Người ta thường nói Hồi giáo là một tôn giáo tôn trọng quyền bình đẳng, điều này đúng trên nhiều mặt. Nếu đem so sánh các nguyên tắc và, suy rộng ra, cả cách thực hành của đạo Hồi vào lúc mới ra đời với cách sống trong các xã hội xung quanh nó - như xã hội phong kiến nhiều tầng lớp của Iran, xã hội nhiều đẳng cấp của Ấn Độ, các xã hội By-dăng và Âu châu Latin với những giai cấp quý tộc nhiều đặc quyền đặc lợi, thì đúng là Hồi giáo đã mang đến một thông điệp của bình đẳng. Hồi giáo đã không chấp nhận những phân biệt dựa trên các đặc điểm xã hội và bộ lạc mà còn tích cực loại bỏ chúng. Kinh Cô-ran đã thể hiện rất rõ vấn đề này:
Tất cả mọi người hãy nghe đây. Ta đã tạo ra các ngươi từ một người đàn ông và một người đàn bà. Ta đã cho các ngươi tập hợp thành những dân tộc và những bộ lạc để các ngươi làm quen với nhau. Lẽ tất nhiên, đối với Thượng đế, người cao quý nhất trong các ngươi là người kính sợ Thượng đế nhất. (Cô-ran 49:13)
Các hành động và lời nói của Đấng Tiên tri, các gương sáng của những giáo chủ đầu tiên của Hồi giáo như trong truyền thuyết kể lại, đều mạnh mẽ lên án những đặc quyền do dòng giống, gia tộc, địa vị, tài sản và ngay cả do chủng tộc đưa đến và nhấn mạnh rằng đẳng cấp và danh dự chỉ tuỳ thuộc vào lòng sùng đạo và các công trạng trong đạo Hồi mà thôi.
Những ý tưởng ấy cũng không có gì là mới lạ. Theo một đoạn văn nổi tiếng trong Kinh Tân ước thì: “Không có người Do Thái hay người Hy Lạp, không có người nô lệ hay người tự do, cũng không có nam và nữ, tất cả các ngươi chỉ là một trong chúa Jesus Ki-tô” (Gal. 3:28 hay những đoạn tương tự trong I Cor. 12:13; Col. 3:11). Ngay trong Kinh Job trước đây cũng nói chủ và nô lệ cũng đều là người cả (Job 31:15).
Nhưng đối với người Do Thái, Cơ Đốc hay Hồi giáo, dù đều là một phần của nhân loại thì cũng không tránh khỏi việc hình thành và duy trì một số khác biệt cơ bản giữa người với người. Đoạn trích từ trong thư của Thánh Tông đồ Phao-lô gửi người Galatia nêu trên không hẳn muốn xoá bỏ hay hạ thấp các khác biệt về chủng tộc, xã hội và giới tính mà chỉ muốn nói lên việc các khác biệt ấy không mang lại bất kỳ đặc quyền nào cả về tôn giáo. Phần cuối của câu nói vạch rõ khoảng cách giữa tín đồ và người ngoại đạo. Cả ba tôn giáo đều nhấn mạnh đến giá trị và tính tự chủ của mỗi cá nhân và tầm quan trọng của mỗi linh hồn trước mắt Thượng đế. cả ba đều khẳng định là lòng sùng đạo và các việc làm từ thiện còn cao hơn nhiêu so với tiền của, quyền uy hay thành phần gia đình. Trong khi cả ba tôn giáo, trên nguyên tắc, thông nhất về tính bình đẳng của nhân loại thì, trong lịch sử, cả ba chỉ giới hạn sự hưởng thụ hoàn toàn quyền bình đẳng ấy cho những ai có được bốn đặc tính cần thiết: phải là người tự do, trưởng thành, nam giới và có đạo. Như vậy, cả ba tôn giáo đều đứng vững trên giả thuyết là người nô lệ, trẻ em, phụ nữ và người ngoại đạo trên nhiều mặt phải thấp kém hơn. Trong tập tục của ba tôn giáo đều có nói vì sao lại có những sự hèn kém ấy và cách nào để thoát khỏi sự phân biệt trên. Người nô lệ có thể được chủ trả tự do, người ngoại đạo có thế thoát khỏi tình trạng thấp hèn bằng cách quy nhập vào tôn giáo chân chính, trẻ em thì đến lúc sẽ trưởng thành. Chỉ có người phụ nữ thì, theo các quan điểm của thế giới tôn giáo cổ điển, phải đời đời gánh chịu cảnh ngộ thấp hèn.
Đối với các tín đồ của cả ba tôn giáo, những ai không có tín ngưỡng là do họ tự chọn như vậy. Tuy nhiên, trong ba tôn giáo ấy có những khác biệt đáng kể trong định nghĩa và nhận thức về người không tín ngưỡng và về địa vị của người ngoại đạo. Đối với các loại khác thì ít có khác biệt hơn. Phụ nữ và trẻ em do trời sinh ra, không phải là tự con người tạo ra cho mình số phận ấy. Cả ba tôn giáo chấp nhận số phận nô lệ bẩm sinh của một đứa bé do cha mẹ cùng là nô lệ sinh ra. Hai đạo Do Thái và Cơ Đốc, phỏng theo các luật pháp có từ xưa, công nhận một số cách thức mà một người tư do có thể trở thành nô lệ. Còn Hồi giáo thì ngay từ buổi đầu, trong luật pháp cũng như trong thực tế, hạn chế tối đa việc những người tự do trở thành nô lệ, chỉ giới hạn trong trường hợp những người không phải Hồi giáo bị bắt hay bị chinh phục trong chiến tranh.
