Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3 Nguồn Gốc Đạo Hồi
Chương 3 Nguồn Gốc Đạo Hồi

❊ ❊ ❊

Sự ra đời của đạo Hồi và sự nghiệp của vị sáng lập cùng các chiến hữu đầu tiên và các môn đồ của Người chỉ được biết qua các kinh sách, tập tục và trí nhớ của người Hồi giáo. Chỉ về sau, thế giới bên ngoài mới biết đến các sự kiện ấy và các nhà quan sát khách quan không theo Hồi giáo mới bàn đến. Trên các vấn đề này, đạo Hồi cũng không khác gì đạo Do Thái, đạo Cơ Đốc cùng các tôn giáo lớn khác của nhân loại, đồng thời đặt ra cho các nhà viết sử một vấn đề tương tự. Ngay trong thời Trung cổ, một số học giả Hồi giáo mộ đạo và chặt chẽ hơn những người khác đã nghi ngờ về tính chính xác và ngay cả độ xác thực của các truyền tụng về đời sống hay về lịch sử của các cá nhân nhưng không hề đặt vấn đề về sự đúng đắn và tính hoàn mỹ của các thông điệp về tôn giáo. Các sử gia hiện đại có đầu óc phán đoán vì không phải gò mình vào những trói buộc như vậy nên đã nêu lên nhiều câu hỏi và cho đến khi phát hiện được các bằng chứng độc lập như các tài liệu và bản ghi khắc đương thời thì lịch sử Hồi giáo lúc ban đầu qua các truyền tụng sẽ còn mang tính mơ hồ và sử liệu hiện đại chỉ là những giả thuyết mà thôi.

Đối với người Hồi giáo, phần chủ yếu của câu chuyện thì thật là rõ ràng và chính xác. sứ mệnh, các cuộc chiến đấu và chiến thắng cuối cùng của Đấng Tiên tri cũng như việc xây dựng cộng đồng Hồi giáo, số phận chìm nổi của những môn đồ và những vị kế tục Người đều được kinh sách và hồi ức của những người tham dự truyền lại; đó là cốt lõi của những hiểu biết lịch sử của người Hồi giáo trên toàn thế giới. Theo truyền thuyết, lần đầu tiên Mu-ha-mát, con của Abdallah, được giao sứ mệnh Tiên tri là khi ông bước vào tuổi bốn mươi. Sách kể lại, vào một đêm trong tháng Ramadan, khi Mu-ha-mát một mình ngủ trên núi Hira thì Thiên thần Gabriel đáp xuống và nói: “Hãy đọc đi!”. Mu-ha-mát do dự và Thiên Thần phải ba lần siết chặt khăn quàng cổ ông cho đến khi Mu-ha-mát hỏi: “Tôi phải đọc gì?” Thiên thần nói: “Hãy đọc nhân danh Chúa của ngươi, Chúa đã kiến tạo nên tất cả, đã dùng một cục máu mà tạo nên con người. Hãy đọc đi vì Chúa vô cùng Cao thượng đã dùng ngòi bút để dạy con người, dạy những gì mà người chưa biết.” Những lời này hợp thành bốn câu đầu tiên của chương 96 trong Thánh kinh Hồi giáo, Kinh Co-ran. Co-ran theo tiếng A-rập (Quran) có nghĩa là đọc và kể. Đó là cuốn sách có chứa các lời thần khải mà theo Hồi giáo, đã được Thượng đế truyền cho Mu-ha-mát. Sau đấy còn có nhiều buổi khác và Đấng Tiên tri cuối cùng đưa những lời nhận được chuyển đến cho những người dân nơi ông sinh sống, khuyên họ nên bỏ những hủ tục tôn thờ thần tượng mà chỉ nên sùng bái một Thượng đế toàn năng duy nhất.

Theo truyền thuyết, Mu-ha-mát sinh vào khoảng năm 571, trong một gia đình A-rập thuộc bộ lạc Quraysh ở một thành phố ốc đảo nhỏ có tên là Mecca thuộc xứ Hejaz nằm trên bờ Tây Arabia, bán đảo A-rập. Phần lớn bán đảo lúc ấy là sa mạc hoang vắng, thảng hoặc đó đây có một vài ốc đảo và dăm ba con đường đi của các đoàn lạc đà. Dân chúng ở đây hầu hết là người du mục sống bằng nghề chăn nuôi dê, cừu, lạc đà, thỉnh thoảng lại tổ chức một cuộc đánh cướp các bộ lạc lân cận, các dân ốc đảo hay các cộng đồng sông trên biên giới. Cũng có người làm nghề cày cấy ở một vài chỗ có khả năng trồng trọt, một số khác thì lo việc buôn bán khi tình hình thế giới bên ngoài thuận lợi, thương khách trở lại đông đúc trên các con đường thông thương xuyên Arabia. Chẳng hạn như khi chiến tranh giữa La Mã và Ba Tư bùng nổ trở lại vào thế kỷ thứ VI thì một số thành phố nhỏ nằm trên con đường nối Địa Trung Hải và phương Đông bỗng chốc trở nên giàu có. Mecca nằm trong số đó.

Trong những năm đầu hoạt động, Mu-ha-mát có một ít tín đồ, trước tiên là trong số họ hàng thân thuộc, về sau thì lan rộng ra ngoài. Tuy nhiên, các tư tưởng mới và phong trào mới do các tư tưởng ấy khởi xướng cuối cùng cũng làm cho các gia tộc lớn ở Mecca ngờ vực và ra mặt chống đối; họ xem Đấng Tiên tri và các lời dạy của Người như những mối đe dọa đối với trật tự hiện hành trên cả hai mặt tôn giáo và vật chất và còn làm tổn thương đến uy quyền độc tôn của thành phố nữa. Theo chuyện kể về tiểu sử của Mu-ha-mat, có nhiều áp lực và ngay cả các hành vi truy hại đối với các tín đồ làm cho nhiều người phải bỏ trốn sang Ethiopia, phía bên kia Biển Đỏ. Năm 622, khoảng 13 năm sau khi nghe lời kêu gọi đầu tiên của Thượng đế, theo truyền thuyết, Đấng Tiên tri đứng ra thương lượng với các đại diện của thành phố Yathrib, một ốc đảo khác nằm cách Mecca 350 km về phía Bắc. Người Yathrib sẵn sàng đón tiếp Mu-ha-mát và các môn đồ của ông đến sinh sống ở đấy, họ mời ông làm người hoà giải cho các tranh chấp nội bộ của họ và hứa sẽ bảo vệ ông và các tín đồ theo ông đến từ Mecca như bảo vệ chính người của mình. Mu-ha-mát cho 60 gia đình môn đệ đi trước, rồi vào mùa thu năm ấy cũng tự mình đến Yathrib. Cuộc di cư của Đấng Tiên tri và các môn đệ từ Mecca đến Yathrib trong tiếng A-rập được gọi là Hijra, nôm na có nghĩa là di cư và được người Hồi giáo xem là thời điểm quyết định trong sự nghiệp truyền giáo của Mu-ha-mát. Về sau, khi xây dựng lịch Hồi giáo, thì người ta lấy khởi điểm là ngày đầu của năm A-rập khi có Hijra. Yathrib trở thành trung tâm của Hồi giáo và cộng đồng Hồi giáo, cuối cùng được đơn giản gọi là Al-Medina — Thành Phố. Còn cộng đồng thì mang tên Umma, một tên gọi mà ý nghĩa cũng biến hoá theo đối tượng của nó.

Ở Mecca, Mu-ha-mát chỉ là một người dân thường cố gắng chống lại sự thờ ơ và sau đó là sự thù nghịch của những vị chức sắc trong thành phố. Tại Medina, chính ông lại là một nhà lãnh đạo có chức quyền trên các mặt chính trị, quân sự và cả tôn giáo nữa. Chẳng bao lâu, chính quyền Hồi giáo của Medina phát động chiến tranh chống lại các lãnh đạo Mecca theo đa thần giáo. Sau tám năm bền bỉ chiến đấu, ông đạt đến đỉnh vinh quang của sự nghiệp khi chiếm được Mecca và lấy đức tin Hồi giáo thay vào tục thờ phụng các thần tượng của những người đồng hương cũ mà ông cương quyết xoá bỏ.

Như vậy là có sự khác biệt đáng kể giữa sự nghiệp của Mu-ha-mát và những người đi trước ông là Mô-i-dơ (Moses) và Jesus (Jesus). Mô-i-dơ không được phép vào vùng đất hứa và qua đời trong khi dân mình cứ tiếp tục cuộc hành trình. Jesus bị đóng đinh trên Thập tự và trong nhiều thế kỷ, Cơ Đốc giáo chỉ là một tôn giáo của thiểu số luôn luôn bị truy hại cho đến khi một hoàng đế La Mã, Constantin, quy theo Cơ Đốc rồi cho phép các tín đồ hành đạo. Còn Mu-ha-mát thì đã chiếm được đất hứa của mình, trong lúc sinh thời còn giành được nhiều chiến thắng và nắm giữ quyền uy, trong tay có cả thế lực chính trị và trọng trách tiên tri. Là Sứ giả của Thượng đế, ông mang đến và truyền bá cho nhân loại một tôn giáo vừa mới phát hiện. Đồng thời, với tư cách là người lãnh đạo của cộng đồng Hồi giáo Umma, ông xây dựng luật pháp, chủ trì xét xử, thu thập thuế má, điều khiển ngoại giao, khởi động chiến tranh và quyết định hoà bình. Ban đầu khối Umma chỉ là một cộng đồng, về sau đã trở thành một quốc gia. Chẳng bao lâu, nó trở thành một đế quốc.

Khi Đấng Tiên tri qua đời vào ngày 8 tháng Sáu năm 632, theo truyền thuyết, thì sứ mạng của ông đã hoàn thành. Mục tiêu của ông là phục hồi tôn giáo đơn thần thật sự của các Nhà Tiên tri trước đây đã bị ruồng bỏ hay biến chất, là dẹp tan tục tôn thờ thần tượng, là đưa đến cho nhân loại lời thần khải cuối cùng của Thượng đế, hiện thân của niềm tin thật sự và của Thánh luật. Người Hồi giáo tin rằng ông là Nhà Tiên tri cuối cùng, Dấu Niêm phong của các Tiên tri. Khi ông qua đời, sự truyền đạt tất cả những thần khải của Thượng đế dành cho con người được xem là hoàn tất, sau Mu-ha-mát sẽ không còn nhà Tiên tri nào nữa và cũng không còn thần khải nào khác.

