh hưởng ở Trung Đông, Liên Xô và Mỹ cố gắng tạo ra những xã hội và những chính quyền rập khuôn theo họ. Cả hai đều gặp khó khăn, đặc biệt là phía Liên Xô. Đỡ đầu cho những chính phủ độc đoán thì chẳng có gì khó khăn, nhưng muốn tạo nên một chế độ Mác-xít xã hội chủ nghĩa trong một nước Hồi giáo thì lại là một chuyện khác. Việc tạo ra một chính thể tự do dân chủ lại còn khó hơn. Nhưng nếu các chế độ dân chủ không phải dễ dàng xây dựng được thì chúng lại càng khó bị xoá bỏ. Về lâu về dài, đây là lợi thế của các nền dân chủ, cả trong và ngoài vùng Trung Đông, vượt lên trên các đối thủ của chúng là những nền chuyên chế.

Trong cuộc tranh luận dài hơi về việc sử dụng như thế nào quyền độc lập giành được sau bao nhiêu hy sinh gian khổ và làm cách nào để cải thiện đời sống của người dân, có hai luồng tư tưởng chính: đó là Hồi giáo và Dân chủ. cả hai đều tồn tại dưới những hình thức khác nhau và tương phản nhau. Khi mà tất cả các biện pháp mà người Hồi giáo đã sử dụng, mô phỏng hay bắt chước đều dẫn đến thất bại, thì cách giải thích cho rằng đấy chỉ là cách làm của bọn người nước ngoài ngoại đạo, chỉ mang hại chứ chẳng làm được gì có ích, trở nên có một sức thuyết phuc mạnh mẽ. Đối với người Hồi giáo, giải pháp là trở lại với lòng tin và luật pháp của đạo Hồi, phải là chính mình, phải loại bỏ trong quốc gia và xã hội mình những gì người nước ngoài cùng bọn ngoại đạo đã ghép vào và để xây dựng một chế độ Hồi giáo chân chính.

Còn một con đường khác là dân chủ, không phải một thứ dân chủ rẻ tiền bắt chước theo phương Tây như người ta đã làm giữa hai cuộc Thế chiến, do một nhóm nhỏ những chức sắc trên chóp bu nắm quyền định đoạt, mà phải là những định chế tự do, chân chính hoạt động mọi cấp của đời sống công cộng, từ cấp làng xã đến cấp quốc gia. Khi có những ý kiến trái ngược giữa những người theo trào lưu chính thống cực đoan và những nhà dân chủ, thì người chính thống có lợi thế rất lớn. Qua các đền thờ và các nhà thuyết giáo, họ có được một mạng lưới để gặp gỡ và trao đổi mà không một chính phủ nào, dù độc đoán đến đâu, cũng không kiểm soát nổi và không một nhóm nào khác có thể cạnh tranh được. Đôi khi, một chế độ độc đoán lại còn giúp đỡ các nhóm chính thống bằng cách tiêu diệt những tổ chức chống đối họ. Trong xã hội, chỉ còn một nhóm khác có được sự đoàn kết và một cơ cấu vững chắc để thực hiện những hành động độc lập, đó là quân đội. Quân đội chính là động lực lớn đằng sau những thay đổi chính trị trong vùng Trung Đông. Tại những nơi khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, quân đội đã hậu thuẫn cho nền dân chủ, như ở Thổ Nhĩ Kỳ; hay cho chủ nghĩa cực đoan như ở Sudan.

