Cũng trong khoảng thời gian ấy, nền kinh tế châu Âu đã có một sự tăng trưởng kỳ lạ cũng như ảnh hưởng chính trị của các nước Âu châu trên vùng Trung Đông. Cũng như trong các lĩnh vực chính trị và quân sự, trước hết tình trạng này xuất phát từ những biến đổi lớn trong tương quan lực lượng có lợi cho châu Âu. Đem đối chiếu với những ngày tháng huy hoàng ở thế kỷ XVI thì vào thế kỷ XIX, Trung Đông đã yếu đi nhiều khi so sánh với châu Âu, cả Đông lẫn Tây. Có một số chứng cứ, mặc dù không chắc chắn cho lắm, là sự suy sụp của nền kinh tế Trung Đông.
Có nhiều yếu tố kết hợp với nhau để dẫn đến các biến đổi này. Để đối phó với châu Âu, tình hình Trung Đông ngày càng trở nên phức tạp và do đó đòi hỏi những chi phí cao hơn cho vũ khí và cho chiến tranh. Trong lĩnh vực kinh tế nội bộ, Trung Đông phải gánh chịu tình trạng lạm phát quá lớn trong các thế kỷ XVI và XVII, tiếp theo sau là việc vật giá leo thang. Trong lĩnh vực ngoại thương, việc phát triển các đường hàng hải xuyên đại dương vượt qua Đại Tây Dương, vòng qua Nam Phi để đến Đông Nam Á đã làm cho ngành thương mại quá cảnh giảm rất nhiều và địa bàn Trung Đông bị mất đi tầm quan trọng tương đối của nó. Một yếu tố khác nữa là việc cán cân thương mại của đế quốc Ottoman trở nên ngày càng bất lợi trước các bạn hàng nằm ở phương Đông và vàng bạc cứ tiếp tục chảy nhiều sang phía Đông, đến Iran và Ấn Độ. Tình trạng ấy lại còn trầm trọng thêm vì Trung Đông thiếu các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghệ và giao thông vận tải.
Nhiều biến đổi khác cũng xảy ra, trong số đó có việc cải tổ hệ thống chiếm hữu đất đai. Vì cần nhiều tiền mặt để trang trải cho các chi phí ngày càng cao của bộ máy hành chính và cho chiến tranh, chính phủ đã bãi bỏ hệ thống cổ truyền giao đất cho quân đội và thay vào đấy là hệ thông khoán thuế, với những hậu quả tai hại cho cả địa phương và trung ương. Một biến đổi khác nữa là việc dân số giảm đi nhanh chóng, đặc biệt là ở nông thôn vào thế kỷ XVIII. Những số liệu có được cho thấy, dân số ở Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Ai Cập năm 1800 còn thấp hơn vào năm 1600.
Hình như có một sự thay đổi trong giá cả xảy ra vào khoảng cuối thế kỷ XVI. Đây chính là phản ứng của vùng Trung Đông đối với một quá trình rộng lớn hơn mà nguyên nhân phần nào cũng do lượng vàng và bạc từ Mỹ châu nhập về bị giảm đi nhiều. Mãi lực của những kim loại quý ấy trong đế quốc Ottoman thì cao hơn nhiều so với phương Tây, nhưng lại thấp hơn so với Iran và Ấn Độ. Hàng hoá Ba Tư, đặc biệt là hàng lụa lại bán rất chạy ở cả đế quốc Ottoman và ở châu Âu, trong khi không có mặt hàng Ottoman nào được ưa chuộng nhiều và lâu như vậy ở châu Âu. Hai mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất sang châu Âu là ngũ cốc và vải vóc. Đã có thời vải vóc xuất khẩu gồm chủ yếu là hàng may mặc, nhưng ngành thương mại này cũng dần dần thu hẹp, còn trụ lại trong một thời gian chỉ có vải bông là mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Đông sang châu Âu. Cán cân đã nghiêng rất mạnh theo chiều ngược lại, châu Âu bán sang Trung Đông hàng vải vóc đã chế biến kể cả vải vóc Ấn Độ, và nhập về các nguyên vật liệu, bông, lông dê angora và nhất là tơ lụa, phần lớn từ Iran. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các tài liệu cho thấy đế quốc Ottoman luôn luôn thiếu kim loại quý, ngay cả để đáp ứng các nhu cầu về đúc tiền, mặc dù vẫn có một luồng vàng và bạc được nhập về từ phương Tây.
Mặc dù ngành nông nghiệp có một số tiến bộ do việc du nhập các giống cây mới từ phương Tây, nhưng tình hình chung vẫn là một trạng thái trì trệ trên các mặt kỹ thuật và kinh tế. Các nước vùng Trung Đông không hề có được một cuộc cách mạng nông nghiệp như ở châu Âu, chứ đừng nói đến cuộc cách mạng công nghiệp. Ngành công nghiệp Trung Đông vẫn mang hình thức tiêu thủ công nghiệp, mặc dù hưng thịnh cho đến cuối thế kỷ XVIII, nhưng không hề mang dấu hiệu nào của một phát triển kỹ thuật.
Hai lĩnh vực quan trọng cho thấy có tình trạng lạc hậu về kỹ thuật là ngành đóng tàu và ngành chế tạo vũ khí. Trong thế kỷ XVIII, đế quốc Ottoman đã sử dụng các kỹ sư đóng tàu người châu Âu và mua tàu thuỷ dân sự và quân sự từ Thuỵ Điển và Mỹ. Trên lãnh thổ đế quốc, người ta ít quan tâm đến việc cải thiện hệ thống giao thông thuỷ và bộ. Vào đầu thế kỷ XIX, trong phần lớn các nước vùng Trung Đông, người ta hầu như không biết dùng xe có bánh để chuyên chở hàng hoá. Ngoài một số xe nhà của các chức sắc sống ở thanh phố và các xe kéo của nông dân, chủ yếu là ở Thổ Nhĩ Kỳ, các phương tiện chuyên chở vẫn hoàn toàn do súc vật thồ hay bằng thuyền chạy trên sông, rạch.
Các điều kiện trao đổi hàng hoá cũng thay đổi, bất lợi cho đế quốc Ottoman và các nước vùng Trung Đông. Việc mở và phát triển các con đường hàng hải đã làm cho các luồng trao đổi không còn đi qua Trung Đông, ngay cả việc buôn bán hàng tơ lụa của Ba Tư, một nguồn nguyên liệu và nguồn thuế quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ, ngày nay cũng chuyển hướng đi, phần lớn do các thương lái Âu châu khống chế. Đồng thời, các thay đổi trong vùng Biển Đen cũng làm yếu đi vị trí của người Thổ. Khi thế lực của Nga trở nên áp đảo trên bờ Bắc thì ngành thương mại của người Đông Âu cũng được phát triển mạnh trong vùng. Các quyền thông thương mà người Nga có được theo Hiệp ước Kucuk Kaynarca cho phép các thương gia và thuyền trưởng Nga giao thiệp trực tiếp với thần dân của hoàng đế Ottoman và các tàu thuyền Nga vào Địa Trung Hải qua các eo biển Bosporus và Dardanelles, không phải quá cảnh qua thủ đô nước Thổ. Sau đấy các nước Âu châu khác cũng đòi và nhận được các quyền như Nga, do đó phần lớn thương mại trong vùng Biển Đen rơi vào tay các nước châu Âu, đặc biệt là Hy Lạp.
Nhìn chung thì thị phần của Thổ Nhĩ Kỳ trong thương mại Âu châu giảm đi đáng kể. Với nước Pháp, nó giảm từ năm mươi phần trăm ở thế kỷ XVI xuống còn một phần hai mươi ở cuối thế kỷ XVIII, với nước Anh từ một phần mười ở giữa thế kỷ XVII xuống còn một phần trăm ở cuối thế kỷ XVIII. Đồng thời, nhập khẩu tăng lên rất nhiều chủ yếu là từ Pháp và Áo, hàng hoá châu Âu vì rẻ và đôi khi tốt hơn hàng nội địa đã đánh bật hàng sản xuất trong nước ra khỏi thị trường.