Nhiệm vụ tinh thần như thế là đã hoàn tất, chức năng tinh thần không còn lý do tồn tại nữa. Tuy nhiên chức năng tôn giáo vẫn còn, đó là việc duy trì và bảo vệ Thánh luật của Thượng đế và truyền bá cho toàn nhân loại. Muốn thực thi chức năng ấy thì phải liên tục nắm các quyền lực chính trị và quân sự - hay nói cách khác, phải có chính quyền — trong một quốc gia.

Mu-ha-mát chưa bao giờ cho mình có vị trí cao hơn một người dân thường, mặc dù là Sứ giả của Thượng đế, lãnh đạo giáo dân, nhưng ông chẳng phải là thần thánh mà cũng không là bất tử. Kinh Cô-ran có viết: “Mu-ha-mát chỉ là một Tiên tri, các vị Tiên tri trước đây đã qua đời. Nếu Người bị chết hay bị giết thì các ngươi có quay gót trỏ về đường cũ hay không?” (3:138).

Đấng Tiên tri đã qua đời, sau đấy sẽ không có Tiên tri nào nữa. Thủ lĩnh cộng đồng và Nhà nước Hồi giáo không còn nữa, chức vụ này cần phải được thay thế. Trước tình hình khẩn trương, nhóm môn đồ thân cận nhất của Đấng Tiên tri đã lựa được một người trong nhóm, đó là Abu Bakr, một trong những tín đồ đầu tiên và được trọng vọng nhất. Danh hiệu của ông trong chức vụ lãnh đạo này, theo sử sách truyền thuyết, là Khalifa, một danh từ A-rập, mà do một sự trùng hợp ngẫu nhiên may mắn, vừa có nghĩa là người kế tục vừa có nghĩa là người phụ tá. Theo một tài liệu về các tập tục, ông là Khalifatu Rasul Allah, người kế tục vị Tiên tri của Thượng đế, còn theo một tài liệu khác, ông là Khalifat Allah, Phụ tá của Thượng đế, một danh hiệu có một hàm ý rất sâu xa. Khi Abu Bakr lên ngôi, có lẽ chính ông hay những người bầu ông lên cũng chẳng nghĩ xa như vậy. Nhưng qua hành động gấp gáp ấy của họ, chức vụ giáo chủ cao quý đã được lập ra để đảm nhiệm quyền lực tối cao của thế giới Hồi giáo.

Cũng như cuộc đời của Đấng Tiên tri, lịch sử ban đầu của giáo quốc Hồi giáo chỉ được truyền lại qua các nguồn tài liệu Hồi giáo và chỉ về sau các sử gia ở các nước khác mới bắt đầu viết về quốc gia và về tôn giáo mới mẻ này. Các truyền thuyết Hồi giáo ban đầu chỉ được truyền miệng qua nhiều thế hệ, mãi về sau mới được ghi chép lại. Chúng bị kém trung thực không những chỉ vì trí nhớ con người có chỗ sai lầm hay vì lúc ấy xã hội còn ban sơ chưa có chữ viết mà chủ yếu vì trong buổi sơ khởi, đạo Hồi còn nhiều tranh chấp cá nhân, gia tộc, bộ lạc, phe nhóm và bè phái do đó có tác động lên nội dung các bản sử liệu khác nhau mà chúng ta có được ngày nay. Ngay cả những sự kiện cơ bản như tiến trình và kết cục của các trận đánh mà cũng không đồng nhất trong các bản tài liệu khác nhau.

Khi Đấng Tiên tri qua đời, theo các sử gia Hồi giáo thì tôn giáo do Người sáng lập ra vẫn chưa tỏa ra ngoài một vài vùng lãnh thổ của bán đảo A-rập. Chính người A-rập, những người tiếp thu đạo Hồi, cũng còn quanh quẩn trong biên giới của họ ngoại trừ một số cuộc chiến để lấn ra vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu. Các vùng đất rộng lớn ở Tây Nam châu Á, Bắc Phi, và nhiều nơi khác mà sau này sẽ trở thành lãnh thổ Hồi giáo, đất đai của các giáo chủ hay theo cách nói hiện nay, Thế giới A-rập, lúc ấy vẫn còn nói những thứ tiếng khác, theo các tôn giáo khác và dưới quyền cai trị của các vua chúa khác. Chỉ chừng hơn một thế kỷ sau khi Đấng Tiên tri qua đời, toàn bộ lãnh thổ ấy đã trải qua một cuộc đổi thay có thể nói là nhanh nhất và nhiều kịch tính nhất trong lịch sử loài người. Cuối thế kỷ thứ VII, thế giới bên ngoài đã chứng kiến sự có mặt của một tôn giáo mới và một thế lực mới, đế quốc Hồi giáo của các giáo chủ đã vươn xa về phía châu Á ở phương Đông đến tận biên giới Trung Quốc và Ấn Độ, về phương Tây dọc theo bờ biển Địa Trung Hải đến Đại Tây Dương, về phương Nam đến các nước Phi châu của người da đen, về phương Bắc đến các nước Âu châu của người da trắng. Trong đế quốc ấy, đạo Hồi là quốc giáo, còn tiếng A-rập đã nhanh chóng đẩy lùi các ngôn ngữ khác để trở thành phương tiện giao tiếp chính trong đời sống công cộng.

Ngày nay, sau khi đạo Hồi ra đời hơn mười bốn thế kỷ, đế quốc A-rập của các giáo chủ không còn nữa. Nhưng trong tất cả các quốc gia đã bị người A-rập chinh phục, trừ châu Âu về phía Tây và Iran cùng Trung Á về phía Đông thì tiếng A-rập dân dã dưới nhiều hình thức khác nhau được dùng làm ngôn ngữ của đại chúng còn tiếng A-rập hoa mĩ là ngôn ngữ của thương mại, văn hoá và công vụ. Với tính chất là ngôn ngữ của đạo Hồi, trong kinh sách, giáo lý và Thánh luật, tiếng A-rập đã vượt quá biên giới các nước nói tiếng A-rập và sau đó còn đi xa hơn biên giới của những vùng đất đã bị người A-rập chinh phục để đến nhiều vùng châu Á và châu Phi chưa hề bị họ chiếm đóng.

Công cuộc bành trướng của đức tin Hồi giáo và của đế quốc A-rập đã có sự góp sức quan trọng của dân chúng các vùng bị chiếm đóng vì họ đã nhanh chóng và ồ ạt quy theo đạo Hồi và ủng hộ chính quyền đô hộ. Về phía Tây, người Berber ở Bắc Phi sau khi chống đối quyết liệt những người A-rập xâm lược, đã giúp họ đánh chiếm và thuộc địa hoá Tây Ban Nha rồi chính mình tiến xuống miền Nam Sahara để đô hộ và truyền bá đạo Hồi đến các dân tộc da đen ở đây. Về phía Đông, sau khi đế quốc của người Ba Tư bị tiêu diệt và các chức sắc tôn giáo của họ bị tước hết quyền lực, người dân ở đây lại tìm ra một lẽ sống mới qua đạo Hồi và tham gia vào việc truyền đạo cho dân Thổ và Iran của vùng Trung Á. Còn ở trung tâm, các dân tộc theo đạo Cơ Đốc nói tiếng Aramaic của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu cũng như các dân tộc Cơ Đốc nói tiếng Coptic ở Ai Cập, từ lâu đã nằm trong các đế quốc Ba Tư và By-dăng thì nay chỉ đổi chủ mà thôi, họ lại còn thấy những người chủ mới A-rập ít khắc nghiệt, rộng lượng hơn và nhất là đối xử với họ tốt hơn những chủ cũ.

Trong các nước ấy, sự chuyển tiếp sang Hồi giáo và đời sống A-rập tỏ ra tương đối dễ dàng. Thuế má A-rập thì thấp hơn thuế của By-dăng, không những là đặc biệt cho người Hồi giáo mà cho cả quảng đại quần chúng. Nhà nước A-rập tỏ ra khá công bằng trong việc chấp nhận mọi hình thức của Cơ Đốc giáo, không có tính xét nét về tính chính thống đã làm khó dễ cho những giáo dân và Giáo hội không chính thống dưới thời cai trị của By- dăng. Những người Do Thái sau khi được hưởng một chế độ khá rộng rãi trong chính sách của người Parthia hay của các hoàng đế La Mã theo đa thần giáo rồi chịu nhiều o ép từ người Ba Tư Sasanid và người Cơ Đốc By-dăng thì nay được thoải mái hơn dưới chính thể A-rập Hồi giáo.

Các nhà lãnh đạo của nhà nước A-rập và các chỉ huy quân đội A-rập phần lớn xuất thân từ thành phần thị dân của Mecca và Medina. Nhưng họ đều không quên nguồn gốc dân sa mạc của mình cũng như đa số quân lính dưới quyền đều là con em của sa mạc. Chiến lược của người A-rập trong các cuộc chiến tranh lấn chiếm được xây dựng trên cơ sở những thế mạnh của sa mạc chẳng khác gì trong các đế quốc trước đấy do dân vùng biên ở phương Tây xây dựng nên thì thế mạnh của biển đã được sử dụng triệt để. Trong sa mạc, người A-rập như cá trong nước, trái lại kẻ thù của họ lại gặp nhiều khó khăn. Đối với người A-rập, sa mạc là bạn, là người thân, luôn luôn rộng mở còn đối với quân thù thì sa mạc là chốn xa xôi, trống trải đầy cạm bẫy, hiểm nguy, họ sợ sa mạc chẳng khác gì dân trên bộ sợ biển cả vậy. Đối với người A-rập, đường đi trong sa mạc là phương tiện để truyền đạt thông tin, vận chuyển lương thực, cung cấp viện binh, nếu cần thiết thì có thể rút lui tránh đàn áp và truy lùng của quân thù, đến khi thành công thì đó là con đường dẫn đến chiến thắng. Đế quốc A-rập cũng đã có con kênh Suez của họ, đó là con đường trong sa mạc qua eo đất Suez nối hai châu Âu Á.

Trong những nước chinh phục được, người A-rập thường xây dựng căn cứ quân sự và trung tâm hành chính của họ trong một thị trấn sát sa mạc hay liền kề với vùng đất trồng trọt. Nếu có những thành phố đã hiện diện ở những nơi thuận tiện, như Damascus chẳng hạn, thì họ dùng ngay làm thủ đô. Thường thì họ thiết lập những trung tâm mới sau đây trở thành khu đô thị đáp ứng được các yêu cầu của họ về chiến lược trong đế quốc. Các thành phố đóng quân quan trọng nhất như thế là Kufa và Basra ở Iraq, Qom ở Iran, Fustat ở Ai Cập và Kairouan ở Tunisie.