Có rất nhiều hình thức khác nhau của những giải pháp cả Hồi giáo và dân chủ. Nhiều người cho rằng hai tư tưởng này không thể sống chung với nhau. Những người được gọi là Hồi giáo cực đoan, dù chỉ là một thiểu số nhưng rất năng động và giữ một vai trò quan trọng trong dân chúng Hồi giáo, thì không cần đến dân chủ trừ khi đó là phương tiện để nắm chính quyền; còn những người đấu tranh cho một chế độ thế tục trong số các nhà dân chủ thì không hề che giấu ý định xoá bỏ, hay ít ra cũng giảm thiểu, vai trò truyền thống mà Hồi giáo nắm giữ trong đời sống công cộng cũng như trong chính quyền. Có lẽ còn lâu mới chấm dứt sự đối nghịch giữa một bên là truyền thống của Hồi giáo về một nhà nước dựa trên tôn giáo và bên kia những ý niệm của phương Tây về sự tách rời giữa tôn giáo và chính quyền.

Đối với dân chúng vùng Trung Đông, giai đoạn giao thời của tự do đã kéo dài quá lâu và các hệ quả của nó quá sâu xa để có thể dễ dàng quên đi. Mặc dù đã có nhiều thất bại nhưng nền dân chủ theo kiểu Tây phương vẫn còn chỗ đứng trong các nước Hồi giáo và một vài dấu hiệu phục hồi cũng đã xuất hiện. Trong một vài quốc gia, các hệ thống đại nghị và lập hiến đang trở nên rất hữu hiệu. Trong nhiều quốc gia khác, đang có những bước đi, dù còn chập chững, để tiến tới một chính sách tự do hoá chính trị cũng như kinh tế.

Trong đời sống văn hoá và xã hội, sự du nhập và sự chấp nhận các phong cách Tây phương đã tiến rất xa và tồn tại dưới những hình thức mà ngay những người phản đối tích cực nhất hay những người cấp tiến nhất cũng không hình dung được hay sẵn sàng chấp thuận. Trước tiên là các ngành nghệ thuật truyền thống. Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, truyền thống cổ xưa về tranh tí hon dùng để minh họa sách và nghề trang trí nội thất nhà cửa đã trên đường biến mất. Đến thế kỷ XIX ở những nước Âu hoá nhất, các bộ môn này được thay thế bằng những ngành nghệ thuật và kiến trúc mới chịu ảnh hưởng của các mẫu mã phương Tây và về sau chỉ sử dụng các mẫu mã này là chính. Nghệ thuật cổ xưa vẽ tranh tí hon và viết thư pháp còn tồn tại một thời gian nhưng những nghệ sĩ đi theo ngành này, trừ một số ít, mất hẳn tính sáng tạo và cũng mất đí nhiều uy tín. Vị trí của họ trong ngành sáng tác nghệ thuật của xã hội cũng bị thay thế bởi những họa sĩ theo phong cách Âu châu dùng sơn vẽ trên vải. Ngành kiến trúc, ngay cả kiến trúc các ngôi đền, cũng đi theo các quan điểm nghệ thuật chính của phương Tây và không tránh khỏi việc sử dụng các kỹ thuật Tây phương. Đôi khi cũng có những thử nghiệm để trở về các mẫu mã truyền thống của Hồi giáo, nhưng thường lại dưới hình thức một ngành nghệ thuật tân cổ điển có chủ ý. Chỉ trong một lĩnh vực là các quy chuẩn nghệ thuật Hồi giáo còn được duy trì; đó là trong ngành điêu khắc, phải dần dà và miễn cưỡng lắm mới được chấp nhận, vì bị xem là vi phạm luật Hồi giáo cấm các hình ảnh chạm trổ. Một trong những lý do chính trong việc chống đối các nhà cải cách thế tục như Kemal Ataturk Thổ Nhĩ Kỳ hay Hoàng đế Iran là vì họ hay cho lập các tượng đài của chính họ tại các nơi công cộng. Cách làm này bị xem chẳng khác gì tục tôn thờ thần tượng của những người theo tà giáo.