Cùng lúc ấy có những thị trường mới ở châu Âu mở ra cho các sản phẩm nông nghiệp Ottoman, đặc biệt là trong các vùng Balkan có đông dân Cơ Đốc. Điều này đưa đến những hậu quả nghiêm trọng trên mặt xã hội đối với dân chúng Ottoman. Sự sa sút của ngành thủ công truyền thống làm cho thợ thủ công mà phần lớn theo Hồi giáo lâm vào cảnh nghèo đói, họ bị tụt xuống ngang hàng với loại lao động đơn giản. Còn dân Cơ Đốc lại có những cơ hội mới để trở thành trại chủ, thương nhân và chủ tàu thuyền. Địa vị mới của họ, cùng với những ưu đãi và khích lệ họ nhận được từ các đối tác thương mại là các chính phủ Âu châu, đã mang đến cho họ sự giàu có và học vấn rồi sau đó là quyền lực và ảnh hưởng trong xã hội mà sự giàu có và học vấn ban cho họ. Chẳng bao lâu phần lớn ngành thương mại giữa đế quốc Ottoman và Âu châu dần dần rơi vào tay người Âu châu hay vào tay các thành viên của những cộng đồng thiểu số, chủ yếu là Cơ Đốc nhưng đôi khi cũng là Do Thái.
Trong các tỉnh A-rập, sự suy sụp kinh tế xem ra có vẻ còn tồi tệ hơn ở chính quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Iraq, Syria và ngay cả ở Ai Cập, diện tích đất đai canh tác và cả dân số cũng giảm đi rất nhiều. Thí dụ như ở Ai Cập, theo các tài liệu thì dân số tụt xuống từ 8 triệu dưới thời La Mã còn 4 triệu vào thế kỷ XIV và 3,5 triệu vào năm 1800. Dân số giảm chủ yếu ở nông thôn nhưng cũng giảm ở thành thị và rõ ràng là ngành công nghiệp không những không phát triển mà còn bị thụt lùi. Trong phần lớn các thành phố, số thợ thủ công cũng như chất lượng sản phẩm của họ bị giảm đi, nhiều cảng biển lớn rơi vào cảnh đìu hiu tàn lụi.
Các biến đổi ấy trong vùng Trung Đông, phần nào có nguyên nhân chính trị, mà chủ yếu là quyền uy của trung ương không còn nữa. Một số lãnh đạo địa phương có ít nhiều tính độc lập xuất hiện và sự phá phách ở các địa phương gây ra do dân du mục bản xứ hay do lính đánh thuê. Nhìn chung thì giai cấp quân phiệt thống trị và các nhóm quan liêu ít quan tâm đến việc đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế địa phương, một vài nỗ lực của họ nhằm mục đích này lại bị các quyền lợi kinh tế Âu châu dễ dàng ngăn cản. Một phần của sự suy sụp lại do các yếu tố kinh tế cơ bản gây nên, thí dụ như sự thiếu hụt kinh niên về gỗ xây dựng, về khoáng sản và nước. Sự thiếu hụt nhiên liệu và năng lượng làm cản trở việc phát triển giao thông vận tải và công nghiệp cũng như việc phát triển các ngành kỹ thuật thiết yếu. Ngay những sáng kiến kỹ thuật có từ xưa như cối xay nước, cối xay gió hay những bộ yên cương cải tiến để tăng năng suất thồ hàng của súc vật cũng ít có tác động đến vùng Trung Đông nên vùng này bị thua xa châu Âu trong các lĩnh vực trên. Ngoài ra, sự giàu có của châu Âu về gỗ, khoáng sản, thuỷ lực và vận tải lại càng làm cho Trung Đông thua xa châu Âu và giúp thiết lập nền thống trị của châu Âu trên mặt kinh tế trong cả vùng.
Sự suy sụp của chế độ Ottoman chủ yếu không phải do các thay đổi nội tại gây ra, mà do họ không có khả năng theo kịp các tiến bộ nhanh chóng của phương Tây trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, trong nghệ thuật xây dựng hoà bình và tiến hành chiến tranh, trong quản lý hành chính và thương mại. Các nhà lãnh đạo Thổ cũng hiểu rõ vấn đề, họ cũng có một vài ý kiến tốt để giải quyết, nhưng họ không thể nào vượt qua các rào cản khổng lồ của cơ chế và tư tưởng để chấp nhận những phương pháp mới và những sáng kiến mới. Như một sử gia nổi tiếng người Thổ đã thốt lên: “Làn sóng khoa học đã bị vỡ tan khi chạm phải các con đê văn học và luật học.”[1] Không thích nghi được với thế giới mới, đế quốc Ottoman đã bị tan rã cũng giống như Liên bang Xô Viết trong thời đại chúng ta.
Khi so sánh số phận của người Ottoman và người Xô Viết, người ta thường nhấn mạnh đến các yếu tố chính trị và tư tưởng như sự bùng nổ của các chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa tự do, sự phá sản của các ý thức hệ lỗi thời, sự sụp đổ của những cơ cấu chính trị cũ kỹ. Trên tất cả các điểm này, rõ ràng là người Nga đã đi theo vết xe đổ của người Thổ. Nếu may mắn ra, họ sẽ tìm được một Kemal Ataturk để mở ra một trang sử mới cho dân tộc họ.
Nhưng ở một khía cạnh khác trong sự sụp đổ Ottoman, thì thật khó có thể đặt song song với tình hình ngày nay. Khác với Liên Xô, sự yếu kém của Trung Đông không phải do trung ương thu tóm quá nhiều quyền điều khiển mà trái lại, hầu như không có sự điều khiển tập trung như vậy. Cũng có một vài quy chế điều hành kinh tế, chủ yếu là ở mức độ các hiệp hội thủ công nghệ hay trên thị trường trong nước, nhưng thế giới Ottoman kém xa Tây Âu trong việc huy động và phát triển tiềm năng kinh tế. Nó trở thành một xã hội hướng về tiêu dùng là chủ yếu.
Ngược lại, sự ra đời của chủ nghĩa trọng thương trong một xã hội phương Tây hướng về sản xuất đã giúp cho các công ty thương mại Âu châu và các quốc gia bảo trợ và khuyến khích các công ty ấy xây dựng được một tổ chức mậu dịch ở mức độ cao và tiến tới một sự tập trung các tiềm năng kinh tế chưa từng có mà phương Đông không bao giờ đạt đến, mặc dù ở các nước Trung Đông, trên thực tế hơn là trên lý thuyết, các “lực lượng thị trường” được hoạt động không bị hạn chế. Các công ty thương mại phương Tây, với sự hậu thuẫn của các chính phủ của họ có đầu óc kinh doanh, đã trở thành một lực lượng hoàn toàn mới. Dựa vào sự khác biệt ngày càng lớn trong tiềm lực và trong quyết tâm trên mặt kinh tế, các thương nhân Tây phương và sau đó là các nhà sản xuất, rồi ngay cả các chính phủ đã có thể khống chế gần như hoàn toàn thị trường Trung Đông, và cuối cùng những ngành công nghiệp chế biến chính ở Trung Đông cũng lọt vào tay phương Tây.
Cũng trong giai đoạn này, ngay cả ngành thương mại hàng dệt may cũng chịu ảnh hưởng của sự bành trướng của phương Tây, các thương gia người Anh nhập vào các cảng của hai đế quốc Ottoman và Ba Tư một số lượng lớn bông và vải vóc từ Ấn Độ. Hàng vải vóc Trung Đông, có một thời được phương Tây ưa chuộng, nay không những bị mất chỗ đứng trên thị trường xuất khẩu mà ngay cả ở trong nước cũng bị đẩy lùi bởi các sản phẩm Tây phương có giá thành thấp và được nâng đỡ bằng những chương trình tiếp thị năng nổ. Sự thay đổi trong quan hệ buôn bán được minh họa một cách rất sinh động qua tách cà-phê, niềm vui thú quen thuộc của người dân vùng Trung Đông, cả cà-phê và đường để pha cà-phê đều từ châu Âu nhập vào Trung Đông. Trong phần tư cuối cùng của thế kỷ XVII, cà-phê là một mặt hàng quan trọng nhập từ Trung Đông vào châu Âu. Vào những năm 20 của thế kỷ XVIII, người Hà Lan trồng được cà-phê ở Java cho thị trường châu Âu, và người Pháp lại còn bán cà-phê trồng trong các thuộc địa vùng Antilles của họ cho Thổ Nhĩ Kỳ. Vào năm 1739, ở những nơi xa xăm về phương Đông như Erzurum, cà phê vùng Antilles cũng đã có mặt. Cà-phê trồng ở các thuộc địa của phương Tây rẻ hơn cà phê trồng trong vùng Biển Đỏ, sản lượng ở đây dần dần hạ xuống mức không đáng kể.