Cũng như về sau trong đế quốc Anh, đấy chính là các Gibraltar và Singapore, Bombay và Calcutta của đế quốc A-rập buổi đầu. Tên A-rập gọi các thành phố ấy là misr (số nhiều là amsr) một từ xê-mít cũ, ban đầu có nghĩa là biên thuỳ, giới tuyến về sau được dùng để chỉ các tỉnh hay khu vực vùng biên cương. Nhân tiện cũng nên biết là từ ấy dùng để chỉ tên nước Ai-Cập trong tiếng Do Thái của Kinh Thánh, tiếng Aramaic và tiếng A-rập. Các amsar đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cai trị và A- rập hoá những tỉnh mới được chinh phục. Ban đầu, người A-rập chỉ là thiểu số thống trị, sống riêng biệt trong đế quốc do họ lập ra. Trong các amsar, họ chiếm đa số và tiếng nói của họ lại là ngôn ngữ chính. Trung tâm các amsar là một trại lính trong đấy các chiến binh A-rập vẫn sống theo từng nhóm cùng chung bộ lạc. Quanh trung tâm thì có các khu dân cư, nơi sinh sống của thợ thủ công, chủ hiệu buôn hay những người làm các ngành nghề khác chủ yếu gồm dân địa phương đến để phục vụ cho các nhu cầu của giới dân sự và quân sự A-rập cùng gia đình họ. Khu dân cư này ngày càng phát triển kể cả về diện tích, của cải và uy tín, nhiều công chức bản xứ làm việc cho nhà nước A-rập cũng đến trú ngụ ở đây. Mọi người dân do nhu cầu nên phải học tiếng A-rập và dần dần họ cũng bị lôi kéo bỏi các thị hiếu, lối sống và các tư tưởng của người A-rập.

Đôi khi người ta nói Hồi giáo được truyền bá nhờ các cuộc chinh phục. Cách nói ấy không đúng cho lắm mặc dù đạo Hồi được đưa đến khắp nơi phần lớn là dựa trên một quá trình bành trướng quân sự và thuộc địa hoá đi song song với nhau. Khi tiến hành chiến tranh, những người đi chinh phục không hề có mục tiêu chính là áp đặt Hồi giáo bằng vũ lực. Kinh Cô- ran có nói rõ điều này: “Tôn giáo không được bắt buộc! (2:256). Người ta thường suy luận rằng những ai theo một tôn giáo đơn thần và tôn sùng các kinh sách mà đạo Hồi xem là phần đi trước của các lời Thần khải thì có quyền hành đạo trong các điều kiện do nhà nước và pháp luật Hồi giáo quy định. Còn những người không theo một tôn giáo đơn thần mà cũng không có kinh sách được công nhận thì gặp nhiều khó khăn hơn, tuy nhiên trong các vùng bị người A-rập chinh phục lúc ban đầu thì có rất ít và hầu như không có loại hình này. Dân bị trị được quyến rũ bằng nhiều cách để theo đạo Hồi nhưng không phải vì thế mà họ bị bắt buộc, thí dụ như là họ được hưởng mức thuế thấp. Nhà nước A-rập cũng không tìm cách đồng hoá dân bản xứ hay biến họ thành người A-rập. Trái lại, các thế hệ đầu tiên của những người đi chinh phục thường giữ một khoảng cách xã hội rõ rệt giữa người A-rập và không A-rập ngay cả khi những người sau này quy theo đạo Hồi và nói tiếng A-rập. Họ không khuyến khích những cuộc hôn nhân giữa phụ nữ A-rập và đàn ông không A-rập - trường hợp ngược lại thì lại được hoan nghênh — và cũng không cho những người mới theo Hồi giáo có các quyền bình đẳng về xã hội, kinh tế và chính trị với họ. Chỉ sau khi những thay đổi có tính cách mạng xảy ra vào thế kỷ thứ hai của đạo Hồi thì các quyền ưu tiên của người A-rập mới bị xoá bỏ và tiến trình A-rập hoá mới được đẩy mạnh.

Chính quá trình A-rập hoá và Hồi giáo hoá các dân tộc sống trong nhưng vùng bị chiếm đóng chứ không phải cuộc chinh phục quân sự mới thật sự là điều kỳ thú trong đế quốc A-rập. Giai đoạn người A-rập nắm bá quyền chính trị và quân sự quả không phải dài lắm và chẳng mấy chốc người A-rập bị mất hết chức vụ thống trị trong đế quốc và cả quyền lãnh đạo nền văn minh mà chính họ đã gây dựng nên để rơi vào tay những dân tộc khác. Nhưng ngôn ngữ cũng như tôn giáo và pháp luật của họ vẫn còn tồn tại — cho mãi đến ngày nay — để mãi mãi nhắc nhở rằng đã có một thời họ là những người chủ.

Những thay đổi lớn lao được thực hiện chủ yếu qua quá trình thuộc địa hoá và nhất thể hoá. Theo một thuyết được nhiều người chấp nhận thì một trong những động cơ thúc đẩy các cuộc chinh phục của người A-rập là áp lực của nạn nhân mãn trên bán đảo A-rập khô cằn và trong những năm tháng đầu tiên của vương quốc A-rập, nhiều người A-rập đã vượt qua các hàng rào biên giới đã bị sụp đổ của các đế quốc cũ để đến sinh sống trên những vùng đất phì nhiêu mà họ đã chiếm được. Ban đầu thì họ chỉ là một thiểu số thông trị — một đạo quân chiếm đóng gồm nhiều binh lính nhưng có cả các quan chức và các chủ đất. Người A-rập tịch thu đất công của chế độ cũ, đất của những kẻ thù địch với trật tự mới và đất của những người đã bỏ chạy. Nhờ vậy mà chính phủ A-rập làm chủ được những diện tích rộng lớn, họ cấp không hay cho những người A-rập thuê lại với những điều kiện khá thuận lợi. Người A-rập trả thuê điền thổ thấp hơn những chủ đất bản xứ còn ở lại. Các chủ đất lớn người A-rập thường giao việc canh tác cho nhân công địa phương còn họ thì sống trong các thành phố có các đồn lính bảo vệ.

Chính từ các thành phố ấy ảnh hưởng A-rập đã tỏa ra các vùng nông thôn chung quanh hoặc trực tiếp hoặc thông qua nhóm dân mới theo đạo Hồi mà trong đó có số đông phục vụ trong quân đội. Dù bị những người A- rập chính cống khinh miệt và không cho hưởng cùng những quyền lợi kinh tế và xã hội, những giáo dân bản xứ này vẫn vui lòng chấp nhận tôn giáo của những người chiến thắng và cả ngôn ngữ của họ.

Uy tín của một ngôn ngữ mà nhóm quý tộc thống trị đang sử dụng, giá trị thực dụng của nó được dùng trong chính phủ và trong thương mại cùng tính phong phú và đa dạng của nền văn minh đế quốc và trên hết có lẽ là lòng tôn sùng không bờ bến đối với một ngôn ngữ thiêng liêng đã được chọn để viết những lời thần khải mới của Thượng đế, đó là những yếu tố giúp người A-rập nhanh chóng đồng hoá các dân tộc bị trị.

Các thay đổi sâu xa về quân sự và chính trị trong thế kỷ đầu tiên của chính quyền Hồi giáo cũng kéo theo nhiều thay đổi kinh tế và xã hội quan trọng. Cũng giống như bao cuộc chinh phục khác, các cuộc chinh phục của người A-rập đã cho lưu thông trở lại những nguồn tài sản lớn lao của dân chúng, của nhà nước hay của giáo hội mà trước đây đã bị đóng băng. Các sử gia A-rập đầu tiên có kể lại những câu chuyện về các khoản tiền lớn chiếm đoạt được hay đưa ra tiêu xài. Nhà văn al-Masudi sống ở thế kỷ thứ X có viết về những tài sản khổng lồ do quân đội chiếm đóng vơ vét được. Ông kể lại: “khi giáo chủ Uthman bị giết, tài sản cá nhân của ông do viên thủ quỹ riêng quản lý, lên đến 100.000 dinar (bằng tiền vàng La Mã hay By-dăng) và một triệu dirham (bằng tiền bạc Ba Tư). Đất đai của ông có giá trị 100.000 dinar ngoài ra còn nhiều ngựa và lạc đà”. Al-Zubayr ibn al- Awwam, một trong số các tín đồ đầu tiên và là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Hồi giáo có nhiều nhà cửa tại Basra và Kufa ở Iraq, tại Fustat và Alexandria ở Ai Cập. Vào thời điểm Masudi kể lại (332 sau Di cư [SDC], tức là theo lịch Hồi giáo và 943-944 CN) nhà của ông ta ở Basra vẫn cho thương nhân, tài phiệt hay người buôn bán trên biển… thuê để ở. Tài sản của ông lúc qua đời lên đến 50.000 dinar tiền mặt, cùng “hàng ngàn lừa ngựa, hàng ngàn nô lệ nam nữ và đất đai nhà cửa trong các thành phố đã nói đến ở trên”. Cũng theo cùng một nguồn tin, một tông đồ khác của Đấng Tiên tri, Talha ibn Ubaydallah al-Taymi, có một căn nhà lớn ở Kufa và thu nhập trên ruộng đất ở Iraq “lên đến hàng ngàn dinar mỗi ngày, có người nói là nhiều hơn thế, thu nhập từ ruộng đất ở vùng al Sharah lại còn cao hơn. Ông cho xây ở Medina một ngôi nhà bằng thạch cao, gạch và gỗ tếch.” Một tín đồ khác đến rất sớm với Hồi giáo, Abd al-Rahman ibn Awf, có những chuồng ngựa trong đó “buộc hàng trăm con ngựa, ông còn sở hữu hàng ngàn lạc đà, hàng ngàn cừu. Lúc qua đời chỉ một phần tư tài sản của ông cũng đáng giá 84.000 dinar. Khi Zayd ibn Thabit chết, “ngoài nhà cửa và đất đai giá hàng trăm ngàn dinar, các thỏi vàng và bạc để lại phải dùng búa để chặt ra…Khi Yala ibn Munya qua đời, ông để lại trên nửa triệu dinar ngoài ra đất đai, tiền cho vay hay các tài sản khác thì ước chừng 300.000 dinar”.[1]

Các chuyện kể ấy và còn nhiều chuyện khác về những tài sản khổng lồ mà những người đi chinh phục vơ vét được có lẽ được thổi phồng lên nhưng chúng phác thảo được một bức tranh hùng hồn về một giới quý tộc đi xâm lược vô cùng giàu có đang tận hưởng các vận may và các lạc thú ở những vùng đất mới chiếm và đang tiêu xài xả láng.