Song song với việc Âu hoá nghệ thuật là việc Âu hoá văn học, mặc dù đi chậm hơn và đi trễ hơn. Từ giữa thế kỷ XIX, các hình thức văn học truyền thống không còn được coi trọng nữa, ngoại trừ trong một số giới sáng tác kiên trì, nhưng ít có ảnh hưởng. Thay vào đây lá những hình thức và những tư tưởng mới du nhập từ phương Tây; đó là các tiểu thuyết và các truyện ngắn đã thay thế các truyện kể và truyện ngụ ngôn truyền thống, đó là các bài xã luận và các bài báo, đó là những thể loại và những chủ đề đã đưa đến những thay đổi trong thơ ca mới của nhân dân trong vùng. Ngay cả trong ngôn ngữ để trình bày các tác phẩm văn học mới, tất cả các nước vùng Trung Đông, cách diễn tả theo kiểu Tây phương cũng đã để lại một dấu ấn sâu sắc và không xoá nổi.

Những thay đổi trong ấm nhạc thì khó thấy hơn vì ảnh hưởng của châu Âu trong nghệ thuật âm nhạc không phải là quá lớn. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi mà ảnh hưởng của phương Tây có phần lâu dài và sâu đậm nhất, nhiều nghệ sĩ biểu diễn rất xuất sắc, có những người nổi danh trên thế giới và nhiều nhạc sĩ sáng tác theo cung cách phương Tây. Istanbul và Ankara hiện nay là những nơi có nhiều buổi hoà nhạc quốc tế không kém gì các thành phố lớn của Israel, một đất nước đã là một bộ phận của nền văn hoá phương Tây. Tại các thành phố này, vì khán thính giả khá đông và rất trung thành cho nên các buổi hoà nhạc ấy thật có giá trị. Tại các nơi khác trong vùng Trung Đông, những người sáng tác, biểu diễn thậm chí chỉ thích nghe nhạc phương Tây thì không nhiều. Âm nhạc truyền thống với nhiều loại hình khác nhau vẫn được sáng tác và biểu diễn ở mức đô cao và cũng được đại đa số dân chúng chấp thuận và hâm mộ. Gần đây, người ta cũng ưa chuộng các loại âm nhạc dân gian của phương Tây nhưng thật ra chủ yếu chỉ giới hạn trong số những nhóm nhỏ sống trong các thành phố lớn. Có lẽ âm nhạc là hình thức sâu sắc và riêng tư nhất để thể hiện bản chất của một nền văn minh, cho nên đương nhiên âm nhạc phải là lĩnh vực cuối cùng mà các ảnh hưởng bên ngoài có thể thâm nhập vào.

Một biểu hiện khác dễ nhận thấy nhất của ảnh hưởng Âu châu là trong trang phục. Việc quân đội Hồi giáo phải sử dụng trang bị và khí tài hiện đại có thể là do nhu cầu cấp bách và trong truyền thống xưa, người ta cũng nói là bắt chước quân thù ngoại đạo để đánh bại chúng thì chẳng có gì là bất hợp pháp cả. Nhưng mặc trang phục của người ngoại đạo thì lại là một chuyện khác; nó còn có một ý nghĩa văn hoá, trên mặt biểu tượng và ngay cả trên mặt tôn giáo nữa.

Trong thế kỷ XIX, quân đội Ottoman rồi sau đấy là các quân đội Hồi giáo khác, đã sử dụng quân phục theo kiểu châu Âu cho cả sĩ quan và lính, và cũng sử dụng yên cương châu Âu để thắng cho ngựa. Chỉ có mũ đội trên đầu là không theo phương Tây, lý do cho việc này cũng chính đáng. Sau cuộc cách mạng của Kemal Ataturk ở Thổ Nhĩ Kỳ, ngay cả thành luỹ cuối cùng này của chủ nghĩa bảo thủ Hồi giáo rồi cũng bị tấn công. Quân đội Thổ, cùng với dân chúng nói chung, đã sử dụng mũ nón của châu Âu, ít lâu sau quân đội và ngay cả dân thường trong hầu hết các nước Hồi giáo cũng bắt chước theo.