Đường mía thì cũng có xuất xứ từ phương Đông. Ban đầu, đường được tính luyện từ Ấn Độ và Iran, được châu Âu nhập về từ Ai Cập, Syria và Bắc Phi và cũng được người A-rập du nhập vào Sicily và Tây Ban Nha. Một lần nữa vùng Antilles lại có khả năng sản xuất đường và người ta đã không bỏ lỡ cơ hội ấy. Năm 1671, chính trị gia Pháp Colbert ra lệnh xây dưng một nhá máy đường tại Marseille để tinh luyện đường mía nhập từ các thuộc địa rồi xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ. Lượng đường tiêu thụ ở đây tăng lên rất nhiều khi người Thổ bắt đầu uống cà-phê có đường, có lẽ vì cà-phê vùng Antilles có vị đắng lơn các loại khác. Từ đấy trở đi, họ bị phụ thuộc rất nhiều vào đường của Ai Cập, nhưng vì đường vùng Antilles rẻ hơn nên chăng bao lâu nó chiếm lĩnh được thị trường Trung Đông. Vào cuối thế kỷ XVIII, khi một người Thôt hay người A-rập uống một tách cà-phê thì cả cà- phê lẫn đường đều do người châu Âu nhập vào từ các thuộc địa của họ. Chỉ có nước nóng là không phải nhập. Trong thế kỷ XIX, ngay cả nước uống cũng chưa chắc đã là mặt hàng hoàn toàn nội địa vì nhiều công ty Âu châu đến phát triển các công trình phục vụ công cộng mới trong các thành phố Trung Đông.
Sự thống trị của kinh tế Tây phương được củng cố dưới nhiều hình thức. Trong khi hàng hoá Trung Đông nhập vào phương Tây bị hạn chế và đôi khi bị cấm đoán vì có những hàng rào thuế quan thì nền thương mại của phương Tây ở Trung Đông lại được che chở nhờ hệ thống các hiệp ước ưu đãi (hiệp ước capitulation), tương đương với một quyền nhập cảng không thuế và không hạn chế. Từ “capitulation” (xuất phát từ tiếng Latin capitula, có nghĩa là “chương mục”), tức là một văn bản nhiều khoản ghi, dùng dưới thời Ottoman để chỉ các quyền ưu đãi mà các hoàng đế Ottoman và các vua chúa Hồi giáo ban cho các nước Cơ Đốc, cho phép công dân của họ cư trú và buôn bán trong lãnh thổ Hồi giáo mà không chịu các áp đặt và cấm đoán mà thần dân không Hồi giáo của các vua chúa ấy phải chịu. Quốc gia ven biển ở Italia đã được hưởng những quyền này vào thế kỷ XIV và XV. Trong thế kỷ XVI, quyền này cũng được ban cho nước Pháp (1569), nước Anh (1580) và một số nước khác. Một bản dịch đương thời của hiệp ước ưu đãi dành cho nước Anh năm 1580 cho thấy có những điều khoản sau:[2]
Trẫm, Thánh thượng Hoàng đế Hồi giáo… nhà vua đầy quyền uy là Murad Khan, muốn tỏ lòng ưu ái của bậc đế vương, ra tuyên bố là từ nay về sau, Elizabeth, Nữ hoàng nước Anh… cùng thần dân của bà, có thể đến lãnh thổ của Trẫm một cách an toàn, có thể mang theo tài sản, hàng hoá cùng các đồ chuyên chở và các vật dụng khác theo đường biển, trên tàu lớn nhỏ, trên đường bộ cùng xe cộ và đoàn áp tải, rằng không ai gây hại cho họ, nhưng họ có thể mua và bán không bị hạn chế và tiếp tục tuân theo các tục lệ và luật pháp của nước họ…
Lại thêm rằng, nếu một người dân Anh quốc đến đây cư trú hay buôn bán, dù có vợ hay chưa có, thì sẽ không phải trả thuế hay thuế thân…
Lại thêm rằng, nếu có tranh chấp xảy ra giữa những người Anh quốc với nhau, và họ nhờ Lãnh sự hay Thống đốc của họ xử thì cũng không ai được quấy rầy họ, họ làm gì tuỳ ý, các tranh chấp bắt đầu và kết thúc theo đúng tục lệ của họ…
Lại thêm rằng, nếu tàu chiến của Đức Hoàng đế ta ra khơi và gặp tàu bè nước Anh chở hàng hoá thì không được cản trở họ, trái lại phải đối xử với họ tử tế, không gây hại cho họ, cũng như Trẫm đã ban các quyền và các bảo đảm cho người Pháp, người Venise và các vua chúa khác liên kết với Trẫm, nay Trẫm cũng ban cho người Anh những quyền như thế: không được ai đi trái lại các luật lệ và ưu đãi mà Trẫm đã ban ra.
Và nếu Nữ hoàng Elizabeth, về phần mình, tiếp tục tuân thủ các điều khoản của minh ước này và duy trì nền hoà bình thần thánh này đã được thể hiện qua các ưu đãi nói trên, thỉ Hoàng đế ta cũng làm như vậy và giữ cho nó được duy trì và tuân thủ…
Ngoài thương mại thì hai bên còn có nhiều mối quan hệ khác. Trong một bức thư - Cục Lưu trữ của nước Anh còn giữ rất nhiều thư loại này - của Hoàng đế Murad III gửi Nữ hoàng Elizabeth I tháng Sáu năm 1590, phần kết luận có viết:[3]
Khi nào Bệ hạ quay lại đánh bọn ngoại đạo Tây Ban Nha, mà Bệ hạ luôn luôn có xung đột với chúng, thì nhờ ơn Thượng đế, Bệ hạ sẽ chiến thắng. Đừng do dự biến những kẻ rơi vào tay Bệ hạ thành những kẻ bị gươm đâm, tên bắn. Đừng quên thông báo cho Trẫm những gì cần thông báo. về phần Trẫm, nêu đó là ý muốn của Thượng đế, hãy tôn vinh tên Người, Trẫm cũng sẽ không ngồi yên, Trẫm sẽ có những biện pháp kịp thời để quấy rối bọn ngoại đạo Tây Ban Nha, và trong mọi trường hợp Trẫm sẽ giúp đỡ Bệ hạ. Hãy ghi nhớ lấy.
Khi các quốc gia Hồi giáo bị suy tàn và có những thay đổi thật sự trong các mối quan hệ giữa họ và các lân bang Cơ Đốc, thì các hiệp ước ưu đãi lúc ấy trao những quyền ưu đãi quá lớn so với dự kiến ban đầu. Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sự che chở của một nước châu Âu bao gồm nhiều quyền lợi thương mại và thuế má quan trọng; các phái bộ ngoại giao Âu châu thường vượt quá quyền ưu đãi của mình, bằng cách cấp phát nhiều berat, tức là các chứng nhận bảo vệ. Ban đầu, các chứng nhận ấy chỉ cấp để bảo vệ những nhân viên bản xứ làm việc trong các toà Lãnh sự Âu châu. Do lạm dụng nên ngày càng có nhiều thương nhân bản xứ mua được hay xin được các chứng nhận ấy, nhờ thế mà họ cũng được hưởng quy chế ưu đãi và bảo vệ. Nhà chức trách Ottoman tìm đủ mọi cách để ngăn ngừa các lạm dụng ấy nhưng không thành công. Đến đầu thế kỷ XIX, Hoàng đế Selim III, vì không chống lại được các Lãnh sự Âu châu nên quyết định làm như họ. Chính ông cũng cấp phát các berat, không phải cho dân Hồi giáo mà cho các thương gia Cơ Đốc và Do Thái. Nhờ đó, họ có quyền buôn bán với châu Âu, được hưởng những quyền miễn trừ và ưu đãi trên các mặt luật pháp, thuế khóa và thương mại; mục đích của hành động này là để các thần dân Ottoman có thể cạnh tranh với người ngoại quốc mà không thua kém lắm. Kết quả là một giai cấp mới có đặc quyền được hình thành trong số dân Ottoman gốc Hy Lạp, và họ nhanh chóng chiếm lĩnh địa vị hàng đầu nhờ có tài đi biển và các quan hệ của họ. Đến đầu thế kỷ XIX, hệ thống này mở rộng cho các thương gia Hồi giáo, nhưng rất ít người sử dụng nó.