Chắc chắn không phải chỉ có người A-rập là làm giàu dưới chế độ mới. Nhưng con nhiều người khác, kể cả người A-rập, vì không lợi dụng được tình hình nên cảm thấy bị thua thiệt. Trong sử ký cũng như trong văn học và, nhất là trong thơ ca đương thời, người ta thấy phản ánh các mối căng thẳng trên các mặt xã hội và chính trị và một cách gián tiếp, các mâu thuẫn về kinh tế cùng những lời ta thán của các cá nhân hay tập thể. Một cuộc chinh phục hay việc thiết lập một chế độ mới thế nào cũng đụng chạm đến quyền lợi của nhiều nhóm người mà trước đấy đã có độc quyền về tiền tài và danh vọng. Ảnh hưởng của các thay đổi nay chắc chắn là sâu rộng trên vùng đất phía Đông trước đấy thuộc Ba Tư, hơn là trên vùng Tây, đất cũ của đế quốc By-dăng. Các chức sắc By-dăng ở Syria và Ai Cập, sau khi thua trận và mất hết tài sản, có thể di tản sang thủ đô đế quốc hay đến các tỉnh trung tâm, phó mặc dân chúng và đất đai cho những người chủ mới. Đối với các đại gia Ba Tư thì không có đường triệt thoái vì thủ đô của họ đã rơi vào tay A-rập, cho nên, trừ một số ít, họ phải ở lại rồi tìm cách thích nghi với chế độ mới. Những phần tử có chức có quyền trong đế quốc Ba Tư trước đây vẫn nuôi trong lòng niềm tự hào của đế quốc và có kinh nghiệm trong quản lý hành chính sẽ là những người có đóng góp nhiều cho việc phát triển một nhà nước và một nền văn hoá Hồi giáo, nhiều hơn là đám dân còn ở lại trong các thành phố By-dăng cũ.

Ban đầu thì giới cầm quyền Ba Tư có vẻ thoả hiệp được với chế độ mới và được duy trì phần lớn các chức vụ và quyền ưu đãi của họ. Nhưng khi chính quyền A-rập lớn mạnh lên, các bộ lạc A-rập đến định cư ở Iran nhiều hơn, người dân Hồi giáo gốc Iran đông hơn và đòi quyền bình đẳng với người A-rập và nhất là khi các thành phố phát triển mạnh thì xuất hiện những xu hướng mới và theo sau đó là có những tranh chấp nảy sinh, các vùng đất thuộc By-dăng trước đây, đời sống đô thị đã từ lâu đi vào trong nếp sống của dân chúng, các thay đổi chỉ tương đối ít. Còn trong đế quốc Ba Tư cũ vì mức độ đô thị hoá còn thấp cho nên khi tự nhiên có các thành phố Hồi giáo mọc ra thì có nhiều căng thẳng và nhiều cuộc đấu tranh.

Trong giai đoạn đầu của Hồi giáo, các cuộc tranh chấp nguy hiểm nhất đe dọa sự ổn định của nhà nước A-rập và sự đoàn kết của cộng đồng Hồi giáo không phải nảy sinh ra từ các mâu thuẫn giữa người A-rập và người Hồi giáo không A-rập, càng không phải giữa người Hồi giáo và những người ngoại đạo mà chính là từ sự đối kháng giữa những người A-rập với nhau; giữa các bộ lạc có gốc ở miền Bắc và miền Nam Arabia; giữa những người đến trước và những người đến sau; giữa những người làm ăn khấm khá và những người ít may mắn hơn; giữa những người có cả cha và mẹ thuần A-rập và những người có cha A-rập còn mẹ là nàng hầu ngoại quốc. Và, từ muôn thuở người chiến thắng có nhiều quyền đối với kẻ chiến bại cho nên số con lai A-rập đã tăng lên nhanh chóng.

Sử liệu A-rập truyền thống cho rằng các cuộc xung đột ấy phần lớn có tính chất bộ lạc, cá nhân hay đôi khi tôn giáo. Tất cả những yếu tố ấy đúng là quan trọng nhưng còn có nhiều vấn đề khác liên quan. Thường thì những tranh chấp liên miên và ác liệt giữa các nhóm A-rập hay dẫn đến chiến tranh với sự tham gia ngày càng nhiều của những người Hồi giáo không A-rập; các nhóm khác nhau hay phủ một lớp sơn tôn giáo lên các khiếu nại và đòi hỏi của mình.

Việc thiết lập một đế quốc Hồi giáo cuối cùng đã kết thúc cuộc chiến lâu dài giữa La Mã và Ba Tư nhằm giành các con đường thông thương trên vùng Trung Đông và lần đầu tiên kể từ thời Alexander Đại đế cả vùng Trung Đông từ Trung Á đến Địa Trung Hải nằm trong cùng một hệ thống đế quốc và một mạng lưới thương mại. Tiếp theo thời gian, cả tiền vàng By- dăng và tiền bạc Ba Tư đều còn thông dụng. Kết quả là trong luật pháp Hồi giáo lúc đầu, tỷ giá hối đoái giữa hai loại tiền này là một quy định quan trọng và trên các chợ Hồi giáo, người đổi tiền là một nhân vật có uy tín. Đế quốc được thống nhất và một giai cấp thống trị mới dễ dàng chi những khoản lớn bằng tiền mặt chắc chắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp và thương mại phát triển. Cũng như người Viking ở châu Âu thời Trung cổ, những người A-rập đi chinh phục thường hay mua các loại vải vóc có chất lượng mà cả triều đình lẫn quý tộc đều ưa thích. Công cuộc phát triển kinh tế còn được đẩy mạnh qua việc xây dựng các cung điện và lâu đài tư nhân nguy nga tráng lệ, các đền thờ hay các công trình công cộng; ngoài ra binh lính và những người đến định cư lắm tiền nhiều bạc cũng có rất nhiều nhu cầu mua sắm khác. Những bất mãn của dân chúng trong các thành phố có lẽ bắt nguồn từ những uất hận hơn là từ các khó khăn trong đời sống. Những người A-rập lai, trong số đó có nhiều người có năng lực, tiền tài và cả danh vọng đều không hài lòng vì không được giao phó các trọng trách trong chính quyền và xã hội. Những người Hồi giáo không có gốc A-rập nhất là người Ba Tư thì cảm thấy bị lăng mạ vì họ bị đặt vào một vị thế yếu hèn cho nên họ đòi hỏi phải có sự công bằng mà thông điệp phổ biến của tôn giáo mới đã hứa hẹn với họ. Cả ban đầu và về sau, khi dân số tăng nhanh mà các phương tiện sinh sống không theo kịp đã xuất hiện nhiều đám nông dân không ruộng đất, người lao đông không tay nghề và những kẻ lang thang, bần cùng hay những tên lưu manh trộm cắp. Các tài liệu A-rập cũng cung cấp một hình ảnh sinh động của đám người sống bên lề xã hội ấy.

Nhưng mâu thuẫn và xung đột ấy cùng các mối căng thẳng tự nhiên do việc đế quốc Hồi giáo bành trướng quá nhanh đã gây nhiều bối rối cho các nhà lãnh đạo trong việc duy trì và quản lý đất nước và các giáo chủ đầu tiên đã gặp nhiều khó khăn tưởng chừng như không khắc phục nổi. Bốn vị giáo chủ đầu tiên đã lên ngôi không qua hình thức cha truyền con nối mà, theo cách nói của các luật gia Sun-ni là qua bầu cử. Bốn vị giáo chủ ấy được gọi là Rashidun, “các vị lãnh đạo tài ba” và người Hồi giáo Sun-ni xem các triều đại của họ là một thời hoàng kim thánh thiện, về mặt đạo đức và lãnh đạo chỉ đứng sau giai đoạn sinh thời của Đấng Tiên tri. Tuy nhiên, trừ người thứ nhất thì bốn vị lãnh đạo tài ba ấy đều bị người ta sát hại. Giáo chủ thứ hai, Umar ibn al-Khattab bị một tên nô lệ Cơ Đốc ám sát. Cái chết của hai giáo chủ thứ ba và thứ tư, Uthman và Ali lại đáng quan ngại hơn vì các hung thủ là những người Hồi giáo A-rập chống đối. Chỉ một phần tư thế kỷ sau khi Đấng Tiên tri qua đời thì cộng đồng do Người sáng lập bị xâu xé nghiêm trọng, quốc gia do Người gây dựng bị lung lay trong loạn lạc và nội chiến - không phải giữa người chinh phục và kẻ bị trị, giữa người Hồi giáo mới và người Hồi giáo cũ mà giữa người A-rập và người A-rập.

Abu Bakr trị vì được một thời gian ngắn, khi ông qua đời năm 634 thì Umar ibn al-Khattab lên thay. Thời gian 10 năm trên ngôi của Umar là một giai đoạn quan trọng trong việc hình thành một nhà nước Hồi giáo và có lẽ còn quan trọng hơn trong ký ức lịch sử của người dân Hồi giáo. Theo nhiều nguồn truyền thuyết đáng tín cậy thì khi sắp qua đời, Abu Bakr đã giao quyền kế vị cho Umar. Ông lập tức được phần, lớn các đồng đạo công nhận và trị vì không gặp chống đối nào lớn cả. Chỉ những người ủng hộ Ali, anh họ và cũng là con rể Đấng Tiên tri, là có vẻ không đồng ý. Đối với một số người, Ali hội đủ các đức tính cá nhân để lên ngôi giáo chủ; đối với những người khác, ông có quyền kế tục Đấng Tiên tri một cách hợp pháp hơn. Tuy nhiên, quyền lãnh đạo của Umar có vẻ như được đa số dân A-rập chấp thuận và không những ông duy trì được tính thống nhất mà còn thiết lập được những cơ sở ban đầu của một hệ thống chính quyền đế quốc hoạt động tốt. Sự thay đổi quyền lực được biểu hiện qua việc sử dụng một danh hiệu mới. Vừa là giáo chủ khalifa, có ý nghĩa là người phụ tá, Umar còn là Amir al Muminin, “Thống lãnh các Tín đồ”, một danh hiệu cho thấy rõ uy quyền vừa là chính trị, vừa là quân sự và tôn giáo. Danh hiệu này sẽ được các giáo chủ sử dụng và nó cũng là đặc quyền của chức vụ giáo chủ chừng nào mà chức vụ này còn tồn tại.