Đối với phu nữ thì vấn đề thay đổi cách ăn mặc lại không như vậy. Trong các thế kỷ XIX và XX, việc Âu hoá trang phục của phụ nữ thì chậm chạp hơn, muộn hơn và hạn chế hơn. Có một sự chống đối mạnh mẽ và chi một phần nhỏ trong dân chúng là chịu tác động của việc cải cách y phục. Trong nhiều tầng lớp xã hội, nếu nam giới mặc quần áo phương Tây là một việc bình thường, thì phụ nữ vẫn duy trì, hay bị bắt buộc phải duy trì, lối trang phục truyền thống. Vào giữa thế kỷ XX, ngày càng có nhiều phụ nữ mặc y phục phương Tây, ban đầu là trong tầng lớp những người nhàn rỗi, tân tiến, rồi sau đây đến lượt các phụ nữ lao động và sinh viên học sinh. Một hậu quả đáng chú ý của cuộc hồi sinh Hồi giáo là xu hướng mặc quần áo phương Tây bị đảo ngược lại và người ta trở lại sử dụng trang phục truyền thống, trong nữ giới nhiều hơn trong nam giới.

Trong số các đổi thay có thể xem là do bắt chước hay do ảnh hưởng của phương Tây, chắc chắn là những gì có quan hệ đến vị trí của người phụ nữ thì sâu xa nhất. Khi chế độ nô lệ bị xoá bỏ, việc lấy nàng hầu trỏ nên bất hợp pháp, mặc dù chế độ này còn tổn tại ít lâu các vùng sâu vùng xa, nhưng nó dần dần hiếm thấy và không được chấp nhận nữa. Trong một số ít quốc gia, đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ, Tunisie và Iran (cho đến khi hoàng đế Iran bị đánh đổ chứ không phải sau đấy), ngay cả chế độ đa thê cũng bị xoá bỏ, còn trong nhiều nước Hồi giáo khác, mặc dù chế độ này vẫn còn tồn tại, nhưng nó bị hạn chế nhiều trên mặt luật pháp và trên nhiều khía cạnh khác. Đối với các tầng lớp thượng lưu và trung lưu đô thị, chế độ đa thê không còn được chấp nhận về mặt xã hội nữa, còn đối với đám dân nghèo sống trong các thành phố, nó lại không thực tế lắm về mặt kinh tế.

Một yếu tố chính dẫn đến việc giải phóng phụ nữ là nhu cầu kinh tế. Từ xưa, phụ nữ nông thôn đã là một thành phần của lực lượng lao động, cho nên họ có một số tự do trong xã hội mà phụ nữ thành thị không được hưởng. Việc hiện đại hoá trong lĩnh vực kinh tế dẫn đến nhu cầu lao động nữ, mà trong cuộc chiến tranh hiện đại, khi nam giới bị huy động ra chiến trường thì nhu cầu này lại còn cấp thiết hơn. Đây là một yếu tố quan trọng trong đế quốc Ottoman vào thời Thế chiến I, khi phần lớn đàn ông phải phục vụ trong quân ngũ. Sự đóng góp của phụ nữ cho guồng máy kinh tế và những thay đổi trên mặt xã hội đi kèm theo đã tiếp tục trong thời gian giữa hai Thế chiến và sau đây, ngay cả hiến pháp cũng phải có một số thay đổi có lợi cho người phụ nữ. Một số tác động trên đời sống xã hội và gia đình là điều không thể tránh khỏi. Giáo dục cho phụ nữ đã có những bước tiến đáng kể và trong các thập kỷ 1970 và 1980, có rất nhiều phụ nữ được nhận vào các trường Đại học. Họ bắt đầu làm các “nghề nghiệp phụ nữ” như nghề y tá và nghề giáo viên, những nghề truyền thống của phụ nữ ở châu Âu và cũng dần dần trở nên như vậy trong các nước Hồi giáo. Ngay Iran cũng đã có những nữ bác sĩ chuyên phục vụ bệnh nhân phái nữ và đáng chú ý hơn là đã có các nữ nghị sĩ Quốc hội.