Trong lịch sử cũng có nhiều thí dụ khác về một nền kinh tế tương đối đơn giản bỗng nhiên được kích thích nhờ có quan hệ thương mại với một xã hội năng động và tiên tiến hơn. Nhưng điều đặc biệt là ở Trung Đông, những người tham gia vào quá trình này và cũng là những người được hưởng lợi trước hết, cả bên trong và bên ngoài, đều là những người “ngoại quốc”, lẽ tất nhiên là người châu Âu, nhưng bên trong các nước Hồi giáo, những nhân vật chính lại là các nhóm thiểu số tôn giáo, mà không hẳn là người nước ngoài nhưng vẫn bị gạt sang bên lề của xã hội. Có một câu nói của người Thổ đê phân biệt người “Frank”, tức là dân Tây và những người “Frank nước ngọt” tức là dân vùng Cận Đông bản xứ hơi hơi Âu hoá.
Vào đầu thế kỷ XX, người ngoại quốc và thành viên các nhóm thiểu số chiếm hết các vị trí hàng đầu trong lĩnh vực tài chính. Năm 1912, trên danh sách của bốn mươi chủ ngân hàng tư nhân ở Istanbul, thì qua tên họ, người ta có thể nhận ra mười hai người Hy Lạp, mười hai người Armenia, tám người Do Thái, năm người Cận Đông hay Âu châu. Tương tự như vậy, danh sách của ba mươi tư người làm nghề buôn bán chứng khoán ở Istanbul, có đến mười tám người Hy Lạp, sáu người Do Thái, năm người Armenia và không hề có một người Thổ nào cả.
Những người Hy Lạp, Armenia, Thổ gốc Do Thái được phân biệt với những người đồng hương không những do tôn giáo mà còn do ngôn ngữ nữa. Nhưng trong các nước nói tiếng A-rập thì sự phân biệt này không còn nữa bỏi vì cả những người theo Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo đều nói tiếng A-rập như người Hồi giáo. Điều này giúp cho giới tư sản mại bản Cơ Đốc nổi lên từ những năm 1830 quanh vùng cảng biển Beirut, có cơ hội phát triển vào khoảng giữa thế kỷ thành một tập thể mà trước đấy chưa từng có, đó là một giai cấp trung lưu nói tiếng A-rập giàu có và có học vấn. Mặc dù họ vẫn còn bị ngăn không cho đóng một vai trò xã hội hay chính trị có tầm cỡ vì lý do là họ theo đạo Cơ Đốc, nhưng dù sao thì việc sử dụng thành thạo tiếng A-rập cũng cho phép họ có những đóng góp quan trọng cho sự phục hưng văn hoá A-rập.
Các thiểu số tôn giáo cũng có liên quan đến một hình thức thâm nhập thứ hai của phương Tây vì nhờ đó họ có được một vị trí quyền lực và ảnh hưởng trong các nước Trung Đông. Sau Hiệp ước Kucuk Kaynarca, nước Nga gần như thiết lập được một quyền bảo hộ thực tế trên các cộng đồng Cơ Đốc Chính thống của đế quốc Ottoman. Giáo dân Cơ Đốc Chính thống chiếm đa số tuyệt đối trong dân chúng các tỉnh Hy Lạp và Balkan và cũng là những thiểu số quan trọng của các vùng Anatolia và Syria. Vì là người bảo hộ đạo Cơ Đốc Chính thống cho nên Sa hoàng có ảnh hưởng rất lớn trong một bộ phận quan trọng của dân chúng Ottoman. Nước Pháp cũng phát triển được một quyền bảo hộ tương tự trên các thần dân theo Công giáo La Mã của hoàng đế Ottoman. Những người Công giáo, mặc dù không đông như các giáo dân Cơ Đốc Chính thông nhưng không phải là không đáng kể vì trong số họ có giáo hội Maronite Uniate rất quan trọng ở Liban. Trong công cuộc tìm kiếm một thiểu sót tôn giáo để bảo hệ, người Anh bị lép vế hơn các đối thủ Pháp và Nga. Các cộng đồng Tin Lành về số lượng giáo dân thật không đáng kể, mặc dù nhiều mục sư người Anh, Đức hay Mỹ đã cố gắng hết sức để truyền đạo. Các vị bộ trưởng ngoại giao Anh thỉnh thoảng lại muốn thử nghiệm việc bảo hộ cho các nhóm khác như Do Thái hay Druze, mặc dù yêu cầu hay nhu cầu được bảo hộ của họ có thể không thật lòng nhưng nếu có thì họ cũng có thể mang lại lợi ích cho quốc gia đứng ra bảo hộ. Nước Đức, một cường quốc theo đạo Tin Lành, về mặt này cũng không trội lắm, nhưng cuối cùng đã giải quyết vấn đề bằng cách đứng ra bảo hộ cho toàn thể đế quốc Ottoman.
Sự bảo hộ các nhóm tôn giáo như vậy mang nhiều hình thức. Mối quan tâm rõ rệt nhất là lợi ích và hạnh phúc của người dân Ottoman thuộc các tôn giáo được bảo hộ. Trong các điều kiện của thế kỷ XIX, giữa một đế quốc Ottoman suy yếu và một châu Âu cường thịnh, mà hệ thông các hiệp ước ưu đãi là một minh chứng, thì việc bảo hộ này tương đương với một quyền can thiệp rộng khắp và hầu như không hạn chế vào công việc nội bộ của đế quốc Ottoman. Thêm vào đấy, để đáp ứng các nhu cầu tôn giáo và giáo dục của người dân Ottoman theo đạo Cơ Đốc và Do Thái, hàng loạt các mạng lưới truyền đạo, trường học, cùng các cơ sở giáo dục, văn hoá, xã hội đã được hình thành. Phần lớn các cơ sở ấy là của Cơ Đốc giáo, một số ít của Do Thái giáo, một số dưới hình thức “phi tôn giáo” lôi kéo được nhiều học sinh Hồi giáo và học sinh thuộc các thiểu số khác. Học sinh tốt nghiệp từ các trường Tây ở Trung Đông sẽ tiếp tục theo học tại các trường Đại học ở các nước phương Tây và trong nửa sau của thế kỷ XIX, nhiều trường Đại học Tây phương được thành lập ngay tại các thành phố Trung Đông. Giáo dục trở thành một phương tiện quan trọng để truyền bá văn hoá và cuối cùng là tạo được các ảnh hưởng kinh tế và chính trị lớn cho các cường quốc bảo trợ. Trong lĩnh vực này, Pháp là nước thành công nhất vào buổi đầu, tiếp đến là Italia, rồi đến Anh, Đức, Mỹ. Các nỗ lực của Nga, mặc dù rất quan trọng trong số dân Cơ Đốc Chính thống, lại chỉ không đáng kể khi nhìn toàn cảnh. Các nhà truyền giáo phương Tây nhắm chủ yếu vào dân Hồi giáo và cũng thuyết phục được một số ít — nên nhớ rằng phạm tội bỏ đạo thì theo luật Hồi giáo phải chịu hình phạt tử hình — nhưng thật ra họ chỉ gây được tiếng vang trong dân chúng theo đạo Cơ Đốc, một số giáo dân Cơ Đốc Chính thống, Armenia, Cơ Đốc phương Đông đã dưới một hình thức này hay hình thức khác, quy theo đạo Tin Lành hay Công giáo La Mã.
Một vấn đề về tôn giáo mà các cường quốc quan tâm đến là việc bảo vệ các vùng đất thánh của Cơ Đốc giáo tại Jerusalem và các nơi khác ở Palestine. Từ nhiều thế kỷ, các giáo hội bản xứ đã tranh cãi rất nhiều trên vấn đề này, còn nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ giữ vai trò hoà giải tuy có vẻ kênh kiệu nhưng nhìn chung rất có hiệu quả. Sự can thiệp của các cường quốc với tư cách là người bảo trợ cho các giáo hội của mình đã đưa những tranh chấp địa phương lên tầm các xung đột quốc tế và cũng góp phần tạo ra những biến cố dẫn đến cuộc chiến tranh Crimea.