Theo truyền thuyết thì Umar bị giết vào năm ông 53 tuổi và trong lúc còn sống ông không hề nghĩ đến chuyện tìm người kế tục. Sử chép rằng lúc gần chết, ông lập ra một uỷ ban - tiếng A-rập là shura - gồm 6 Giáo hữu cao cấp nhất của Đấng Tiên tri để chọn một người trong số họ lên ngôi giáo chủ. Người được chọn là Uthman; một thành viên của gia tộc Umayya thành Mecca, đại diện duy nhất của phái quý tộc Mecca trong số các tín đồ đến với đạo Hồi sớm nhất.

Các vị giáo chủ đầu tiên không hề nắm trong tay một thế lực quân sự nào cả, họ không có một đội cận vệ và lẽ tất nhiên cũng không có quân đội chính quy. Quân đội lúc bây giờ gồm những người lính tuyển từ các bộ lạc và các giáo chủ cai trị không phải bằng thế mạnh quân sự mà bằng uy tín và quyền lực cá nhân của họ, bằng sự tôn trọng họ với tư cách là những người kế tục Đấng Tiên tri và cũng nhờ đức độ của họ.

Đức độ của Uthman không gây được cảm phục như hai vị giáo chủ trước ông. Tình cảm gắn bó bằng tôn giáo đã mờ nhạt đi nhiều sau một thập kỷ khi Đấng Tiên tri qua đời và nó còn bị tiêu tan khi nhóm người quý tộc Mecca tìm cách khai thác triệt để cơ hội tốt khi một thành viên của mình giữ chức vụ tối cao. Đối với người dân du mục, áp lực của chính quyền thường khó được chấp nhận thì bây giờ quả thật là không chịu đựng nổi.

Uthman lên ngôi vào năm 644. Đến giữa thế kỷ, Syria và Ai Cập trên mặt Tây, Iraq và phần lớn Iran trên mặt Đông đều đã trong tay người Hồi giáo. Trong trận Thuỷ chiến của những Cột buồm (654-655), thuỷ quân Hồi giáo vừa được thành lập đã thắng một trận lớn chống quân By-dăng. Đế quốc Ba Tư cũng vừa bị tiêu diệt. Đã đến lúc phải nghỉ ngơi và việc tạm thời ngừng chiến trận đã cho người dân các bộ lạc có thì giờ suy nghĩ về các bất mãn của họ. Những suy nghĩ ấy kéo theo những hành động đã làm bùng nổ nhiều cuộc huynh đệ tương tàn giữa người A-rập với nhau.

Các cuộc nội chiến ấy bắt đầu vào năm 656, khi giáo chủ Uthman bị một nhóm nổi dậy của quân A-rập ở Ai Cập giết trong dịp họ về lại Medina để đề đạt các khiếu nại của mình trước giáo chủ. Họ xông vào dinh giáo chủ ngày 17 tháng Sáu năm 656 và làm ông bị tử thương. Hành động này và các diễn biến về sau đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử đạo Hồi. Lần đầu tiên, và không phải là lần cuối cùng, một giáo chủ Hồi giáo bị các tín đồ của mình giết chết và các binh lính Hồi giáo chiến đấu quyết liệt chống lẫn nhau. Quân nổi dậy lập Ali lên ngôi giáo chủ.

Trong quá trình đấu tranh phức tạp và nhiều mặt của cuộc nội chiến Hồi giáo đầu tiên, Ali ibn Abi Talib, vừa là anh họ vừa là con rể của Đấng Tiên tri đã giữ một vị trí then chốt. Là chồng của Fatima, con gái Đấng Tiên tri, ông thật ra không có quyền ưu tiên nào cả vì trong một xã hội đa thê, vị trí của người con rể chẳng quan trọng gì cho lắm. Nhưng lại là anh họ của Mu-ha-mát, theo tục lệ Tiền Hồi giáo, ông có thế được kế thừa ít ra cũng một vài phần trong các chức vụ chính trị và tôn giáo của Đấng Tiên tri. Đức độ và uy danh của ông giúp ông trở thành một ứng viên sáng giá. Hơn nữa, ông được nhiều người Hồi giáo ủng hộ vì họ đã thất vọng với vị giáo chủ được bầu cùng các đám tay chân của ông này. Họ hy vọng rằng một chế độ mới đứng đầu là một người thân của Đấng Tiên tri sẽ mang lại các thông điệp ban đầu và trung thực của đạo Hồi. Những người này về sau được gọi là thuộc đảng của Ali, shiatu AU, hay gọi tắt là Si-i (Shia).

Tháng Giêng năm 661, sau 5 năm cầm quyền trong một tình trạng hỗn loạn liên tục, chính Ali cũng bị ám sát, lần này không bởi một đám loạn quân mà từ bàn tay của một tên sát nhân đơn độc do một nhóm tôn giáo cực đoan phái đến. Đây lại là một tiền lệ thứ hai với một ý nghĩa vô cùng sâu xa.

Trong số các phe nhóm tham gia vào cuộc nội chiến Hồi giáo lần thứ nhất, nhóm do thống đốc tỉnh Syria là Muawiya ibn Abi Sufyan, cầm đầu đã giành được thắng lợi. Muawiya đã có lợi thế trên nhiều mặt. Là một thành viên của gia tộc Umayya ở Mecca và anh em họ với Uthman, vị giáo chủ vừa bị ám sát, ông có quyền và tất nhiên là có bổn phận trả thù cho người thân của mình, đây là một tục lệ A-rập đã có từ muôn đời và cũng được đạo Hồi xác nhận. Chức vụ thống đốc của ông đã được giáo chủ Umar phong cho như thế là trước khi có các cuộc tranh giành dưới hai triều giáo chủ sau. Là thông đốc tỉnh Syria, nằm ngay hên biên giới giữa hai thế giới Hồi giáo và Cơ Đốc By-dăng, ông có trong tay một đội quân tinh nhuệ và có kỷ luật, đã từng nổi tiếng trong cuộc thánh chiến và cũng nhờ đó mà có một kinh nghiệm chiến đấu dày dạn.

Sau khi Ali bị ám sát, nhiều người mong con ông là Hasan lên nối nghiệp, nhưng chính Hasan lại nhường quyền và công nhận Muawiya là giáo chủ. Muawiya trước đây đã là giáo chủ ở Syria thì nay được giữ quyền trong toàn đế quốc. Sự lên ngôi của ông đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới của Hồi giáo, đó là triều đại các giáo chủ đòng Umayya, với chế độ thừa kế, trên thực tế chứ không bao giờ trên nguyên tắc, là theo triều đại, ngồi giáo chủ chỉ dành riêng cho dòng họ Umayya. Không hề có một quy luật hay một quyền thừa kế nào cả, cho nên các triều đại Hồi giáo về sau, có lẽ không dám làm trái với quan điểm chống đối mạnh mẽ chế độ quân chủ của Kinh Cô-ran hay của các tập tục cổ xưa, đã không đề ra bất kỳ một quy định thừa kế nào, dù là truyền cho con trai trưởng hay truyền dưới một hình thức khác. Khi lựa con mình là Yazid làm người sẽ nối ngôi ngay trong lúc sinh thời, Muawiya đã lập ra một tiền lệ mà về sau các giáo chủ khác sẽ noi theo. Câu chuyện sau đây do một tác giả ở thế kỷ thứ IX kể lại đã nói lên tầm quan trọng của hành động này:

Mọi người tập hợp lại với sự có mặt của Muawiya và các diễn giả đứng lên để tuyên bố Yazid là người sẽ lên ngôi giáo chủ. Có vài người không tán thành và một người thuộc bộ lạc Udhra… đứng lên. Rút kiếm ra khỏi vỏ chừng một gang tay, anh ta nói: “Thống lãnh các Tín đồ là người này!” rồi chỉ tay vào Muawiya. “Nếu ông ấy chết đi thì người này sẽ thay!”, nói xong anh ta chỉ tay vào Yazid. “Nếu ai không đồng ý, thì có cái này!” và anh ta chỉ tay vào thanh kiếm.

Muawiya nói với anh ta “Anh thật là vua trong số các diễn giả”.[2]

Triều đại Muawiya tồn tại không đầy một thế kỷ và các truyền thuyết lịch sử Hồi giáo A-rập phần lớn được viết sau khi triều đại ấy sụp đổ đã chỉ trích nó rất nghiêm khắc. Đối với người Si-i, đó là triều đại của những kẻ tiếm quyền và bạo chúa, đã cướp đi ngôi báu của cha con giáo chủ Ali là những lãnh tụ hợp pháp của cộng đồng, đã tàn sát và truy hại dòng giống của Ali và đã từ bỏ hay làm biến chất những lời dạy của đạo Hồi. Ngay sau khi triều đại Umayya sụp đổ, các sử gia Sun-ni cũng cho rằng những người thuộc dòng Umayya là những kẻ tiếm quyền và mặc dù không tàn ác nhưng họ quá để ý đến vật chất trên đời mà quên đi cách sống và lý tưởng của những người ngoan đạo. Trong các sách sử kinh điển, triều đại của họ được xem là một “vương triều thế tục” (mulk) quá độ giữa triều các giáo chủ tài ba đi trước họ và triều các giáo chủ thuận lòng trời tiếp theo sau họ. Truyền thuyết lịch sử của người A-rập thường chẳng ưa thích gì triều đại Umayya nhưng cũng phải khen ngợi tài năng chính trị và ngoại giao của Muawiya, mặc dù với những lời lẽ lập lờ.

Các sử gia ngày nay nhìn chung ít chỉ trích dòng Umayya hơn và họ đặc biệt nhấn mạnh đến những công lao của các giáo chủ nổi tiếng đã duy trì được tính ổn định và tính liên tục của một quốc gia và một xã hội Hồi giáo trong một thời buổi đầy nhiễu nhương nguy hiểm.