Việc phụ nữ công tác trong các ngành nghề truyền thông đối với một số người bảo thủ thật là đã đi quá mức. Giáo chủ Khomeini đã giận dữ lên án việc các phụ nữ dạy dỗ học sinh nam giới vì ông cho rằng chắc chắn nó sẽ dẫn đến đồi phong bại tuc.

Việc giải phóng phụ nữ trên mặt chính trị có những bước tiến đáng kể ở những nước có chế độ đại nghị. Vấn đề này không quan trọng lắm đối với các chính thể độc tài, dù do quân đội hay do một đảng lãnh đạo, vì cả hai đều chỉ gồm những người thuộc phe nam giới. Phương Tây thường cho rằng việc giải phóng phụ nữ là một phần của công cuộc tự do hoá chế độ, và số phận của người phụ nữ thường tốt hơn nhiều dưối các chính thể tự do hơn là dưới các chế độ độc tài. Cách đánh giá như thế thường không chính xác. Trong số các quốc gia A-rập, việc giải phóng phụ nữ được đưa ra thành luật đã đi khá xa ở Iraq và Nam Yemen, cả hai đều dưới những chế độ có tiếng là áp bức người dân. Còn ở Ai Cập là quốc gia khoan dung và cởi mở nhất trong các xã hội A-rập thì việc giải phóng phụ nữ lại tụt lùi. Trong những quốc gia như vậy, dư luận quần chúng không ủng hộ những thay đổi này vì phần lớn xã-hội là do nam giới bảo thủ khống chế. Quyền của người phụ nữ đã chịu những vi phạm nghiêm trọng nhất trong các nước chịu ảnh hưởng của những người theo xu hướng truyền thống cực đoan, hay như ở Iran, do chính những người này nắm chính quyền. Việc giải phóng phụ nữ đã là một trong những chủ đề phản đối chính của những người cực đoan và điểm mấu chót trong chương trình hành động của họ là quay ngược lại trào lưu này.

Tuy nhiên, rõ ràng là đã có những thay đổi không thể nào đảo ngược. Ngay đến những người tìm cách khôi phục lại toàn bộ Thánh luật Sharia cũng khó lòng đưa chế độ cưới nàng hầu trở lại một cách hợp pháp và người ta cũng ít thấy khả năng các tầng lớp có học thức trong các đô thị Trung Đông trở về chế độ đa thê như trước. Dưới ảnh hưởng của trào lưu chính thống, những nhà lãnh đạo theo xu hướng này đã bằng nhiều cách thay đổi nội dung và phương thức giáo dục cho phụ nữ, nhưng họ đã không và có lẽ họ cũng không muốn trở lại nếp cũ, trở lại tình trạng phụ nữ bị kìm hãm trong ngu muội. Nếu trong các nước Hồi giáo, cũng như ở châu Âu và Mỹ, có nhiều người phụ nữ lên tiếng và cả đâu tranh chống lại sự giải phóng của chính họ, thì về lâu về dài, rõ ràng xu hướng là tiến tới một quyền tự do rộng lớn hơn cho nữ giới. Ngày nay, trong các nước Hồi giáo đã có nhiều phụ nữ có học thức, thường được đào tạo ở phương Tây. Họ đã có nhiều hoạt động đáng kể và đời sống công cộng trong các nước Hồi giáo chắc sẽ phong phú thêm nhờ các đóng góp cua một nửa số dân chúng này mà trước đây đã bị đẩy ra ngoài lề.