Sự bảo trợ được thực hiện qua các sứ quán hoặc lãnh sự quán là những cơ quan nhờ có hệ thống hiệp ước ưu đãi đã giành được nhiều quyền lực trong đế quốc Ottoman. Họ thực thi các luật pháp của nước họ, có toà án, nhà tù và ngay cả bưu điện riêng của họ.
Một thành phần rất quan trọng trong ngành đào tạo của Âu châu ở Trung Đông là ngành huấn luyện quân sự. Thực tiễn chiến trường cho thấy vào thời buổi ấy, nghệ thuật quân sự Âu châu vượt hẳn nghề chiến trận của Hồi giáo và các nước Hồi giáo bắt buộc phải tôn châu Âu làm thầy. Từ lâu, nhiều cá nhân người Âu đã đến Thổ Nhĩ Kỳ tìm cách làm giàu trong cương vị chuyên gia hay cố vấn quân sự, một số người đã khá thành công. Nhưng vào đoạn cuối của thế kỷ XVIII, cách làm riêng lẻ ấy không còn đủ để đáp ứng nhu cầu. Vào mùa thu năm 1793, hoàng đế Ottoman gửi đến Paris một công hàm trong đó có bản danh sách các sĩ quan và chuyên viên ông muốn tuyển mộ tại nước Pháp. Vài năm sau lại có một danh sách thứ hai dài hơn từ Istanbul gửi đến uỷ ban An ninh công cộng. Năm 1795, đại sứ mới của Pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ đến nhiệm sở cùng một đoàn chuyên gia quân sự Pháp. Việc hợp tác quân sự Pháp-Thổ bị gián đoạn trong cuộc chiến 1798¬1802, vì Pháp và Thổ thuộc hai phe đối nghịch, nhưng khi hai nước trở thành đồng minh thì nó tiếp tục trở lại và đạt đến đỉnh cao khi Anh và Nga tấn công Thổ Nhĩ Kỳ năm 1806-1807.
Năm 1830 lại có một bước đi mới khi Hoàng đế Mahmud II có đầu óc cải cách tìm sự giúp đỡ của các chính phủ Tây phương để hiện đại hoá quân đội của mình. Một phái bộ quân sự Phổ đến năm 1835 và một phái bộ hải quân Anh đến năm 1838, mở đầu cho một mối quan hệ còn kéo dài mãi tận cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Trước đây thì ở Ai Cập cũng đã có một phát triển tương tự, khi Thống đốc Ottoman là Muhammad Ali Pasha muốn xây dựng một vương quốc độc lập. Ông cũng bắt đầu bằng cách tuyển mộ các cá nhân người nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia quân sự và kỹ thuật người Pháp, rồi đến năm 1824, ông mời cả một phái bộ quân sự Pháp vì vào thời điểm ấy, sau khi Napoléon chịu thất bại lần cuối cùng, có rất nhiều nhà quân sự Pháp bị thất nghiệp. Phái bộ này khai thông cho hàng loạt phái bộ tiếp theo.
Ở Iran, vì nằm xa các trung tâm quyền lực châu Âu, nên mọi việc thay đổi có phần chậm chạp hơn. Chỉ dưới thời Napoléon thì Iran mới dính dáng vào nền chính trị Âu châu, khi cả Pháp và Anh đều gửi các phái bộ quân sự đến huấn luyện cho quân đội Iran, Pháp vào năm 1807-1808, Anh vào năm 1810. Sau đó thì có nhiều sĩ quan Nga, Pháp và Italia đến làm huấn luyện viên, nhưng ảnh hưởng không có là bao. Công cuộc hiện đại hoá quân đội Iran chỉ thật sự bắt đầu vào thế kỷ XX.
Việc huấn luyện quân sự chủ yếu là do các nước Tây Âu đảm nhiệm mà chính là từ Anh, Pháp, Phổ sau đó là Đức. Cũng có vài huấn luyện viên Italia và sau khi cuộc nội chiến Mỹ kết thúc, nhiều sĩ quan Mỹ không có việc làm trong nước đã đến lập nghiệp ở Ai Cập. Còn người Nga thì trừ địa bàn Iran, chỉ đến thế kỷ XX họ mới xuất hiện như các giáo viên và cố vấn.
Việc huấn luyện quân sự dẫn đến những mối quan hệ rộng lớn. Ta có thể kể việc gửi các học sinh, sĩ quan Trung Đông đến các trường sĩ quan lục quân và hải quân phương Tây, việc mời các sĩ quan phương Tây đến giảng dạy trong các trường tham mưu ở Trung Đông, việc sử dụng người phương Tây như cố vấn, đôi khi như các chỉ huy phó trong quân đội Trung Đông, và lẽ tất nhiên là việc phương Tây cung cấp vũ khí, thiết bị và kỹ thuật. Mặc dù quá trình này chưa bao giờ đạt đến mức độ và ý nghĩa như ở những năm 1950, nhưng dẫu sao nó cũng là một yếu tố có phần nào quan trọng trong sự cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc ở thế kỷ XIX và XX.
Trong thế kỷ XIX, các cường quốc Âu châu trở nên rất manh động trong việc can thiệp vào các công việc kinh tế nội bộ của Trung Đông, vùng này ngày càng hội nhập vào mạng lưới thương mại và tài chính quốc tế. Kết quả là tất cả các khía cạnh của đời sống vùng Trung Đông đều chịu ảnh hưởng theo các biến động của tình hình thế giới.
Một hâu quả tức thời là việc phát triển mạnh diện tích canh tác, đưa vào sử dụng những đât đai trồng trọt đã bị bỏ hoang từ nhiều thế kỷ. Sở dĩ việc này thực hiện được cũng nhờ có tình hình an ninh được cải thiện, việc khai hoang được đẩy mạnh và nhiều hệ thống thuỷ lợi rộng lớn được xây thêm. Các loại cây mang lại lợi tức được du nhập và trồng nhiều cho xuất khẩu, như cây bông, dâu tăm, thuốc lá, chà là, thuốc phiện, cà-phê, lúa mì và lúa mạch. Sự thay đổi từ trồng trọt để tự túc lương thực sang trồng trọt để bán sản phẩm, xảy ra đồng thời với việc Âu hoá của hệ thống pháp luật, đã dẫn đến những biến đổi quan trọng về sở hữu ruộng đất mà hậu quả chính là giảm công điền công tho của địa phương, xóm làng và của bộ lạc để tăng diện tích tư hữu theo kiểu châu Âu. Việc mở rộng trồng trọt phần lớn do dân bản xứ khởi xướng, một phần dưới sự phát động của chính phủ, một phần là do một giai cấp địa chủ tư hữu mới hình thành đứng ra làm. Nhưng đại bộ phận tiền vốn cần cho quá trình này lại đến từ nước ngoài dưới hình thức tiền cho vay hay tiền đầu tư. Các công ty Âu châu, vì được hưởng các đặc quyền ngoại giao của hiệp ước ưu đãi, nên không bị chính phủ sở tại kiểm soát, và đã chiếm lĩnh hết quyền khai thác tài nguyên ở các nước Trung Đông.
Kỹ thuật của phương Tây và các công ty nước ngoài cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các dịch vụ như điện tín, cảng biển trên bờ Đông Địa Trung Hải, đường sắt ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria và Iraq cùng các công trình phục vụ công cộng như cấp thoát nước, khí đốt, giao thông đô thị, rồi sau đây là điện và điện thoại trong các thành phố lớn.
Đường hàng hải giữa Istanbul và Biển Đen, Biển Aegean thì do các hãng tàu hơi nước bản xứ đảm nhiệm, nhưng các đường hàng hải đầu tiên đến châu Âu lại do các công ty ngoại quốc kinh doanh. Năm 1825, một công ty hàng hải Áo bắt đầu hoạt động, sau đó ít lâu những công ty Pháp, Anh, Nga, Italia có tàu chạy trên các tuyến nối liền các cảng Ottoman với các cảng Âu châu và giữa các cảng nằm trên nhiều vùng của đế quốc. Năm 1837 lại bắt đầu một phát triển quan trọng mới, đó là một tuyến tàu thuỷ chạy bằng hơi nước của Anh thường xuyên nối châu Âu với Alexandria và Ấn Độ với Suez, giữa hai cảng Alexandria và Suez thì liên lạc bằng đường bộ lúc đầu để chở thư từ, sau đó chở hàng hoá và hành khách. Ban đầu việc vận chuyển dùng tàu hơi nước trên các đường thuỷ nội địa và xe kéo trên các trục đường mới xây dựng. Năm 1851, đường sắt Ai Cập ra đời và năm 1869, kênh đào Suez được khai thông cho nên Ai Cập trở thành trục đường chính nối liền châu Âu và Nam Á và cũng là điểm nút của ngành giao thông quốc tế. Cũng trong khoảng thời gian ấy, do có việc phát triển thông thương bằng tàu hơi nước trong biển Caspi và Vịnh Péc-xích cho nên Iran được nối liền với Nga và Tây Âu.