Các giáo chu Umayya đã cần đến nhiều thoả hiệp và những dàn xếp tạm thời để duy trì một tính thống nhất tối thiểu cũng như để tiếp tục và mơ rộng các cuộc chinh phục đất đai hay để xây dựng nền móng của một tổ chức hành chính, một xã hội và một nền văn hoá cho toàn đế quốc. Để làm được các việc ấy, họ phải trả giá bằng cách chấp nhận một sự xa rời các lời dạy ban đầu của đạo Hồi. Các cuộc ám sát giáo chủ và nội chiến đã làm suy yếu đến mức báo động uy tín của quyền lực tôn giáo và tình đoàn kết giữa các tín đồ. Các giáo chủ dòng Umayya đã tìm lối thoát qua việc tạo ra một “vương quốc A-rập” trên cơ sở huyết thống. Chỉ những người có huyết thống A-rập không pha tạp, nghĩa là cả cha và mẹ đều là A-rập thì mới mong đảm nhiệm những chức vụ hàng đầu. Còn những người hai dòng máu, có cha là A-rập nhưng mẹ thường là nô lệ không A-rập thì chỉ lên được nửa chừng không bao giờ đạt đến các nấc cuối cùng của bậc thang danh vọng. Ngay đến một người như hoàng tử Maslama, con của một vị giáo chủ Umayya nổi tiếng và chính ông cũng là một chỉ huy quân sự xuất sắc nhưng chỉ vì mẹ nguyên là một phụ nữ nô lệ nên không được đưa vào danh sách thừa kế.

Trên bậc thang xã hội, thấp hơn những người lai A-rập là những tín đồ Hồi giáo không A-rập và dưới cùng là đám dân ngoại đạo lúc ấy đang còn chiếm đa số. Nhưng những người không phải là A-rập dù theo Hồi giáo hay không, vẫn đóng một vai trò quan trọng trong chính quyền Umayya tuy họ không được giao các trọng trách chính trị và quân sự. Các nhà viết sử đời sau chê trách triều đại Umayya là đã thoả hiệp và mặc nhiên không tuân thủ các giới luật Hồi giáo trên những vấn đề hành chính và thuế khóa để xây dựng một hệ thông chính quyền ở cả trung ương và địa phương dựa ngày càng nhiều trên các câu trúc, thế thức và nhất là trên nhân lực của các đế quốc đã bị giáo quốc Hồi giáo lật đổ và thay thế.

Hiện tượng này được người dân phát hiện và là nguyên nhân của những chống đối không phải chỉ trên mặt đạo đức mà cả dưới hình thức vũ trang. Đặc biệt có hai nhóm chống đối vũ trang, họ chỉ trích triều đại Umayya bằng những lập luận có tính cách tôn giáo cho nên họ có tổ chức như những giáo phái. Một nhóm có tên là nhóm Kha-ri-di (Kharijite là một từ A- rập có nghĩa là “bước ra ngoài”). Nhóm này bắt đầu với một số người ủng hộ Ali nhưng trong cuộc nội chiến lần thứ nhất lại rời bỏ và chống lại ông. Kẻ ám sát Ali là một thành viên của nhóm này và họ tiếp tục chống đối các giáo chủ Umayya và những người kế tục. Người Kha-ri-di là hiện thân của một hình thức độc lập cực đoan của các bộ lạc, họ cương quyết không chấp nhận bất cứ quyền lực nào không phải do họ lập nên qua lựa chọn tự do, một quyền lực mà họ không có quyền bãi miễn bất kỳ lúc nào. Theo họ thì bất kỳ tín đồ nào không phân biệt cấp bậc và nguồn gốc đều có thế trở thành giáo chủ nếu được các đồng đạo lựa chọn. Người theo giáo phái Si-i thì có quan điểm hoàn toàn ngược lại, họ cho rằng chức vụ giáo chủ theo thiên mệnh, phải thuộc về người trong gia đình của Đấng Tiên tri. Cả hai nhóm trên nhiều khi gây ra những cuộc bạo loạn nguy hiểm để lật đổ chính quyền hiện hữu hòng thay vào đấy bằng một chính quyền Hồi giáo chân chính.

Cuộc nội chiến thứ hai bắt đầu bằng một sự nổi dậy ít có hậu quả tức thời về các mặt chính trị và quân sự nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn về mặt tôn giáo do đó là một mốc lịch sử quan trọng. Năm 680, Husayn, một người con của Ali và là cháu ngoại của Đấng Tiên tri cầm đầu một cuộc nổi dậy ở Iraq. Vào ngày 10 tháng Muharram theo lịch Hồi giáo, tại một nơi có tên là Karbala, Husayn cùng gia đình và thuộc hạ đụng đầu với một đội quân Umayya và thua trận. Theo truyền thuyết, trong trận đánh và ngay sau đó, cả 70 người đều bị sát hại, chỉ có một đứa bé là Ali, con của Husayn, đang bị bệnh nên được bỏ lại trong lều vì thế cho nên sống sót và kể lại được thảm kịch này. Trận tàn sát ở Karbala chiếm một vị trí trung tâm trong cách nhìn của người Si-i về lịch sử đạo Hồi, và ngày 10 tháng Muharram trở thành một ngày lễ lớn trong lịch Si-i. Trong ngày ấy, người Si-i ở bất kỳ nơi đâu cũng làm lễ tưởng niệm sự hy sinh vì tôn giáo của những người thuộc gia đình Đấng Tiên tri, bày tỏ lòng hối hận vì không cứu được họ, lên án sự tàn ác của những kẻ đã giết hại họ. Nhiều nghi thức tôn giáo trọng thế được tiến hành xoay quanh các chủ đề về sự hy sinh, về tội lỗi và lòng sám hối. Những khác biệt về giáo lý giữa các giáo phái Sun-ni và Si-i của đạo Hồi không phải là quan trọng, còn ít hơn nhiều so với các bất đồng giữa những giáo phái Cơ Đốc với nhau. Nhưng người Si-i rất nhạy cảm với các tấm gương tuẫn đạo, các hành động truy hại của đối phương, lại qua nhiều thế kỷ họ chỉ là một nhóm thiểu số bị những kẻ được xem là tiếm quyền o ép cho nên đã xuất hiện một hố sâu tâm lý ngăn cách họ với chính quyền Sun-ni thuộc phe đa số, hơn nữa những khác biệt về kinh nghiệm và quan điểm càng làm cho hai phe xa rời nhau trong các thái độ và cách ứng xử về tôn giáo và chính trị.

Cuộc thảm sát Karbala đã đẩy nhanh việc chuyển biến của nhóm Si-i từ một đang phái chính trị sang một nhóm tôn giáo ly khai và làm cho cuộc nội chiến lần thứ hai thêm phần gay gắt và ác liệt. Một lần nữa, đế quốc Hồi giáo lại gánh chịu một cuộc chiến huynh đệ tương tàn và - đây là một đổi thay đáng lo ngại — có những người không phải A-rập tham gia vào. Mặc dù về lâu về dài cuộc nổi dậy của người Si-i có nhiều hậu quả nghiêm trọng nhưng trước mắt nó không phải là nguy hiểm nhất. Trong số các phong trào chống đối mà giáo chủ Abd al-Malik phải giáp mặt ngay sau khi ông lên ngôi vào năm 685, cuộc nổi dậy của anh em Musab và Abdallah ibn al-Zubayr là nghiêm trọng nhất. Tự phong cho mình chức giáo chủ năm 683 tại vung Hejaz, Abdallah mở rộng quyền kiểm soát đến tận Iraq một thời gian và cũng được một vài tỉnh trong đế quốc công nhận ở một chừng mực nào đó. Chỉ sau khi Abdallah qua đời vào năm 692 thì Abd al-Malik mới dẹp tan được mọi chống đối để lo việc phục hồi và củng cố quyền lực trong một quốc gia ngày càng mang tính quân chủ.

Dưới triều của Abd al-Malik (685-705) và của người kế tục nổi tiếng nhất của ông là Hisham (724-743), một quá trình mà các sử gia A-rập gọi là “tổ chức và chỉnh đốn” đã được đẩy mạnh. Các cấu trúc hành chính cũ còn giữ lại của thời By-dăng và Ba Tư nay được thay thế bằng một nền trật tự mới của đế quốc trong đó các tiếng Hy Lạp và Ba Tư được thay thế bằng tiếng A-rập trong các lĩnh vực hành chính và kế toán. Truyền thuyết lịch sử A- rập gắn liền cuộc cải cách này với tên của Abd al-Malik và nhiều bằng chứng cũng xác nhận điều đó. Năm 694, Abd al-Malik cho phát hành một loại tiền vàng mới với những hệ quả vô cùng to lớn. Lúc ấy chỉ riêng người By-dăng là có đúc tiền vàng theo truyền thống của các hoàng đế La Mã và trên thế giới không hề có loại tiền vàng nào khác. Cho đến thời điểm ấy, người A-rập chỉ đúc tiền bằng bạc trong các xưởng đúc ở các tỉnh chiếm được của By-dăng và Ba Tư. Tiền đúc cũng không khác gì trước chỉ khắc thêm dòng chữ cho biết là chế độ đã thay đổi. Người A-rập tiếp tục nhập tiền vàng từ đế quốc By-dăng. Hoàng đế By-dăng xem đồng dinar vàng của Abd al-Malik — tên dinar cũng bắt chước từ tên denarius gọi các đồng tiền La Mã - là một thách thức đối với ông và đã đi đến chiến tranh để phản đối. Thách thức ấy lại càng nổi bật và rõ rệt khi trên đồng dinar còn khắc một câu Kinh Cô-ran để khẳng định lòng tin Hồi giáo:

Không có Thượng đế nào ngoài chính Thượng đế, Thượng đế không có bạn đồng hành. Mu-ha-mát là vị Tiên tri được Thượng đế sai khiến xuống Trần gian cùng với Tôn giáo chân chính để chiếm ưu thế so với mọi tôn giáo khác. (9:31-35)

Thượng đế là Duy nhất, là Vĩnh cửu. Thượng đế không sinh ra ai mà cũng không do ai sinh ra cả. (112:1-3)

Các câu ấy trích ra từ Kinh Cô-ran là một thách thức trực tiếp đối với các luận thuyết của Cơ Đốc giáo và cũng được khắc trên Vòm Mỏm Đá, ngôi đền mà Abd al-Malik đã cho xây ngay tại vị trí của đền Jerusalem vào năm 72 của kỷ nguyên Hijra (691-692 CN). Ngôi đền cũng như dòng chữ khắc nói lên mục tiêu tôn giáo của chúng. Các con đường mới xây với tên của giáo chủ khắc trên các cột mốc lại nói lên mục tiêu xây dựng đế quốc. Đồng tiền đúc ra nói lên cả hai mục tiêu này. Rõ ràng là vào thời điểm ấy, một quốc gia bá quyền mới và một tôn giáo mới của thế giới đã ra đời để chống lại các tham vọng của đế quốc By-dăng và của sứ mạng Cơ Đốc.