Các xáo trộn này cũng như những thay đổi trên các mặt luật pháp, xã hội hay văn hoá đi trước, xuất hiện song song và nối gót chúng đã gây ra những phản ứng rất khác nhau trong dân chúng. Đối với nhiều phụ nữ, chúng phá vỡ nhiều trói buộc và mang lại nhiều cơ hội, còn đối với nam giới, chúng mở ra một con đường đi vào một thế giới trước đây còn bị giấu kín. Tại nhiều nơi, tác động của phương Tây đã mang đến nhiều tiền của vượt quá sư tưởng tượng của mọi người. Kỹ thuật và phương thức kinh doanh của người phương Tây đã mang đến nhiều cách làm giàu mới, còn văn hoá tiêu dùng của người phương Tây cũng mang đến nhiều cách mới để sử dụng đồng tiền kiếm được. Nhưng đối với nhiều người, không những chỉ là những người trực tiếp chịu ảnh hưởng xâu của lối sống mới mà thôi, cách làm giàu và tiêu dùng này vừa là một điều sỉ nhục vừa là một mối đe dọa, sỉ nhục đối với ý niệm về đạo lý và về chuẩn mực của họ, đồng thời là mối đe dọa chết người đối với những giá trị mà họ yêu quý nhất, đối với nền móng tôn giáo trong xã hội của họ.

Việc hiện đại hoá, hay dưới mắt của nhiều người, sự Tây hoá này, đã nới rộng khoảng cách giữa giàu và nghèo. Nó cũng làm cho khoảng cách ấy phô bày ra và được nhận thức rõ rệt hơn. Trong phần lớn các đô thị nằm ngoài bán đảo Arabia, ngày nay người giàu mặc áo quần khác người nghèo, ăn những thức ăn khác và sống theo các tiêu chuẩn xã hội không giống đám bình dân chưa được hiện đại hoá. Rồi nhờ có các phương tiện truyền thông của phương Tây, đặc biệt là qua phim ảnh và truyền hình, người dân bị thua thiệt lại còn, hơn bao giờ hết, thấy rõ khoảng cách giữa mình và những kẻ giàu sang và những gì mà họ không được hưởng.

Trong một số nước, những đau khổ và bực bội không thể tránh khỏi trong một giai đoạn có những đổi thay nhanh chóng, đã được các chính phủ khôn ngoan và ôn hoà làm dịu bớt đi. Nhưng trong phần lớn các quốc gia, chúng lại càng trở nên mãnh liệt hơn vì các chính sách quản lý kinh tế tồi tệ của những chính quyền độc đoán. Đó thật sự là những vấn đề phải giải quyết, thí dụ như vấn đề tăng quá nhanh dân số mà không kèm theo khả năng tăng nguồn lương thực trong nước một cách tương xứng. Nhưng thường thì ngay cả các tài nguyên mà một số nước có được cũng bị phung phí. Một phần cũng vì các chính phủ phải chịu một gánh nặng tài chính quá cao để duy trì bộ máy an ninh và quốc phòng nhằm giữ gìn trị an trong nước và chống lại hay làm nản lòng các thế lực thù địch nước ngoài. Nhưng gánh nặng tài chính ấy chưa phải là tất cả. Câu trả lời phỏng vấn của một nhân vật người Algérie trong một bản tín thời sự Pháp thật khá điển hình: Trước đây Algérie là vựa thóc của La Mã mà ngày nay lại phải nhập ngũ cốc đế làm bánh. Đất nước này có nhiều súc vật chăn nuôi và nhiều vườn cây, nhưng nay lại phải nhập thịt và hoa quả. Chúng tôi có nhiều tài nguyên dầu khí nhưng lại có một khoản nợ hai mươi lăm tỷ đô-la và hai triệu người thất nghiệp.” Nhân vật này còn nói thêm rằng đây là kết quả của 30 năm quản lý kinh tế tồi tệ.