Trong cả bốn loại bất bình đẳng xã hội nêu trên, còn có những địa vị trung gian mà mỗi tôn giáo định nghĩa theo một cách. Giữa người tự do và người nô lệ có người nô lệ được trả tự do, mặc dù trên mặt pháp luật là người tự do nhưng người cựu nô lệ này vẫn còn một số bổn phận và nghĩa vụ đối với chủ cũ đã giải phóng mình. Giữa trẻ em và người trưởng thành cũng có loại vị thành niên, loại này dù chỉ có một tầm quan trọng hạn chế trên mặt pháp luật nhưng lại rất lớn trên mặt xã hội. Giữa phái nam và phái nữ còn có loại hoạn quan có thể đi lại tự do trong cả không gian dành cho hai phái. Và giữa những tín đồ và người ngoại đạo lại có những người có một phần nào chứ không phải tất cả lòng tin vào Thượng đế.
Chính trong loại sau này mà giữa ba tôn giáo có những khác biệt đáng kế. Đối với người Do Thái thì kẻ kia, kẻ đứng ngoài là người ngoại đạo — một cách xếp hạng gần với cách phân loại rợ man di của người Hy Lạp hơn là quan niệm về người ngoại đạo của đạo Cơ Đốc và đạo Hồi. Bức tường ngăn cách có thể vượt qua, tên rợ man di có thể trở thành người Hy Lạp, người ngoại đạo có thể trở thành người Do Thái, khi việc này xảy ra, họ được chấp nhận như một thành viên của cộng đồng (Lev. 19:33-34). Nhưng người ta không mong muốn có sự thay đổi này, lại càng không đòi hỏi nó. Người Hy Lạp và người Do Thái cho rằng, người ngoài có thể đạt đầy đủ các điều kiện, ngay cả theo đúng định nghĩa của họ, nhưng không phải vì thế mà trở thành người Hy Lạp hay Do Thái. Theo kinh sách Do Thái, bất kỳ ai nếu đã là ngoan đạo thì đều có chỗ đứng trên Thiên đường. Trái lại, đối với Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, những ai không có lòng tin giống họ hay chống lại việc quy theo đạo của họ đều là những kẻ phủ nhận lời dạy của Thượng đế hay ít ra cũng khước từ một phần lời dạy ấy. Do đó, họ phải chịu những hình phạt và không có đầy đủ các tư cách pháp lý trong thế giới này rồi sẽ bị vĩnh viễn đoạ đày trong địa ngục ở thế giới bên kia.
Cả ba hạng người, dù trưởng thành nhưng vẫn là hèn kém: người nô lệ, người phụ nữ và người ngoại đạo, được xem là cần thiết, mặc dù đối với dân ngoại đạo, điều này đôi khi bị nghi ngờ. Tuy nhiên, cũng có nhiều khác biệt giữa ba hạng ấy. Số phận hèn kém của người ngoại đạo là do chính người ấy gây ra, hay theo cách nói của người Hồi giáo là vì người ấy cứng đầu cứng cổ; bất kỳ lúc nào bằng một hành động tự giác, người ấy có thế xoá bỏ tình trạng này bằng cách quy theo Hồi giáo, lúc ấy mọi cánh cửa sẽ được mở ra. Địa vị của người nô lệ cũng có thể thay đổi nếu người ấy được trả tự do nhưng phải qua một thủ tục trước pháp luật và hơn nữa tuỳ thuộc vào ý muốn của chủ chứ không phải của chính người nô lệ. Trường hợp của người phụ nữ thì không có lối thoát, họ không thể thay giới tính và cũng không có một quyền lực nào có thể làm việc này giúp họ.
Còn có một khác biệt quan trọng khác giữa ba hạng người này. Trong các nước Hồi giáo, nô lệ có tính chất gia đình hơn là kinh tế và người nô lệ cũng như người phụ nữ có chỗ đứng trong gia đình, trong đời sống dưới mái nhà của chủ. Các quy định về người nô lệ là một bộ phận của luật pháp nói về địa vị cá nhân, cốt lõi của luật Hồi giáo sharia. Trái lại, địa vị của người ngoại đạo lại là một vấn đề công cộng chứ không phải cá nhân nữa, do đó cách nhìn cũng rất khác. Mục đích của những hạn chế này, không phải như trong trường hợp người nô lệ và người phụ nữ là để bảo vệ tính thiêng liêng của gia đình Hồi giáo, mà cốt để duy trì ưu thế của đạo Hồi trong một chính thế và một xã hội người Hồi giáo đã xây dựng nên. Bất kỳ một y đồ chống đối hay muốn thay đổi sự phục tùng hợp pháp của những nhóm ấy sẽ là những thách thức đối với người nam giới Hồi giáo, tự do và trưởng thành, trong hai lĩnh vực nhạy cảm: uy quyền cá nhân trong gia đình Hồi giáo và ưu thế cộng đồng trong nhà nước Hồi giáo. Từ đầu thời Trung cổ, đã có hàng loạt các phong trào phản đối trong xã hội và trong tôn giáo nổi lên trong thế giới Hồi giáo nhằm dẹp bỏ những hàng rào mà từng lúc, từng khi được dựng lên để ngăn cách người có gia tộc quyền quý và người do cha mẹ hèn kém sinh ra, người giàu có và người nghèo khó, người A-rập và không phải A-rập, người da trắng và người da đen, với lý do lá những hàng rào ấy đi ngược lại tinh thần huynh đệ chân chính của đạo Hồi. Điều đáng chú ý hơn nữa là không hề có phong trào nào lại đặt vấn đề về ba sự phân biệt chí thánh làm nền tảng cho sự phục tùng của người nô lệ, người phụ nữ và người ngoại đạo.