Cuộc chiến tranh Crimea lại mở ra một giai đoạn mới cho việc thâm nhập của tư bản Âu châu. Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, chính phủ Ottoman đã nhiều lần tìm cách huy động vốn bằng cách vay tiền trong nước. Các nhu cầu và cơ hội do chiến tranh Crimea tạo ra đã thúc đẩy họ vay vốn trên thị trường tiền tệ thả nổi ở châu Âu. Năm 1854, họ vay được một khoản tiền là 3 triệu bảng Anh với lãi suất 6% trên thị trường Luân Đôn, khoản vay thứ hai là 5 triệu bảng với lãi suất 4% được thực hiện vào năm sau đó. Từ năm 1854 đến năm 1874, hầu như hằng năm đều có việc vay vốn nước ngoài, tổng cộng số tiền huy động được lên đến khoảng 200 triệu bảng Anh. Cũng trong khoảng thời gian ấy, các hoạt động ngân hàng được phát triển nhanh chóng trong vùng Trung Đông. Hai, ba chục năm trước đấy, đã có những ngân hàng Anh hay những ngân hàng tư nhân khác được thành lập trong các thành phố cảng ven Địa Trung Hải. Từ giữa thập kỷ 1850 trở đi, có một loạt các phát triển mới như việc thành lập trong vùng Trung Đông các ngân hàng có đăng ký như Ngân hàng Ai Cập (1855), Ngân hàng Ottoman (1856), Ngân hàng Anh-Ai Cập (1864), và nhiều ngân hàng khác, cũng như các chi nhánh của những ngân hàng lớn của Anh, Pháp, Đức, Italia. Các ngân hàng ấy, thuần tuý là của Âu châu, chia nhau thống trị nền tài chính ở Trung Đông. Mãi đến Thế chiến I mới xuất hiện các ngân hàng thật sự là của Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ai Cập hay A-rập và phải đợi đến Thế chiến II, các ngân hàng này mới kiểm soát được một phần đáng kể các hoạt động tài chính trong vùng.
Vì Thổ Nhĩ Kỳ được xem là một nước có nhiều rủi ro tài chính cho nên tiền vay thường -kèm theo các điều kiện rất ít thuận lợi. Tiền vay được thường dùng để thanh toán các khoản chi tiêu thông thường của ngân sách nhà nước là chính, còn không thì cũng dùng vào các đề án phát triển không kinh tế. Kết quả là một cuộc sụp đổ tài chính xảy ra ngày 6 tháng Mười năm 1875, sau khi chính phủ Ottoman tuyên bố không thể trả lãi và vốn đáo hạn của các khoản nợ. Sau khi thương lượng với đại diện của các chủ nợ Âu châu, một thỏa thuận đã đạt được; thoả thuận này được ghi lại trong nghị định ngày 20 tháng Mười hai năm 1881, theo đó một Hội đồng Quản lý Nợ Công cộng được thành lập, hội đồng này do các chủ nợ ngoại quốc kiểm soát và chỉ chịu trách nhiệm trước họ. Nhiệm vụ của hội đồng này là bảo đảm việc trả hết khoản nợ cộng cộng gộp chung lại của đế quốc Ottoman. Để đạt đến mục tiêu đó, chính phủ Ottoman nhượng lại cho Hội đồng một số khoản thu nhập của mình “một cách hoàn toàn và không thể thay đổi được… cho đến khi trả hết nợ”. Năm 1911, số nhân viên làm việc cho Hội đồng Quản lý Nợ lên đến 8.931 người, còn nhiều hơn cả số nhân viên của cả Bộ Tài chính Ottoman. Tại Ai Cập cũng xảy ra một quá trình tương tự về vay nợ, phá sản và quản lý tài sản của phía vỡ nợ kết thúc bằng Luật Thanh lý năm 1880, theo đó một nửa thu nhập toàn quốc của Ai Cập được dành cho chính phủ Ai Cập để dùng cho các hoạt động hành chính, nửa còn lại, trừ đi khoản vốn chìm, thì dùng để thanh toán nợ. Vào đầu thế kỷ XX, cả hai nước còn vay những khoản nợ mới, nhưng lần này thì, để bảo vệ tiền đầu tư của mình, các chủ nợ lập ra nhiều tổ chức để bảo đảm rằng tiền vay hay ít ra một phần quan trọng của số tiền ấy được dùng để sinh lợi.
Nhưng với tất cả những thay đổi ấy và mặc dù các hoạt động của các công ty Âu châu được mở rộng nhanh chóng với những người được hưởng lợi là những người ngoại quốc và những người thuộc thành phần thiểu số; đa số dân chúng không thấy đời sống của mình có thay đổi gì nhiều. Trên một khía cạnh, người ta có thể đo được một sự thay đổi đáng chú ý, đó là về dân số, vì sau nhiều thế kỷ bị ngừng trệ hay bị giảm, ở thế kỷ XIX, dân số bắt đầu tăng nhanh. Với những con số có được, ta đã có đủ thí dụ để minh họa việc này. Dân số ở Istanbul, Anatolia và các đảo tăng từ khoảng 6.500.000 người năm 1831 lên 11.300.000 năm 1884 và 14.700.000 năm 1913. Dân số Ai Cập tăng lên từ 3.500.000 năm 1800 đến 4.580.000 người năm 1846, 6.800.000 năm 1882, 9.710.000 năm 1897 và 11.270.000 năm 1907. Nhưng ít có dấu hiệu cho thấy mức sống của người dân nông thôn và dân lao động thành thị được tăng lên, đôi khi còn bị xấu đi nữa. Trong khi ấy thì các tầng lớp trên được Âu hoá mà không kéo theo bất kỳ thay đổi gì tương ứng trong giai cấp thấp, thành thử hệ thống phức tạp của lòng trung thành, của các nghĩa vụ, của các giá trị chung mà dưới chế độ cũ đã ràng buộc họ với nhau thì nay bị suy yếu đi nhiều, mở đường cho nhiều cuộc xung đột và nhiều sự thay đổi trong giới lãnh đạo.
Người ta có nhiều cách để giải thích vì sao trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế thế giới Ottoman lại kém xa châu Âu Cơ Đốc giáo. Trước hết là trong thế giới phương Tây đã có một bước nhảy vọt rất quan trọng theo sau các cuộc thám hiểm khám phá lớn kéo theo những thay đổi về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và chính trị mà thế giới Hồi giáo không có gì so sánh được. Nhưng các tiến bộ của châu Âu cũng chưa có thể giải thích hết vì ngay trên đất nước Ottoman, đã có nhiều dấu hiệu suy tàn xuất hiện. Trong khi các chính phủ Âu châu củng cố vị trí của mình nhờ của cải và sức mạnh tiếp thu được thì hoàng đế Ottoman đang mất hết mọi quyền lực: tại thủ đô thì bị các bộ trưởng và triều thần lấn áp, ở địa phương thì các lãnh chúa có quyền tự trị và quyền thừa kế chỉ để lại cho hoàng đế một bá quyền hết sức tượng trưng.
Sự mai một của quyền lực trung ương lại đi song song với những thay đổi lớn trong các hệ thống sở hữu điền địa và thuế má. Trong chế độ Ottoman truyền thống, nòng cốt của cả hai hệ thống quân sự và hệ thông thuế điền thổ chính là đạo kỵ binh sipahi, được hưởng quyền khoán thuế gọi là timar.