Algérie có ít tài nguyên dầu mỏ nhưng lại quá đông dân. Một vài nước khác, mặc dù có nhiều dầu mỏ và ít dân, nhưng cũng đã huỷ hoại nền kinh tế của mình đồng thời bần cùng hoá dân chúng, về lâu về dài, dầu mỏ có thể là con dao hai lưỡi đối với các nước có tài nguyên này. Trên mặt chính trị, các nguồn thu nhập từ dầu mỏ thường củng cố các chế độ độc đoán vì họ không phải chịu sức ép về tài chính mà trong các quốc gia khác cũng đủ bắt buộc chính phủ phải chấp nhận các hình thức dân chủ hoá. Trên mặt kinh tế, với tài nguyên dầu mỏ, người ta thường hay đi đến một mô hình phát triển không cân đối, các nước này sẽ phụ thuộc một cách nguy hiểm vào những yếu tố ngoại lai như các biến động của giá dầu trên thế giới và về lâu về dài, ngay cả chính địa vị của dầu mỏ trong việc cung cấp năng lượng. Có những nguồn dầu mỏ khác nằm ngoài Trung Đông; cũng có những nguồn năng lượng khác ngoài dầu mỏ, hiện nay thế giới đang tích cực tìm kiếm những nguồn này vì đã quá nản lòng do luôn luôn phải đối phó với các sức ép và những bấp bênh trong cung cấp năng lượng từ Trung Đông.

Trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, Trung Đông đã trải qua hai cuộc khủng hoảng lớn. Một là trong lĩnh vực kinh tế và xã hội: đó là các khó khăn do suy thoái kinh tế đưa lại và nguy hiểm hơn là sự rệu rã về kinh tê và các hậu quả xã hội của nó. Hai là trong lĩhh vực chính trị và xã hội, đó là sự mất phương hướng của dân chúng, mất đi toàn bộ các quy luật và nguyên tắc mà mọi người đã chấp thuận để làm nền tảng cho chính quyền, nếu không có chúng thì một xã hội, ngay cả dưới một chế độ độc đoán, cũng không thể nào hoat động nổi. Việc Liên Xô tan rã lại càng làm nghiêm trọng thêm hậu quả của sư mất phương hướng nêu trên, càng làm cho việc xây dựng những đường lối mới khó khăn hơn và nguy hiểm hơn.

Cũng trong thời gian ấy, rõ ràng là trước những vấn đề họ phải đối mặt, các chính phủ và nhân dân Trung Đông không hề nhờ cậy được ai cả. Các cường quốc bên ngoài không còn quan tâm đến vùng này nưa. Trái lại, họ tỏ vẻ vô cùng ngần ngại khi phải can thiệp vào đây. Các quốc gia ngoài cuộc - có nghĩa là các nước Âu, Mỹ và ngày càng nhiều các quốc gia vùng Viễn Đông - trên cơ bản chỉ quan tâm đến ba yếu tố của Trung Đông: một thị trường rộng lớn và phát triển mạnh cho hàng hoá và dịch vụ của họ, một nguồn quan trọng cung cấp năng lượng cho họ và được xem là những biên pháp cần thiết để bảo đảm cho hai yếu tố trên, là việc duy trì một hình thức nào đó của luật pháp và trật tự quốc tế.

Các tình huống có thể dẫn đến sự can thiệp quân sự từ bên ngoài có thể được điển hình hoá qua cuộc xâm lăng và sáp nhập Kuwait của Saddam Hussein và những đe dọa tức thời đến Saudi Arabia và các nước vùng Vịnh. Thế giới bên ngoài lúc ấy phải đối mặt với hai mối đe dọa. Trước tiên, nguồn dầu mỏ trong vùng, tức là một phần quan trọng của tài nguyên dầu mỏ thế giới, có thể bị rơi vào tay một nhà độc tài xâm lược. Sau đó là nguy cơ sụp đổ của toàn bộ nền trật tự quốc tế xây dựng nên sau Thế chiến dẫu đã có nhiều cuộc xung đột trên nhiều lục địa, nhưng lần đầu tiên người ta thấy một thành viên có tên tuổi của Liên Hiệp Quốc bị một thành viên khác xâm chiếm và sáp nhập một cách trắng trợn.