Ảnh hưởng nhân đạo của giáo lý Hồi giáo rồi cũng bị mất đi phần nào tác dụng vì hai nguyên nhân - đó là tác động của các tục lệ của người La Mã và người Ba Tư mà người A-rập thừa hưởng trong các vùng đất mới chinh phục và có lẽ quan trọng hơn là do sự tăng trưởng nhanh chóng của số lượng người nô lệ có được nhờ chinh phục, công hiến hay thu mua. Người nô lệ chịu rất nhiều hạn chế trên mặt pháp lý. Họ không được công tác ở một vị trí nào có quyền pháp lý cao hơn người tự do. Họ không được làm chứng trước toà. Trong luật hình sự, họ không ngang hàng với người tự do, hình phạt đối với một tội ác mà nạn nhân là người nô lệ chỉ bằng nửa so với trường hợp nạn nhân là người tự do. Tuy nhiên, người nô lệ cũng có một số quyền công dân, tuy không phải nhiều lắm, trên các vấn đề tài sản, thừa kế và đối xử. Luật pháp Hồi giáo quy định quyền của người nô lệ được hưởng thuốc men, lương thực và trợ giúp lúc tuổi già. Nếu chủ không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ ây thì một vị quan toà qadi có quyền bắt chủ phải trả tự do cho người nô lệ. Luật pháp cũng khuyên người chủ phải đối xử nhân đạo với người nô lệ, không bắt họ làm việc quá sức. Nếu chủ đồng ý người nô lệ có thể lập gia đình; trên nguyên tắc người nô lệ nam giới có lấy một phụ nữ tự do nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra. Người chủ không thể cưới một phụ nữ nô lệ nếu chưa trả tự do cho người ấy. Luật pháp cũng quy định một loạt phương thức khác nhau để giải phóng người nô lệ.
Vào năm 31 lịch Hồi giáo (651-652 CN), theo lịch sử truyền thuyết Hồi giáo, một cuộc chiến tranh giữa quân đội A-rập ở Ai Cập và người Nubia ở phía Nam kết thúc bằng một hoà ước theo đó hai bên thôi không tấn công lẫn nhau. Trong hoà ước, người Nubia cam kết cung cấp hằng năm cho người Hồi giáo một số nô lệ để đối lại việc người Hồi giáo cung cấp thịt và đậu lăng cho họ. Theo hoà ước, số lượng nô lệ cung cấp hằng năm là ba trăm sáu mươi người, văn bản cuối cùng của hoà ước có nói rõ:[1]
Mỗi năm, các người cung cấp ba trăm sáu mươi nô lệ cho Vương tước Hồi giáo. Phải là loại nô lệ chất lượng tốt trong nước các người, không mang khuyết tật, gồm cả nam và nữ, không già quá và không có trẻ con dưới tuổi. Các người giao nộp cho ngài Thống đốc Aswan. Nếu các người dung túng một tên nô lệ chạy trốn của người Hồi giáo hay giết một người Hồi giáo hay một người dhimmi [ngoại đạo được Hồi giáo che chở] hay tìm cách phá huỷ một ngôi đền mà người Hồi giáo đã xây lên ở trung tâm thành phố của các người, hay giữ lại một trong số ba trăm sáu mươi nô lệ thì hòa ước và hoà bình sẽ bị xoá bỏ và ta sẽ phát động chiến sự trở lại cho đến khi Thượng đế quyết định ai thắng ai thua, Thượng đế là vị phán xử anh minh nhất.
Theo một số tài liệu khác thì vị Thống đốc còn vòi vĩnh thêm bốn mươi nô lệ làm của riêng cho mình. Dù hoà ước này có vẻ không xác thực cho lắm, nhưng phần lớn các luật gia cũng công nhận như một minh chứng về một thoả thuận hợp lý, theo đó Nubia nằm ngoài để quốc Hồi giáo nhưng chịu thần phục và triều cống nó. Luật pháp Hồi giáo cấm việc bắt nô lệ và huỷ hoại thân thể trên lãnh thổ Hồi giáo, do đó giảm nhiều số nô lệ và hoạn quan có nguồn cung cấp từ trong nước. Tuy nhiên, cả nô lệ và hoạn quan đều có thể nhập từ nước ngoài, do đó Nubia là một nguồn cung cấp thuận tiện.
Nô lệ có thế dùng vào nhiều việc. Khác với thế giới Hy-La, thế giới Hồi giáo không có một nền kinh tế dựa trên nhân lực nô lệ là chính. Nông nghiệp Hồi giáo sử dụng rất nhiều nhân công tự do hay bán tự do, còn công nghiệp dựa vào thợ thủ công tự do. Cũng có một số trường hợp ngoại lệ. Nô lệ, phần lớn là người da đen châu Phi, có nhiều trong các công trình kinh tế. Từ đầu kỷ nguyên Hồi giáo đã có tài liệu nói về các đoàn nô lệ da đen làm việc tháo nước trên các ruộng muối ở miền Nam Iraq, vì công việc quá nặng nhọc nên họ đã nhiều lần nổi dậy. Có những nô lệ da đen khác làm việc trong các mỏ vàng vùng Thượng Ai Cập và Sudan, trong các mỏ muối ở Sahara.
Tuy nhiên, nô lệ chủ yếu là để phục vụ trong các gia đình và trong quân đội. Thường những người nô lệ gốc Phi châu phục vụ trong các cung điện và nhà dân, tiệm buôn và chợ búa, thánh điện và đền thờ. Còn những người nô lệ da trắng thì ngày càng nhiều trong quân đội Hồi giáo, họ chiếm đa số nhưng không phải chỉ có họ mà thôi.