Hệ thống sipahi đạt đến đỉnh cao của nó vào khoảng đầu và giữa thế kỷ XVI. Sau đó thì nó bị tần lụi dần, mặc dù không biến mất, cho đến đầu thế kỷ XIX. Khi quân sipahi mất hết quyền thì trên chiến trường có quân chính quy thay thế còn ở nông thôn thì có những người khoán thuế thay chân. Mỗi khi quyền timar không có người được hưởng vì chủ cũ chết hay bị cách chức thì thường ruộng đất ấy không được phân cho một người sipahi mới mà nhập vào cương thổ của hoàng đế trở lại, như vậy thuế lại được nhập vào ngân khố nhà nước. Tuy nhiên, phần lớn các khoản thuế ấy lại không do các viên chức nhà nước thu mà được bán lại cho người thầu khoán thuế ban đầu thì trên cơ sở một khoản tiền cố định mà hằng năm người này trả trước cho nhà nước để đổi lấy quyền thu thuế trong năm ấy. Nhưng vì có sự lạm dụng mà thời gian khoán cứ ngày càng dài ra, cuối cùng nó biến thành một hệ thông gọi là malikane, một hình thức cho thuê đất mà trên nguyên tắc chỉ là khoán thuế trong một thời gian hạn chế, nhưng trong thực tế lại là một quyền sở hữu tự do cả đời, đôi khi mang tính chất thừa kế và không thu hồi lại được. Cuối thế kỷ XVII, hệ thống này bắt đầu thịnh hành trong nhiều tỉnh của đế quốc rồi đến thế kỷ XVIII, nó trở thành phổ biến khắp nơi, mặc dù nhà nước tìm đủ cách để loại bỏ nó.
Hệ thống malikane trở thành cơ sở kinh tế cho các ayan, những vị chúa tể thật sự ở nông thôn. Chính quyền trung ương thì rệu rạo và bị mất hết quyền kiểm soát thật sự ở các địa phương cho nên các ayan giành được quyền lực chính trị và đôi khi, họ trở thành các chúa tể địa phương nắm quyền tự chủ. Đất đai từ khoán thuế chuyển thành đất đai tư hữu bằng nhiều cách như mua lại, được nhà nước giao đất, được hưởng quyền sơ hữu vì đã chiếm lâu ngày hay đơn giản chỉ là do chiếm đoạt mà chính quyền không làm gì được.
Người ayan xuất thân từ nhiều thành phần, như các địa chủ, thương nhân, một số lính sipahi thấy hình thức sở hữu đất đai này ít nguy hiểm hơn là khi được giao đất với tư cách nhân viên quân sự, sau đấy là cả một loạt các quan chức trong triều và trong hậu cung cũng tham gia vào, họ kinh doanh đất trực tiếp hay qua trung gian mối lái. Giới ayan bây giờ trở thành như một giai cấp giàu có sở hữu ruộng đất vả được chính quyền công nhận thay vì bổ nhiệm.
Khi quyền lực kinh tế tăng lên thì giới ayan nới rộng chức năng của mình, kể cả việc thi hành pháp luật và giữ gìn trật tự. Để làm việc này, về sau, họ xây dựng quân đội riêng, nhiều người trong số họ trở thành lãnh chúa cha truyền con nối trên những vùng đất đai riêng biệt. Khi họ trở nên quá mạnh, chính phủ Istanbul giao luôn cho họ quyền cai trị một vài thành phố ở địa phương. Năm 1786, thấy quyền lực của các ayan quá lớn, nên hoàng đế và chính phủ tìm cách rút họ khỏi các chính quyền thành phố và bổ nhiệm các thị trưởng thay vào, nhưng chẳng bao lâu lại phải phế bỏ các thị trưởng để cho các ayan nắm quyền trở lại.
Lúc này, các ayan đã có nhiều quyền hơn một nhà quý tộc hay một quan toà địa phương. Từ đầu thế kỷ XVIII, các lãnh chúa vùng Anatolia đã kiểm soát được nhiều vùng rộng lớn. Họ được gọi là các derebey, lãnh chúa các thung lũng, và xuất thân từ nhiều thành phần. Một số thì ban đầu là các quan chức sở tại do chính phủ trung ương cử đến, một số khác là con cái của những gia đình có quyền thế ở địa phương. Được chính phủ trung ương cho phép và nhiều khi còn được công nhận, họ xây dựng nên những công quốc tự trị, có quyền thừa kế và chỉ chịu làm chư hầu chứ không chịu lệ thuộc vào hoàng đế. Vào thời chiến, quân của họ cùng các đạo quân khác phục vụ trong quân đội của hoàng đế, cách tuyển mộ như vậy có tính chất gần như phong kiến. Họ được Cánh cửa Tối cao (La Sublime Porte, tên gọi chính phủ Ottoman) ban cho các chức vụ có tính hình thức như thống đốc hay quản Đốc, nhưng thực sự là trên địa hạt của mình thì họ hoàn toàn độc lập. Vào đầu thế kỷ XIX, gần như toàn bộ vùng Anatolia đều nằm trong tay các gia đình derebey, chỉ có hai tỉnh là Karaman và Anadolu còn do Istanbul trực tiếp cai trị.
Một tình trạng phát triển tương tự cũng xảy ra trên bán đảo Balkan. Quyền cai trị ở đây nằm trong tay các thủ lĩnh địa phương như vị thống đốc nổi tiếng của Yannina là Tepedelenli All Pasha, hay vị thống đốc của Vidin là Pasvanoglu Osman Pasha. Họ thành lập quân đội riêng, thu thuế cho mình, tự đúc tiền và cũng thiết lập các quan hệ ngoại giao riêng biệt với nước ngoài. Nhiều tuỳ tùng quân sự và dân sự của All Pasha được tuyển mộ trong đám dân gốc Hy Lạp, nhờ đó mà dân Hy Lạp mới nay ra ý định giành lại độc lập và mới có khả năng bảo vệ quyền độc lập ấy. Trong các vùng nói tiếng A-rập của đế quốc thì Ai Cập hầu như trở thành tự trị, còn ở Iraq và các vùng Trung và Nam Syria, các vị thống đốc do chính phủ trung ương chính thức bổ nhiệm hoạt động như các vua chúa độc lập và còn tranh giành quyền bính với các tù trưởng bộ lạc hay các lãnh chúa địa phương. Trên bán đảo A-rập, chính quyền Ottoman chưa bao giờ được thiết lập một cách bền vững thì nay lại bị tranh chấp bởi một triều đại mới, đó là bộ tộc Saud theo phong trào phục hưng tôn giáo Wahhabi.
Đến thế kỷ XVIII, phần lớn học sinh của Trường đào tạo tiểu thị vệ nằm trong hoàng cung là người nô lệ vùng Caucasus, một bộ phận quan trọng các thống đốc và quản đốc của đế quốc vẫn xuất thân từ trường này. Điều này không có nghĩa là người Caucasus đã hoàn toàn thay thế người vùng Balkan trong các chức vụ lãnh đạo của chính phủ. Người Balkan vẫn còn nhiều trong số này và trong hoàng cung cũng như trong các cơ quan khác mà trước kia người nô lệ chiếm đa số thì nay bắt đầu có tuyển mộ những người Hồi giáo tự do, lúc đầu là bất hợp pháp nhưng về sau trở thành thông lệ. Hệ thống tuyển mộ devshirme bắt đầu ít lấy người mới và về sau ngừng hẳn một phần cũng vì có thêm nhiều nô lệ gốc vùng Caucasus được bổ sung vào. Kết quả của việc thiếu người vào làm trong các cơ quan nhà nước là những hàng rào ngăn cản giữa các ngành khác nhau cũng giảm bớt đi và trong các cơ quan ấy, người ta thấy xuất hiện các thành phần dân sự leo lên các chức vụ như thống đốc vùng hay thậm chí Đại Tể tướng mà trước đấy chỉ dành riêng cho những người tài giỏi nhất thuộc thành phần nô lệ trong giới quân sự và hành chính.