Đền Vòm Mỏm Đá cùng với thánh đường Al-Aqsa gần kề hợp thành quần thể kiến trúc tôn giáo lớn đầu tiên của đạo Hồi và đánh dấu sự khỏi đầu của một thời đại mới. Giai đoạn vay mượn, cải biên hay ứng biến nay đã đi vào dĩ vãng. Giáo quốc Umayya không còn là nhà nước kế tục của La Mã và Ba Tư mà nay là một chính thế mới có tính toàn cầu. Hồi giáo không còn là tôn giáo kế tục của Cơ Đốc giáo mà nay là một hệ thống mới của toàn thế giới. Vị trí, kiến trúc và nhất là cách trang trí ngôi đền Vòm Mỏm Đá thế hiện mục tiêu của nó. Kiểu kiến trúc và kích cỡ của ngôi đền chắc chắn là muốn cạnh tranh và vượt hẳn nhà thờ Mộ Chúa Jesus, với một vài thay đổi nhỏ để phù hợp với kiểu cúng bái của người Hồi giáo khác người Cơ Đốc giáo. Vị trí được lựa chọn là Jerusalem, thành phố thiêng liêng nhất của cả hai tôn giáo đi trước, Do Thái và Cơ Đốc.

Sự lựa chọn Jerusalem rất có ý nghĩa. Jerusalem không bao giờ được nhắc đến trong Kinh Cô-ran. Ngay cả tên Jerusalem cũng không có trong các sử sách Hồi giáo ban đầu. Nếu thành phố này được nhắc đến, thí dụ như trên các cột mốc của Abd al-Malik, thì người ta dùng tên Aelia là tên mà người La Mã gán cho nó để làm mất tính thiêng liêng và để cắt đứt mối quan hệ của nó với các đạo Do Thái và Cơ Đốc. Việc lựa chọn một địa điểm trong Jerusalem để xây ngôi đền Hồi giáo đầu tiên có tầm cỡ cũng rất đáng chú ý. Địa điểm đó là đồi Thánh Đường, nơi đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong thánh sử của cả hai đạo Do Thái và Cơ Đốc. Địa điểm chính xác là mỏm đá mà trên đây, theo truyền thuyết của các giáo trưởng Do Thái, Abraham đã chuẩn bị để hy sinh con mình và chính nơi ấy về sau đã cất giữ Thùng chứa Luật của Thánh đường Do Thái. Làm như vậy, Abd al- Malik muốn nói rằng đây là thánh điện của lời thần khải cuối cùng, ngôi đền mới dành cho tôn giáo của Abraham, thay thế cho ngôi đền của Solomon để tiếp tục những lời thần khải Thượng để ban cho người Do Thái và người Cơ Đốc và cũng để sửa đổi những sai lầm họ đã mắc phải.

Mục tiêu chính trị của ngôi Thánh điện lại còn được làm rõ qua các câu Kinh Cô-ran và những dòng chữ khắc bên trong ngôi đền. Một câu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần là “Thượng đế là duy nhất, không có bằng hữu, không có bạn đồng hành.” Việc phủ nhận thuyết Ba Ngôi của Cơ Đốc giáo thật rõ ràng và một dòng chữ khác xác nhận:

Hãy tôn vinh Thượng đế, Người không sinh ra con và không có bằng hữu trong nước của Người, không cần ai bảo vệ chống lại mọi ô nhục; vâng, hãy ca ngợi Thượng để vì tính Vĩ đại và Quang vinh của Người!

Một dòng chữ khác được khắc nhiều nơi và là câu Sura 112 nổi tiếng “Người là Thượng đế. Người không sinh ra ai mà cũng không do ai sinh ra. Không ai sánh ngang tầm Thượng đế.” Một câu khác rõ ràng là để cảnh cáo những người trước đấy đã nhận lời thần khải (Cô-ran 4:171):

Hỡi người dân đọc Kinh Thanh! Đừng làm gì thái quá trong khi hành đạo; chỉ nói sự thật về Thượng đế mà thôi. Jesus, con của Maria là một Tiên tri của Thượng đế… Vậy hãy tin Thượng đế và các Tiên tri của Người. Đừng bao giờ nói đến Số Ba, hãy bỏ nó đi như thế sẽ tốt cho các ngươi vì Thượng đế chỉ có một, cao quý như vậy thì sao lại có con?”

Một dòng chữ khác ghi lời cảnh cáo mạnh mẽ hơn đến người Do Thái và Cơ Đốc về những sai lầm của họ (Cô-ran 3:18-19):

Có Thượng đế chứng giám và cả các Thánh Thần và những ai thông minh tài giỏi, những ai bảo vệ công lý cùng chứng giám là không có Thượng đế nào khác ngoài Thượng đế. Không có Thượng đế nào khác ngoài Thượng đế Toàn quyền Toàn uy, Toàn trí Toàn thức. Đạo của Thượng đế là đạo Hồi… Những ai không tin vào các biểu hiện của Thượng đế hãy coi chừng vì Thượng đế nhận ra rất nhanh.

Các điều trên vừa có ý nghĩa chính trị vừa có ý nghĩa tôn giáo. Chỉ có tôn giáo mới biện minh cho sự ra đời của đế quốc. Chỉ có đế quốc mới bảo đảm được sự tồn tại của tôn giáo. Qua sứ giả của mình là Mu-ha-mát và phụ tá của mình là giáo chủ, Thượng đế đã ban cho thế giới một lời thần khải mới và một trật tự mới. Trong công trình kiến trúc tôn giáo hùng vĩ đầu tiên này hiến dâng cho đức tin mới, giáo chủ Abd al-Malik, vị lãnh đạo ngoài đời của đức tin ấy đã khắng định mối quan hệ giữa Hồi giáo và các tôn giáo đi trước và đồng thời nói rõ rằng lời thần khải mới đã đến để sửa đổi các sai lầm của các tôn giáo ấy và để thay thế chúng.

Có lẽ những suy nghĩ tương tự như vậy đã nằm trong đầu con trai và người kế tục của Abd al-Malik, giáo chủ al-Walid, khi ông cho xây Đại Thánh đường ở Damascus. Nhà địa dư học của thế kỷ thứ X, al-Muqaddasi, đã ghi lại một cuộc nói chuyện lý thú:[3]

Một hôm tôi nói với bác tôi rằng “[giáo chủ al-Walid] đã sai lầm khi phung phí tiền bạc của người Hồi giáo để cho xây ngôi đền Damascus. Nếu ông dùng tiền ấy để bảo dưỡng đường sá hay các thùng chứa nước hay để tu bổ các pháo đài thì có phải vừa thích hợp lại vừa đáng khen không?” Bác tôi trả lời: “Đừng tưởng là như vậy, cháu ơi. Al-Walid đang có những ý đồ đúng đắn. Ông thấy ở đất Syria của bọn Cơ Đốc lại đầy rẫy các ngôi nhà thờ đẹp đẽ, bề ngoài quyến rũ và tiếng tăm lừng lẫy như Nhà thờ Phục Sinh [tức là nhà thờ Mộ Chúa Jesus], các nhà thờ ở Lydda và Edessa. Vì vậy giáo chủ mới ban cho những người Hồi giáo một ngôi đền để họ đừng nhìn về các nhà thờ ấy nữa và quyết tâm làm cho đây là một kỳ quan của thế giới đấy. Cũng tương tự như vậy khi Abd al-Malik trông thấy mái vòm vĩ đại và cao vút của nhà thờ Phục Sinh thì ông sợ trong lòng người Hồi giáo chỉ thấy có nó cho nên ông đã cho xây đền Vòm mà ta thấy trên Mỏm Đá”.

Có lẽ cũng vì có đền thờ Hồi giáo vĩ đại này và vì nó gợi ý về ngôi đền Do Thái của Solomon mà trong một thời gian, Jerusalem được gọi là Bayt al-Maqdis, chắc chắn là có xuất xứ từ Bayt ha-Miqdash, tên đền Do Thái trong Kinh Thánh. Về sau cả tên này và tên Aelia đều không được dùng nữa và thay vào đây là tên al-Quds, “[thành phố] thiêng liêng” (xem Isaiah 52:1; Nehemiah 11:1,11:18…) Một câu trong Kinh Cô-ran (17:1) kể lại rằng một đêm, Thượng đế đưa Đấng Tiên tri đi từ Thánh đường (ở Mecca) đến ngôi đền Hồi giáo ở xa nhất (trong tiếng A-rập, al-Masjid al-Aqsa). Một chú giải trong truyền thuyết đặt “ngôi đền xa nhất” này trên Thiên đường; một chú giải khác đặt nó ở Jerusalem. Người Hồi giáo về sau nhất trí chấp nhận chú giải thứ hai này. Câu kinh này lại không được khắc trên đền Vòm Mỏm Đá. Một truyền thuyết xưa khác không xem Jerusalem là thiêng liêng đối với Hồi giáo. Theo truyền thuyết này chỉ có Mecca và Medina là những thành phố thánh, tôn thờ đồi Thánh Đường chỉ là một sai lầm bắt chước theo Do Thái. Cuộc tranh cãi này đã kéo dài hàng thế kỷ và chỉ tương đối gần đây mới có kết luận Jerusalem cũng là thành phố thánh.