Người nô lệ nữ, từ mọi nguồn gốc chủng tộc, được giữ trong các hậu cung của thế giới A-rập, với tư cách là nàng hầu hay đầy tớ, hai chức năng này không phải khi nào cũng được phân biệt rõ ràng. Một số nô lệ nữ được học hành, số khác được đào tạo để phục vụ trong các trò giải trí như đàn hát, nhảy múa. Một số ít còn có một vị trí danh dự trong văn học Hồi giáo, họ thuộc phái thượng lưu hơn là đám bình dân. Cũng tương tự như vậy, và ở một mức độ cao hơn nữa là các nữ nô lệ trong cung vua, với tư cách là cung phi được sủng ái hay là mẹ của vua chúa đương triều, đã đóng những vai trò quyết định, mặc dù không công khai, trong quốc sự.
Chế độ nô lệ vẫn tồn tại và lại còn phát triển cho đến thời hiện đại. Vào thế kỷ XIX, các đế quốc thuộc địa mới dẹp bỏ nó, và vào thế kỷ XX, các quốc gia độc lập trong vùng cũng làm như vậy.
Trên bán đảo Arabia, sự ra đời của đạo Hồi mang đến những cải thiện đáng kể cho số phận người phụ nữ, cho họ nhiều quyền lợi, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản và bảo vệ họ trước những cư xử tồi tệ của người chồng hay người chủ. Hồi giáo cấm việc giết trẻ em gái mà trước đây tục lệ của vùng Arabia không tôn giáo còn cho phép. Nhưng địa vị của người phụ nữ không phải là tốt lắm và còn xấu đi nữa, khi mà, trong lĩnh vực này cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, thông điệp ban đầu của Hồi giáo mất đi sức mạnh của nó và bị các thái độ hay các tục lệ sẵn có làm méo mó đi. Chế độ đa thê vẫn hợp pháp, mặc dù hạn chế ở mức bốn vợ. Trong thực tế thì chế độ này chỉ gặp ở những người giàu sang phú quý. Còn luật pháp và phong tục lại cho phép việc chung sống không cưới xin bên cạnh việc cưới xin. Người phụ nữ nô lệ độc thân thuộc quyền định đoạt của chủ nhân.
Người phụ nữ tự do có thể có nô lệ nam giới, nhưng không có quyền gì đối với các nô lệ ấy. Các luật gia định nghĩa vị trí của người phụ nữ trong xã hội chủ yếu tùy thuộc vào chức năng của họ trong gia đình — con gái, chị hay em, vợ và mẹ — chứ không phải như một con người có đầy đủ quyền riêng của bản thân mình. Người phụ nữ cũng có một vài điều bù đắp, thí dụ như trên vài vấn đề tài sản, họ cũng ngang hàng với nam giới. Đối với các tội lỗi về tôn giáo, họ chịu hình phạt thấp hơn, thí dụ như tội bỏ đạo thì chỉ bị tù và đánh đập chứ không bị tử hình như nam giới. Nhưng theo các luật gia thì đây không phải là một đặc lợi của người phụ nữ mà chỉ là biểu hiện của vị trí thấp hèn của họ mà thôi. Cũng như người nô lệ và người dhimmi ngoại đạo được che chở, trước pháp luật, người phụ nữ có một số điều hèn kém về hình thức, thí dụ như việc làm chứng trong một vụ án, giá trị lời khai của phụ nữ chỉ bằng nửa lời khai của nam giới.
Những người ngoại đạo được che chở gọi là dhimmi hay ahl al-dhimmi, “dân theo hiệp ước”. Đây là tên chính thức của những người dân không theo đạo Hồi được phép sống và được che chở trong một quốc gia Hồi giáo. Họ gồm những người theo đạo Cơ Đốc, đạo Do Thái và ở miền Tây, đạo Zoroastrianism. Dhimma là cơ sở để xác định địa vị của họ, đó là một thoả thuận giữa nhà vua Hồi giáo và các cộng đồng không phải Hồi giáo, chủ yếu nó là một hợp đồng. Cơ sở của hợp đồng này là sự chấp nhận của người dhimmi về tính ưu việt của đạo Hồi và sự đô hộ của nhà nước Hồi giáo; họ chịu phục tùng qua một số hạn chế trong các sinh hoạt xã hội và qua một loại thuế thân (jizya) mà người Hồi giáo không phải đóng. Để đổi lại, họ được bảo đảm an ninh trong cuộc sống và trên tài sản, bảo vệ chống lại kẻ thù bên ngoài, hưởng tự do tín ngưỡng và rất nhiều hình thức bảo đảm cho họ được tự chủ trong công việc làm ăn buôn bán. Người dhimmi nhờ đó có một quy chế tốt hơn hẳn người nô lệ, nhưng trên nhiều mặt lại thua người Hồi giáo tự do. Các cộng đồng dhimmi có những quy định riêng về quyền phụ nữ. Luật pháp Do Thái, như được giải thích và áp dụng trong các nước Hồi giáo, chấp nhận chế độ đa thê nhưng lại trừng phạt việc chung sống không cưới xin. Luật pháp Cơ Đốc - trong tất cả các cộng đồng Cơ Đốc - cấm cả hai hình thức và người vi phạm có thế bị rút phép thông công và chịu nhiều hình phạt khác.