Đến thế kỷ XVIII, trong hệ thống Ottoman có hai cơ cấu quan chức dân sự chính: đó là ngạch hành chính thường gồm các con cháu của những người trước kia được tuyển mộ qua phương thức devshirme, và ngạch tôn giáo gồm các giáo sĩ ulema. Trong tất cả các ngành, nghề nghiệp và chức tước thường có xu hướng trở thành cha truyền con nối. Điều này rất rõ trong trường hợp các giáo sĩ ulema, trong thời buổi loạn lạc, họ thường sử dụng hình thức các quỹ tôn giáo để duy trì và truyền lại cho con cháu nhưng tài sản của gia đình. Ngay từ năm 1717, một quan sát viên người Anh, phu nhân Mary Worley Montagu đã thấy việc này trong bài viết về các ulema:[4]
Loại người này có thể nắm quyền trong cả ngành Tư pháp và Tôn giáo, cả hai ngành này cũng chỉ là một, luật sư hay giáo sĩ cũng đều do một từ chỉ định. Họ thật sự là những người duy nhất có tầm quan trọng trong Đế quốc; họ nắm hết mọi chức vụ nhiều lợi lộc và mọi thu nhập của giáo hội. Đức Vua, mặc dù là người chủ chung của toàn dân, cũng không bao giờ dám đụng đến đất đai và tiền của của họ, những thứ này liên tục được truyền lại cho con cháu họ. Đúng là nếu họ nhận một chức vụ gì trong triều hay danh hiệu Pasha thì họ sẽ mất hết mọi đặc quyền này, nhưng ít khi thấy có ai lại dại dột đi làm chuyện ấy. Bạn có thể thấy được uy quyền của những người này khi biết là họ nắm độc quyền về Tri thức và chiếm lĩnh gần hết Tài sản quốc gia. Họ mới chính là người đầu têu trong các cuộc Cách mạng, bọn lính tráng chỉ là người thừa hành mà thôi.
Như vậy là cùng một lúc, hoàng đế để quyền kiểm soát các địa phương lọt vào tay những nhà quý tộc và quan toà mới nổi lên, thì ở trung ương, ông cũng phải chia sẻ quyền lực với một nhóm người, nói đúng hơn là với những nhóm người, mà chức vụ của họ lại có tính chất cha truyền con nối. Các hoàng đế Ottoman cũng tìm cách ngăn cản việc hình thành một giai cấp địa chủ và lãnh chúa trong một cuộc đấu tranh bền bỉ tuy ban đầu có thắng lợi nhưng cuối cùng cũng thất bại; trong thời buổi uy quyền nhà vua bị sa sút thì những thành phần mới lại xuất hiện, họ ngang nhiên chiếm đất, thu thuế, thực thi pháp luật và đánh lẫn nhau để tranh quyền làm chủ các địa phương và tối hậu là làm chủ được thủ đô và tiếm quyền của chính hoàng đế.
Trong tình trạng hiện nay của công tác nghiên cứu lịch sử Ottoman, chúng tôi chưa thể xác định một cách chính xác các nhóm này. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có thể lờ mờ nhận ra những đường nét và thấy một số hình dáng để mô tả đại khái các nhóm đang tranh giành lẫn nhau và nhận ra các thế lực mà các xung đột cũng như các liên minh của họ đã dẫn đến các sự kiện xảy ra ở Istanbul trong phần cuối thế kỷ XVII và cả thế kỷ XVIII.
Một trong những thế lực ấy là Văn phòng của Đại Tể tướng, về sau được gọi là Cánh cửa Tối cao (Sublime Porte), nó đã trở thành trung tâm chính quyền thật sự một khi quyền lực của cả Hoàng đế và Hội đồng Đế chế bị suy giảm. Dưới Đại Tể tướng, là cả một hệ thống các quan chức cao cấp và nhân viên văn phòng rất trung thành với tập thể của mình. Trong các cơ quan này có rất nhiều gia tộc của thủ đô nắm giữ các quyền lực hành chính, quê quán của họ ở tận vùng Balkan. Họ cũng tạo điều kiện cho những người dân Hồi giáo ở thủ đô và các tỉnh, thuộc thành phần tự do và có học thức, được tham gia chính quyền.
Đối thủ lớn nhất của Văn phòng Đại Tể tướng là Hoàng cung, phần nào cũng đã trở thành một nhóm xã hội cha truyền con nối, nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào việc tuyển mộ trong số các nô lệ vùng Balkan và cả nô lệ châu Phi. Người châu Phi tuy chỉ ở cấp thấp là chính nhưng các hoạn quan có thể có những chức vụ đầy quyền lực. Vị Chánh hoạn quan da đen, được biết đến như kizlar agasi (Quan Aga của các phi tần) là một trong những nhân vật có quyền thế nhất ở triều đình Ottoman. Cánh Hoàng cung có lợi thế rất lớn là kiểm soát được sự tiếp cận với bản thân hoàng đế và thường có quyền lực rất lớn trong đế quốc, ngay cả quyền cử người của mình vào Văn phòng Đại Tể tướng. Các sử gia có cảm tình với Văn phòng Đại Tể tướng thường gọi những giai đoạn mà Hoàng cung thống trị là “chế độ của các cung phi và các hoạn quan” và cũng lên án các triều thần và những người của họ là ích kỷ, tham lam và vô trách nhiệm.
Nếu mô tả sự cạnh tranh quyền lực như là một cuộc xung đột giữa chính phủ và hoàng cung, giữa các quan chức văn phòng và các triều thần, thì thật là đơn giản hoá quá mức. Mỗi phe lại chia ra nhiều phái và thỉnh thoảng họ lại quên đi những chia rẽ để lập thành những liên minh tạm thời. Cũng có nhiều thế lực khác tham gia vào cuộc xung đột trên như quân đội janissary và các chức sắc tôn giáo, đó là các tổ chức độc lập với những chính sách và quyền lợi riêng của họ; như các đơn vị hành chính ở trung ương và địa phương; như các nhà quyền thế và các chúa tể ở các tỉnh lẻ mà tay chân của họ nằm ở Istanbul thì không thiếu tiền bạc; như các thương gia và tài phiệt chủ yếu gốc Hy Lạp, mặc dù không được tham gia chính trị nhưng trong hoàng cung và Văn phòng Đại Tể tướng vẫn có nhiều người ủng hộ; như ngay cả những người còn sống sót trong số quân kỵ binh phong kiến, mặc dù không còn bao nhiêu và cũng chẳng có quyền thế gì mà trong các giai đoạn gay cấn vẫn có cách xen vào chính giới.
Trong khi các triều thần và quan chức, nô lệ và người tự do, dân Caucasus và dân Rumelia đang cùng nhau hỗn chiến để giành quyền cai trị và quyền vơ vét tài sản thì, theo nhận xét của nhiều người đương thời, đế quốc Ottoman đang trong cơn hấp hối. Nhưng đế quốc vẫn chưa chết hẳn. Trong những ngày đen tối nhất ở thế kỷ XVIII, nền đế chế vẫn còn đủ sức gắng gượng để bảo tồn được phần lớn các địa phương Hồi giáo của mình, không cho rơi hẳn vào tay người ngoại quốc và các địch thủ trong vùng.
Điều đáng chú ý hơn là nó còn có được những con người trung thành và chính trực, trong số các quan chức ở cả thủ đô và địa phương, để cứu vãn tình thế trước những chia rẽ và rối ren trong nội bộ.
Nhưng đến cuối thế kỷ XVIII thì hoàng đế và các cố vấn của ông phải chấp nhận là họ đã đi vào một cuộc khủng hoảng. Mặc dù nền đế chế vẫn còn đủ sức để lập lại chủ quyền trong một thời gian ngắn khi dẹp tan các lãnh đạo địa phương nổi loạn, nhưng nó không sao ngăn nổi sự chia cắt lãnh thổ và sự sụp đổ của chính quyền. Đế quốc Ottoman cũng biết rõ là sở dĩ họ thu được một vài thắng lợi nhỏ trong cuộc chiến chống lại Nga và Áo thì sự đóng góp của tài năng của họ cũng chẳng là bao mà chủ yếu là do những bất đồng và những ngờ vực lẫn nhau xảy ra trong phe địch và cũng do những mối lo trước sức bành trướng của nước Phổ và trước những xáo trộn ở Pháp do Cách mạng mang đến.
❀ ❀ ❀
[1] Abduhak Adnan (Adivar), La Science chez les Tures ottomans (Paris 1939) t. 57.
[2] Richard Hakluyt, The Principal Navigations of the English Nation, vol. 5,1.178-183.
[3] State Papers 102/61/23.
[4] The Complete Letters of Lady Mary Wortley Montagu, s. đã dẫn, vol. 1, t. 316-317.