Một bức tranh vẽ trên tường tại Qusayr Amra, một nhà nghỉ tại khu săn bắn khoảng 80 km về phía đông Amman trong sa mạc của Jordan, đã thể hiện một thông điệp chính trị rất trực tiếp. Có lẽ được vẽ vào đầu thế kỷ thứ XIII, nó cho thấy giáo chủ đang ngồi nhận lễ triều kiến của sáu vị vua ngoại đạo có tên được ghi bằng cả chữ Hy Lạp và chữ A-rập. Bốn vị được nhận ra, đó là Caesar, nghĩa là hoàng đế By-dăng; Roderic, vua Visigoth cuối cùng cua Tây Ban Nha bị người A-rập đánh bại vào năm 711; Chosroes, hoàng đế Ba Tư; và Hoàng đế Ethiopia. Hai vị cuối cùng hình đã mờ nên khó nhận dạng, có lẽ là một hoàng đế Trung Quốc và một vị vua Ấn Độ hay Thổ. Điều đáng chú ý là các vị vua ấy không được vẽ như những tù binh ô nhục thông thường trên các bức tranh vẽ quân thù thất trận mà ở đây là những chư hầu đang làm lễ triều bái. Lần này, thông điệp không phải là chinh phục và khuất phục — hai trong số các nước ấy là Trung Quốc và Ethiopia không hề bị xâm chiếm - mà chỉ muốn nói lên sự công nhận của các vua chúa thế giới về tính ưu việt của đạo Hồi và địa vị cao cả của giáo chủ Hồi giáo, người kế tục của một số vị và chúa tể của tất cả.

Vào giai đoạn cuối của triều đại Umayya, giáo chủ và các cố vấn tìm cách hợp lý hoá các hệ thống thuế khóa đã có từ các chế độ cũ thành một hệ thống mới, tiêu biểu cho Hồi giáo. Các nhà viết truyền thuyết lịch sử về sau công nhận những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này của vị “giáo chủ sùng đạo” Umar ibn Abd al-Aziz, người duy nhất được mang danh “giáo chủ”, các nguyên thủ khác của triều đại Umayya chỉ được gọi là “vua”.

Nhưng dân chúng vẫn còn ta thán, nhóm người bất mãn lại được bổ sung ngày càng nhiều bằng những con lai A-rập và những người Hồi giáo không phải A-rập. Ngay cả trong số người không đứng lên cầm vũ khí hay không đưa ra một chủ thuyết thay thế thì, như thường hay bộc lộ trong văn học, ai cũng cho rằng lịch sử đạo Hồi đã đi không đúng hướng, và các lãnh đạo của cộng đồng đang dẫn dắt họ vào con đường tội lỗi. Kết quả là có một thái độ thụ động, rút lui khỏi sự cộng tác với nhà nước, nếu phục vụ chính quyền thì bị xem là hèn hạ không xứng đáng với người Hồi giáo thật sự ngoan đạo.

Đã đến lúc phải có những thay đổi triệt để. Xét cho cùng thì chính sự ra đời của Hồi giáo đã là một loại hình cách mạng. Tôn giáo mới đã nhấn chìm các luận thuyết và các giáo hội đương thời, nó không mang lại một kinh sách thứ ba để bổ sung cho hai kinh sách đã có nhưng là một bản văn mới để thay thế chúng. Lên nắm quyền nhờ các cuộc chinh phục, các lãnh tụ mới đã lật đổ nền trật tự cũ, trật tự chính trị, tôn giáo và xã hội để thiết lập một trật tự mới. Trong Hồi giáo, mà việc hình thành đã được lý tưởng hoá, thì không có giáo sĩ, không có giáo hội, không vua chúa và không quý tộc, không có những thành phần hay giai cấp hoặc đắng cấp được ưu đãi. Hồi giáo chỉ công nhận ưu thế hiển nhiên của những ai chấp thuận niềm tin mới so với những kẻ cố tình bác bỏ nó - và lẽ tất nhiên, chấp nhận các thực tế tự nhiên là ưu thế của nam so với nữ và thực tế xã hội là ưu thế của chủ nhân so với người nô lệ. Ngay cả các bất bình đẳng ấy cũng được Hồi giáo làm giảm bớt tính gắt gao và tăng tính nhân đạo. Khác với những gì trong thế giới cổ, người nô lệ không còn là một động sản mà là một con người có các địa vị pháp lý và đạo đức được công nhận. Phụ nữ mặc dù vẫn phải gánh chịu chế độ đa thê và thân phận lẻ mọn nhưng đã có nhiều quyền sở hữu mà ngay ở các nước phương Tây cũng chỉ trong thời hiện đại họ mới có được. Đến cả những người không phải Hồi giáo, dù phải chịu một số thiệt thòi trong các lĩnh vực thuế má và xã hội nhưng họ cũng được hưởng một mức độ khoan hồng và an ninh hơn hẳn số phận của những người không theo Cơ Đốc giáo thời Trung cổ và đôi khi trong các nước Cơ Đốc hiện nay.

Trên nguyên tắc, tất cả chiến binh A-rập đều có phần — mặc dù không đều nhau - trong chiến lợi phẩm và tiền cống nạp do các cuộc chinh phục mang lại. Nhiều người trong số họ lại tìm cách có thêm nhiều lợi lộc hơn, đôi khi gây ra tranh giành nhau. Người dân các bộ lạc thì đòi nhiều đồng cỏ, người dân các ốc đảo thì muốn chiếm đất đai rộng lớn và phì nhiêu hơn, các thương gia thành Mecca thì thích khai thác cơ hội mua bán trong các thành phố lớn. Phần lớn các ta thán về chính quyền của các giáo chủ, đặc biệt là giáo chủ thứ ba Uthman, xoay quanh việc họ đáp ứng nhu cầu của các nhóm người này hơn là các nhu cầu của Hồi giáo.

Đối với người dân du mục quen sống tự do thì mọi quyền lực chính trị đều phiền toái và xa lạ, sự lớn mạnh về quyền uy của nhà nước và của những người lãnh đạo là một xúc phạm và một phản bội đối với lý tưởng chân chính của đạo Hồi.

Cả người mộ đạo lẫn người chống đối đều quan niệm rằng chức vụ giáo chủ được lập ra để củng cố và truyền bá lý tưởng ấy. Mục đích của nó phải là phục vụ Hồi giáo, uy quyền của nó đã được các tín đồ tự ý ban cho và cũng có thể bị thu hồi lại. Nhưng trong mắt nhiều người thì nhà nước, đáng lẽ phải phục vụ Hồi giáo, lại đi phục vụ quyền lợi của một thiểu số những kẻ giàu sang mà trong chính quyền cũng như trong các lĩnh vực khác, đã có những hành động ngày càng có nguy cơ đi theo vết xe đổ của những kẻ cầm đầu các chế độ đã bị Hồi giáo tiêu diệt. Tất cả các vấn đề ấy đã được cô đọng lại trong các tranh cãi nhân cái chết của Uthman. Theo ý một số người, đây là một vụ ám sát cố tình, một hành động phản loạn chống lại chính quyền hợp pháp, cần phải bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc nhất. Theo cách nhìn của những người khác, đây không phải là một vụ ám sát mà là một vụ thi hành án tử hình để trừng trị đích đáng một người đã lạm dụng — những người Si-i nói là đã tiếm đoạt — quyền lực cao nhất trong cộng đồng Hồi giáo và lái nó đi trệch hướng. Dưới nhiều hình thức, cuộc tranh cãi này vẫn tiếp tục chi phối lý thuyết và hành động chính trị của Hồi giáo trong nhiều thế kỷ.

Trong thời gian đầu, vấn đề được đưa ra bàn cãi là chức vụ giáo chủ, nghĩa là ai được lên nắm quyền và sử dụng quyền ấy như thế nào cùng với vấn đề khôi phục lại — và định nghĩa thế nào là - một đạo Hồi chân chính.

Thật là một nghịch lý bi đát khi chỉ qua củng cố chính quyền mới bảo tồn được sự đoàn kết của cộng đồng, và chính quyền Hồi giáo, khi lớn mạnh lại phải có nhiều thoả hiệp về các ý tưởng xã hội và đạo đức của tôn giáo. Sự chống đối quá trình này xảy ra thường xuyên và mạnh mẽ, đôi khi thắng thế nghĩa là quân nổi dậy giành được chính quyền; nhưng luôn luôn vô bổ nghĩa là chiến thắng của phe nào cũng vậy, dù chống đối hay ủng hộ, đều dẫn đến việc tăng cường quyền lực của nhà nước và dấn sâu vào một chế độ chuyên chế tập trung như đã có Trung Đông trước đấy; do đó càng rời xa lý tưởng của đạo Hồi về chính quyền. Cuộc chống đối này đã cho ra đời nhiều giáo phái, khác nhau về luận thuyết và thành phần nhưng cùng chung lòng mong muốn lập lại tính năng động ban đầu của những vị sáng lập ra Hồi giáo. Lúc đầu, khi các từ “A-rập” và “Hồi giáo” hầu như đồng nghĩa thì các đấu tranh tôn giáo là những cuộc nội chiến giữa những người A-rập. Về sau, khi Hồi giáo phát triển nhanh chóng trong số dân bị chinh phục, những người mới gia nhập Hồi giáo đóng một vai trò ngày càng lớn và có thể nói là nổi bật nhất trong các phong trào ấy. Một bằng chứng hùng hồn cho tính phổ cập và mãnh lực cách mạng của đạo Hồi là các phong trào chống đối lớn trong đế quốc đều mang màu sắc Hồi giáo chứ không phải phản lại nó.

Sau khi Hisham qua đời năm 743, còn bốn triều giáo chủ nữa rồi triều đại Umayya mới cáo chung. Những cuộc xung đột giữa các bộ lạc, sự tăng cường tính chất bè phái của cả hai phe Kha-ri-di và Si-i, một phong trào chống đối mạnh mẽ nổi lên ở tỉnh Khorasan miền Đông Iran, tất cả đều góp phần vào việc làm suy yếu quyền lực giáo chủ đến mức nó bị phản kháng ở cả ngay Syria và bị khinh rẻ ở các nơi khác. Giáo chủ cuối cùng dòng Umayya, Marwan II (744-750) là một vị lãnh đạo có năng lực nhưng đã quá muộn để có thế cứu vãn sự sụp đổ của triều đại. Một thế lực mới, một triều đại mới và một kỷ nguyên mới trong lịch sử Hồi giáo đang mọc lên ở phương Đông.

❀ ❀ ❀

[1] Al-Masudi, Muruj al-Dhahab, bản dịch tiếng Pháp của Barbier de Meynard và Pavet de Courteille, Les Prairies d’or (Paris 1962-1971) vol. III, t 616.

[2] Ibn Qutayba, Uyun al-Akhbar, ed. Ahmad Zaki al-Adawi (Caho 1343-1348) vol. 2, t. 210; bản dịch tiếng Anh của Bernard Lewis, Islam from the Prophet Muhammad to the Capture of Constantinople, 2 (1974) t. 273.

[3] Al-Muqaddasi, Descriptio Imperii Moslemici, ed. MJ. Goeje (Leiden 1906), 1.159.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.