Các quy đinh pháp lý thế hiện sự thấp hèn của người nô lệ, người phụ nữ và người ngoại đạo thật không phải lúc nào cũng phù hợp với các nguyên lý đạo đức và tôn giáo cao thượng của đạo Hồi. Nhưng đồng thời, trong thực tế, địa vị xã hội của cả ba hạng người này đôi khi tốt hơn các quy định pháp lý. Người dhimmi có vị trí thấp hơn người Hồi giáo, nhưng người ta cũng gặp những trường hợp, dù là hiếm có, người dhimmi rất giàu sang, có nhiều quyền lực kinh tế và đôi khi có cả quyền lực chính trị nữa. Phụ nữ bị xếp dưới nam giới, nhưng có nhiều phụ nữ nắm quyền trong gia đình, ngoài chợ và trong cung cấm. Nô lệ hèn kém hơn người tự do, nhưng qua các thế kỷ của lịch sử Hồi giáo người ta gặp ngày càng nhiều giới quân sự xuất thân từ nô lệ, cho đến các chỉ huy, các thống đốc và cả các vua chúa vốn là nô lệ.
Trong giai đoạn Tiền Cận đại của lịch sử Hồi giáo, địa vị và vị trí của người dân không theo Hồi giáo thường khá hơn so với các quy định pháp lý. Việc cứ phải luôn luôn kêu gọi tuân thủ các quy định ấy chứng tỏ rằng các hạn chế mà chúng đề ra không được áp dụng một cách đều đặn và tích cực. Nhìn chung thì người dhimmi có vẻ được đối xử tốt dưới các vua chúa Sun-ni hơn là dưới các vua chúa thuộc các giáo phái khác. Dưới thời các giáo chủ và quốc vương Hồi giáo, cả người Do Thái và Cơ Đốc cũng ít nhiều tham gia chính quyền đế quốc, đặc biệt là trong các cơ quan hành chính. Hình như việc này không gặp sự phản đối nào cả. Đôi khi cũng có những chiến dịch chống các viên chức Cơ Đốc và có lúc gây nên bạo loạn, nhưng hiếm khi xảy ra và thường thì do việc các viên chức dhimmi đã quá lạm quyền.
Những người dhimmi dù sao cũng có số phận hèn kém và điều này luôn luôn được nhắc đến. Họ không được làm nhân chứng trước toà án và cũng như người nô lệ và người phụ nữ, phần tiền bồi thường thiệt hại dành cho họ bao giờ cũng ít hơn so với người Hồi giáo. Họ không được tự do cưới người phụ nữ Hồi giáo làm vợ, tội này bị phạt bằng án tử hình, trong khi người đàn ông Hồi giáo có quyền cưới phụ nữ Cơ Đốc hay Do Thái làm vợ. Họ cũng bị hạn chế trong y phục vì phải mang trên áo quần một dấu hiệu để dễ phân biệt; hạn chế trong việc chọn vật cưỡi vì không được cưỡi ngựa, chỉ được cưỡi lừa, la; hạn chế trong việc xây dựng nơi thờ cúng vì theo luật pháp chỉ được sửa chữa chứ không được xây mới đền thờ của mình. Các hạn chế này mặc dù không phải luôn luôn được thi hành nhưng có thể nêu lên bất kỳ lúc nào. Nếu người dhimmi thường có tài sản lớn thì họ vẫn không được hưởng các lợi thế xã hội và chính trị mà sự giàu sang có thể mang lại, vì thế, muốn đạt được các mục tiêu chính trị của mình, họ bắt buộc phải dùng mưu mô quỷ quyệt, điều này gây phương hại cho cả chính người dhimmi cùng nhà nước và xã hội Hồi giáo.
Trong các quốc gia Hồi giáo, từ xưa đến nay, người đàn ông Hồi giáo, tự do, được hưởng rất nhiều quyền và có nhiều cơ may. Lời thần khải của đạo Hồi, khi được những người đi chinh phục mang đến cho những quốc gia trước đấy vẫn còn bị sáp nhập vào các đế quốc cổ, đã đưa lại những thay đổi lớn lao có tính cách mạng. Lý thuyết Hồi giáo cương quyết chống lại mọi thứ đặc quyền có tính thừa kế, kể cả chế độ quân chủ trên nguyên tắc. Và mặc dù chủ nghĩa bình đẳng sơ khởi này đã bị làm biến chất và suy yếu đi bằng nhiều cách, nó vẫn còn đủ mạnh để ngăn chặn không cho xuất hiện những giới tôn giáo có đặc quyền như đẳng cấp Bà-la-môn hay những giai cấp quý tộc, nhờ vậy duy trì được một xã hội trong đó những ai có tài năng và tham vọng vẫn có thể hy vọng được đền bù xứng đáng. Đến cuối thời Ottoman, chủ nghĩa bình đẳng này phần nào bị hạn chế. Việc xoá bỏ chế độ tuyển lựa người nô lệ vào các cơ quan nhà nước đã chấm dứt khả năng chính để có thăng tiến xã hội, trong khi dưới nền quân chủ Hồi giáo tồn tại lâu dài nhất ấy, sự hình thành và phát triển của những nhóm đặc quyền ngoan cố như giới quan lại và giới giáo sĩ ulema làm cho những người mới đến không còn cách nào chen chân vào được. Tuy nhiên, có lẽ ngay cả ở đầu thế kỷ XIX, một người xuất thân từ thành phần hạ tiện vẫn có nhiều cơ hội để có danh vọng, giàu sang và quyền thế trong đế quốc Ottoman hơn là trong bất kỳ quốc gia nào ở châu Âu Cơ Đốc giáo, kể cả nước Pháp sau Cách mạng.