Nếu để cho Saddam Hussein thành công trong cuộc phiêu lưu của mình, thì Liên Hiệp Quốc, đã có nhiều tai tiếng, sẽ theo bước Hội Quốc Liên trước đây rơi vào hố sâu nhục nhã và thế giới sẽ nằm trong tay những tên bạo chúa.

Nhưng thế giới đã không để cho Saddam Hussein muốn làm gì thì làm. Một lực lượng quân sự hùng mạnh của những quốc gia nằm trong và ngoài vùng Trung Đông đã được huy động để đánh đuổi ông ta ra khỏi Kuwait. Nhưng đây lại là một dấu hiệu hùng hồn là thế giới đã bước vào một thời đại mới - Saddam Hussein bị đuổi khỏi Kuwait nhưng vẫn đươc phép ở lại Irap để tiếp tục nền chính trị đặc trưng của ông ta cùng với tất cả các chính sách của ông trong nước này. Thông điệp đã quá rõ ràng. Nếu người Iraq muốn có một chính phủ mới dưới một hình thức khác thì họ phải tư lo liệu lấy, sẽ không có ai làm thay cho họ.

Đây đại khái là thông điệp của các cường quốc bên ngoài trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Các cường quốc ấy sẽ hành động để bảo vệ quyền lợi của họ, nghĩa là bảo vệ thị trường và dầu mỏ, và cũng bảo vệ các quyền lợi của cộng đồng quốc tế, tức là việc tuân thủ đúng đắn các luật lệ cơ bản của Liên Hiệp Quốc. Con thì, lần đầu tiên kể từ hai thế kỷ, các dân tộc và chính phủ vùng Trung Đông sẽ tự mình quyết định số phận của mình. Có thể là sẽ xuất hiện những cường quốc trong vùng, cùng bắt tay nhau hay sẽ tranh giành nhau bá quyền trong khu vực. Cũng có thể tình hình sẽ biến chuyển theo kiểu Nam Tư và Somalia, nghĩa là cả vùng sẽ bị xé nhỏ và hỗn loạn; đã có nhiều phong trào và cá nhân trong vùng cho thấy là họ muốn đi đến giải pháp này hơn là phải thoả hiệp trên những nguyên tắc mà họ xem là nghĩa vụ tôn giáo hoặc quyền dân tộc của họ. Các biến cố xảy ra ở Liban trong cuộc nội chiến có thể trở thành một hình mẫu cho vùng Trung Đông. Họ có thể hợp lực để tiến hành một cuộc Thánh chiến, nhiều người đã đề nghị như vậy, một Jihad mới và cũng như trong quá khứ sẽ kéo theo một phản ứng tương tự là một cuộc Thập tự chinh. Hay họ có thể cùng chung sức xây dựng hoà bình, hoà bình cho bản thân họ, cho các lân bang của họ, cho thế giới bên ngoài để cùng nhau sử dụng và chia sẻ các di sản tinh thần và vật chất hòng đạt đến một cuộc sống đầy đủ hơn, phong phú hơn và tự do hơn. Lúc này có vẻ như thế giới bên ngoài đang để cho họ được yên và cũng đang giúp cho họ đạt đến sự bình yên ấy. Chỉ có họ - những dân tộc và những chính phủ Trung Đông - mới có thể quyết định là họ có muốn sử dụng không và sử dụng như thế nào cánh cửa của cơ hội, mà trong một giai đoạn lịch sử hiện đại nhiều sự cố của họ, vẫn còn được rộng mở.

❀ ❀ ❀

[1] Hiệp định đình chiến Israel-Ai Cập tháng Hai 1949, điều 5, khoản 2; cũng có những điều khoản tương tự trong các hiệp định ký với Syria và Jordan.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.