Các sử gia thường hay bị lên án rằng những sưu tầm của họ chỉ giới hạn trong số những người giàu sang, quyền thế và thông thái; họ rêu rao rằng mình viết lịch sử của những dân tộc, những quốc gia, những thời đại nhưng thật ra họ chỉ viết về vài nghìn nhân vật có đặc quyền đặc lợi mà không đếm xỉa đến quảng đại quần chúng. Những lời lên án này cũng có phần đúng của chúng. Tuy nhiên không phải là lỗi của các nhà viết sử. Khác với các tác giả tiểu thuyết hay các tác phẩm văn học do trí óc nặn ra, người viết sử bị hạn chế bởi số tài liệu mà họ có được để dẫn chứng. Cho đến một giai đoạn tương đối gần đây, và trong một số quốc gia, ngay cả trong giai đoạn hiện tại, việc viết lách chỉ dành riêng cho những người giàu sang, quyền thế và thông thái, hay cho những người làm công cho họ. Kết quả là chỉ có họ mới để lại những sách vở, tài liệu, ghi chép và các dấu vết khác, nhờ đó người viết sử mới có cách tái tạo lại quá khứ.
Nhưng cũng có những ngoại lệ. Gần đây, các nhà viết sử đã cổ gắng ghép các mảnh thông tin nhặt nhạnh từ khắp mọi nơi để có được những hình ảnh về lịch sử và đời sống của quần chúng thầm lặng. Người ta đã có được vài tiến bộ trong việc nghiên cứu lịch sử tầng lớp hạ đẳng trong thế giới Hy-La, trong châu Âu Cơ Đốc giáo và ở một mức độ nào đấy, trong đế quốc Ottoman. Còn đối với lịch sử của Hồi giáo thời Trung cổ, công việc này chỉ mới bắt đầu. Có một vài nghiên cứu về các thành phố, về các thành phần dân chúng trong các đô thị, nhưng chỉ trên mặt lịch sử kinh tế hơn là xã hội. Một vài bài viết ngắn xuất hiện đó đây, một vài chương trong những cuốn sách nói về những chủ đề khác, đó là tất cả những tài liệu tham khảo để nghiên cứu về đời sống hằng ngày của người dân thường trong xã hội Hồi giáo thời Trung cổ. Từ thế kỷ XV trở đi, nguồn tài liệu lưu trữ rất phong phú của đế quốc Ottoman, ở cả trung ương và địa phương, là tài sản rất quý báu cung cấp các bằng chứng về đời sống hằng ngày của người dân thường sống ở thành thị và cả nông thôn. Còn về thời Trung cổ thì đây là một công việc rất khó khăn nhưng không phải là không làm được. Không có dồi dào tài liệu lưu trữ như dưới thời Ottoman hay ở các nước Âu châu, nhưng số tái liệu còn giữ lại cũng không phải là ít, chủ yếu ở Ai Cập. Các tài liệu này được bổ sung thêm và được giải thích dựa trên những bằng chứng đủ loại trong văn học, dù sao cũng cho ta ít nhiều hiểu biết về đời sống của giới bình dân amma, khác với giới thượng lưu khassa.
Bức tranh hiện ra là một hình ảnh vô cùng phong phú và sôi động của nhân dân thành thị. Thành phần chính của đám dân này là những người thợ làm các nghề thủ công, mỹ nghệ - những thợ cả, thợ đã có tay nghề, thợ học nghề ở nhiều mức độ kinh tế khác nhau. Nhiều người trong số họ lập thành các phường hội, thường đồng nhất trên mặt chủng tộc hay tôn giáo, nhưng không phải lúc nào cũng vậy; đôi khi họ sống ở những khu riêng biệt trong thành phố. Giới chính khách, quân sự hay tôn giáo là những thành phần của tầng lớp thượng lưu khassa, nhưng cả ba giới này cũng có những bộ phận hạ đẳng, có thu nhập thấp và về mức sống cũng như cách sinh hoạt lại gần với đám bình dân hơn là giới thượng lưu. Việc giữ gìn trật tự trị an do một loạt các lực lượng cảnh sát đảm nhận, một số là các đơn vị quân đội, phần lớn thì được tuyển mộ trong số dân thành thị, như đội asas, dân phòng ban đêm, hay đội ahdath, một lực lượng dân quân lấy trong số các thợ học nghề trẻ tuổi.
Công việc của các lực lượng cảnh sát không phải dễ dàng. Một vài tài liệu A-rập còn sót lại cho ta một cái nhìn vào các tập quán, phong tục và ngay cả ngôn ngữ của đám người hạ tiện trong xã hội Hồi giáo thời Trung cô. Đám này gồm nhiều thành phần, một số là tội phạm - ăn cắp, lừa đảo, cờ gian bạc lận, giết người — một số là kẻ làm trò mua vui — nhào lộn, múa rối nhảy nhót, hay làm các trò khác, trong số này cũng có thế kể những người thuyết giáo lang thang, những người kể chuyện chuyên nghiệp. Một số người có thể xem là lang băm, nhưng dân chúng thì cũng chỉ nhờ vào họ để chữa bệnh, họ vừa là thầy thuốc, vừa nhổ răng, bán cao đơn hoàn tán và tri bênh tâm thần. Một số nữa làm nghề quỷ thuật, bói toán, bán bùa chú và các loại nghề mê tín dị đoan như vậy. Lại còn những người bán hàng rong, bán đủ các thứ hàng đơn giản, rẻ tiền cho dân nghèo hợp với túi tiền của họ. Những người bán hàng rong và những lang băm thực hiện những chức năng kinh tế và xã hội tương đương với những gì mà các thương gia và các y sĩ làm đối với giai cấp giàu sang. Có một hạng người luôn luôn có mặt và có lẽ trong các nguồn tài liệu được nói đến nhiều nhất, đó là những người ăn xin. Họ giúp thực hiện một chức năng tôn giáo cần thiết: để cho những người ngoan đạo thi hành được một nghĩa vụ tôn giáo là bố thí. Họ có nhiều tài nghệ, sử dụng đủ loại mưu mẹo và thủ thuật mà các tài liệu thường thích nhắc đến. Những kẻ lang thang ở châu Âu thời Trung cổ có lẽ được nói đến nhiều và cũng đã được nghiên cứu rất kỹ. Và những người đồng cảnh ngộ với họ trong xã hội Hồi giáo Trung cổ cũng xứng đáng được để ý đến.
Trong văn hoá A-rập, ngay người ăn xin cũng có thơ văn của họ. Một bài thơ viết trong thế kỷ thứ X theo thể đại cổ điển khoe rằng:[2]
Chỉ chúng ta mới là người đáng kể
Trên đất liền và trên biển cả, từ Trung Quốc sang Ai Cập,
Cho đến tận Tangier, ai ai cũng phải đóng thuế cho chúng ta,
Ngựa ta rong ruổi cùng trời cuối đất,
Nơi nào nóng quá thì đến chỗ khác, ta bỏ đi,
Đất trời này là của chúng ta
Đất Hồi giáo hay đất ngoại đạo thì có gì là khác,
Mùa hè ta đến nơi có tuyết
Mùa đông ta ở chỗ có mọc quả chà là
Chúng ta là huynh đệ của Cái bang,
Hãnh diện của chúng ta, không ai xoá nổi.
Một hạng người đặc biệt nữa là dân trộm cướp chuyên hành nghề trên những đoạn đường nui non va sa mạc hiểm trở khi có các đoàn lạc đà chở hàng đi qua. Một số chỉ đơn giản là bọn tội phạm, bị xã hội đánh giá và đối xử như những tên làm điều ác. Một số khác, có lẽ vì họ phản ánh một hình thức chống đối nào đấy trong xã hội, nên được mọi người quý trọng và đôi khi là đối tượng của sự sùng bái dân gian và ngay cả trong văn học. Thí dụ như trường hợp của các “nhà thơ đạo chích” (suluk, số nhiều là saalik có rất nhiều trên vùng đất Arabia cổ. Các saalik sống ngoài lề xã hội, không nằm trong hệ thống các bộ lạc và không được hệ thống ấy che chở. Họ sáng tác một loại thơ riêng biệt được các sử gia văn học ở cả thời Trung cổ và Hiện đại ngưỡng mộ. Còn các đảng cướp gọi là jelali thì lại rất khác, chúng tàn phá vùng Anatolia của đế quốc Ottoman vào các thế kỷ XVI và XVII. Tụ tập trong các đảng cướp này là lính giải ngũ, nông dân không ruộng đất, sinh viên tốt nghiệp các trường tôn giáo bị thất nghiệp cùng những phần tử bất mãn khác. Chúng cũng có lúc nổi tiếng và truyện kể hay thơ ca dân gian vùng Anatolia vẫn còn ca tụng một vài tên cầm đầu các băng đảng này.
Đối với các loại hình chống đối khác thì ký ức lịch sử tỏ ra ít khoan dung hơn, hoặc lên án chúng hoặc không thèm nhắc đến. Thí dụ như các cuộc nổi loạn của nô lệ thỉnh thoảng có xảy ra. Đặc biệt là vào đầu thời Trung cổ, những nô lệ đến từ Đông Phi làm việc trong các công trình thủy nông ở Iraq đã nhiều lần nổi dậy. Cuộc biến loạn lớn nhất kéo dài 15 năm, từ năm 868 đến năm 883 mới chấm dứt. Họ đánh bại được nhiều đạo quân của giáo chủ phái đến và trong một thời gian, uy hiếp được chính quyền ở Baghdad. Vào năm 1446, ỏ Ai Cập có xảy ra một cuộc nổi loạn kỳ cục của người nô lệ chống người nô lệ. Các sử gia biên niên chép rằng, vào năm ấy, khoảng 500 nô lệ da đen làm việc chăn ngựa cho các chủ nhân Mamluk, lén lút kiếm được vũ khí rồi nổi lên làm loạn. Theo sử Ai Cập, thì những người này cũng thành lập được một tiểu quốc có triều chính hẳn hoi. Người cầm đầu cuộc nổi dậy cũng lên ngồi quốc vương Sultan, và các đồng đảng chính cũng được phong quan tước giống như trong triều của quốc vương Mamluk. Họ tồn tại nhờ việc cướp bóc các đoàn lạc đà chở hàng hoá và cuối cùng bị dẹp tan vì trong nội bộ có những tranh chấp để giành ngôi “quốc vương Sultan”.
Mối nguy hiểm lớn hơn nhiều đe dọa nền trật tự xã hội và chính trị của Hồi giáo là hàng loạt các cuộc nổi dậy của dân chúng với những chương trình thường được đưa ra dưới những lời lẽ tôn giáo nhưng kỳ thật là xuất phát từ các bất mãn kinh tế và xã hội. Nhóm Kharijite đứng lên phản đối tính chất ngày càng chuyên quyền của nhà nước Hồi giáo, đã nhận được hậu thuẫn từ thành phần dân du mục, gốc A-rập hay không, vì đối vối họ bất kỳ một chính quyền nào cũng được xem là xâm phạm đến tự do và phẩm giá cá nhân của họ. Khi đưa ra yêu cầu là chức vu giáo chủ phải dành cho các hậu duệ của Đấng Tiên tri, dòng Si-i đã đặt vấn đề về tính chính thống của các vị giáo chủ đương nhiệm và do đó đã trở thành người phát ngôn cho các mối bất bình và là nơi mà những người tự cảm thấy bị o ép hay thua thiệt có chỗ trút lòng tức giận ra ngoài. Một vài phong trào phản kháng như phong trào Áp-bát ở thế kỷ XVIII, phong trào Fatima ở thế kỷ thứ X, phong trào Xa-pha-vít ở thế kỷ XVI thật sự đã giành được chính quyền nhưng không tránh khỏi việc không đáp ứng đầy đủ các nguyện vọng ban đầu của họ, cho nên những người tham gia phong trào trỏ nên tức giận hơn rồi gia nhập vào những phong trào khác còn quá khích gấp bội. Ngay cả giáo phái Xu-phi, thường thì rất hiền lành, nhưng đôi khi cũng bị cuốn vào các cuộc nổi dậy tràn lan và gây nguy hiểm, được quần chúng ủng hộ.
Khác với điều người ta thường nghĩ, đạo Hồi thời Trung cổ là một nền văn hoá của đô thị chứ không phải của nông thôn hay sa mạc. Sử ký, văn học, pháp luật của Hồi giáo chỉ bàn đến những vấn đề trong các thành phố và phản ánh những điều kiện sinh sống ở đấy. Cho đến thời Ottoman, người ta mới có các tài liệu để nghiên cứu về sinh hoạt thường nhật ở nông thôn, mãi đến gần đây thì mới có những tác phẩm văn học nói đến đời sống của nông dân - còn văn học của nông dân thì hầu như không có. Người ta biết được khá nhiều về những vấn đề kỹ thuật nông nghiệp và tưới tiêu, về việc sử dụng đất hay chế độ sở hữu đất đai nhưng không biết gì nhiều về người nông dân mà trong lịch sử của vùng Trung Đông luôn luôn là thành phần đa số.
Người nông dân - những người thật sự làm nghề trồng trọt, để phân biệt với những người chỉ thừa hưởng thành quả lao động của họ - là những người thầm lặng. Quan điểm cũng như cảm xúc của họ, phần lớn không được phản ánh trong các tài liệu cũng như trong văn học mà từ đó ta rút ra hầu hết các thông tin về lịch sử Trung Đông. Thỉnh thoảng có những người xuất thân từ thành phần nông dân ngoi được đầu lên và gia nhập vào tầng lớp cao sang trong xã hội, họ trở thành thương nhân, giáo sĩ ulema hay địa chủ, viên chức nhà nước hay sĩ quan quân đội, nhưng lúc ấy thì phần lớn trong số họ không còn là nông dân nữa và không còn phản ánh các quan điểm của người nông dân. Chỉ có một số ít các quân cường đạo hay các lãnh tụ nghĩa quân là còn có vẻ duy trì sự tiếp xúc với quần chúng, nhưng về những nhân vật này thì cũng chẳng ai biết đến nhiều. Ngay cả ngày nay, với các phương tiện truyền thông hiện đại mà trước đây không có, thì trong những nước này vẫn còn vô cùng khó khăn để tìm hiểu người nông dân thật sự suy nghĩ gì. Dân ca, truyện kể dân gian, văn học dân gian, và các câu châm ngôn tục ngữ có lẽ vẫn còn là những phản ánh chính xác nhất của các suy tư và cảm xúc của người nông dân. Các tư liệu của đế quốc Ottoman với đầy rẫy các chi tiết về những lời ta thán, tranh giành, điều tra và quyết định đã thật sự là những bằng chứng duy nhất về đời sống của nông dân.
Qua khỏi vùng nông thôn - và trong phần lớn các nước vùng Trung Đông cũng chẳng cần phải đi xa cho lắm — là các vùng sa mạc có những bộ lạc du mục sinh sống, họ làm nghề chăn nuôi súc vật để có thức ăn, áo quần, phương tiện chuyên chở nhưng thỉnh thoảng cũng tổ chức các đợt cướp bóc để có thêm gia súc. Những dân du mục Berber ở Đông Bắc châu Phi, A-rập Bedouin ở Bắc Phi và Tây Nam châu Á, các bộ lạc Thổ và Iran du mục ở Trung Á là những thành phần quan trọng trong đời sống kinh tế và nhờ đó, đôi khi cũng tham gia chính trị. Vì tính chất đặc biệt của vùng Trung Đông về sự phân biệt giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi cho nên dân du mục không phải là không cần thiết trong lĩnh vực kinh tế, nhờ đó họ tiếp tục duy trì được lối sống riêng biệt của họ trước các nỗ lực của nhiều chính phủ cai trị các thành phố và nông thôn và cũng muốn kiểm soát cả dân du mục. Thỉnh thoảng, khi các chính quyền vững mạnh thì dân du mục nằm yên, nhưng khi nhà nước yếu đi thì họ trở nên độc lập hơn và quậy phá nhiều hơn; họ đánh phá các làng mạc và ốc đảo, chặn cướp các đoàn lạc đà chở hàng hoá, cho súc vật đến ăn cỏ trên các đồng ruộng. Cũng có khi, dưới sự hướng dẫn của các nhà thuyết giáo đòi trở lại một đạo Hồi chân chính, họ cũng đánh chiếm những quốc gia của người định cư và xây dựng lên những vương quốc và những triều đại mới.
❀ ❀ ❀
[1] Bài viết trong al-Maqrizi, AI-Khitat (Bulaq 1854),1.199-200, bản dịch tiếng Anh của Yusuf Fadi Hasan, The Arab and the Sudan, from the Seventh to the Early Sixteenth Century (Edinburgh 1967) t. 23.
[2] Abu Dulaf, Qasida Sasaniyya, dòng 17-23; bản dịch tiếng Anh của C. E. Bosworth trong The Medieval Islamic Underworld: The Banu Sasan in Arabic Society and Literature (Leiden 1976) pt. 2,1.191-192.