Trong các thành phố Trung Đông người ta thường thấy các quán cà-phê, hay đôi khi là các quán trà, mà bất kỳ giờ nào trong ngày cũng có nhiều người đàn ông — ít khi có phụ nữ - ngồi uống một ly cà-phê hay một tách trà, có thể hút một điếu thuốc lá, đọc báo hay chơi cờ, tai thì lơ đễnh nghe các tin tức phát ra từ một máy thu thanh hay một máy thu hình đặt ở góc phòng.
Nhìn bề ngoài thì người khách của quán cà-phê Trung Đông này cũng chẳng khác gì nhân vật tương tự trong một quán cà-phê Âu châu, đặc biệt là ở vùng gần Địa Trung Hải. Nhưng người này thật sự khác hẳn người khách cũng ngồi ở đó năm mươi năm về trước và lại càng khác người ngồi cách đây một trăm năm. Lẽ tất nhiên là đối với người uống cà-phê ở châu Âu cũng vậy nhưng hai trường hợp này thật chẳng giống gì nhau. Những đổi thay nơi vẻ bề ngoài, dáng điệu, y phục hay cách đối xử của người châu Âu trong khoảng thời gian ấy hầu như hoàn toàn xuất phát từ châu Âu. Trừ một ít ngoại lệ, đấy là những đổi thay phát sinh từ bên trong xã hội của họ hay như gần đây thì ít ra cũng từ xã hội Mỹ, một xã hội vốn rất gần với họ.
Trái lại, ở vùng Trung Đông thì phần lớn các đổi thay lại từ bên ngoài đưa đến, từ những xã hội và những nền văn hoá rất xa lạ đối với các truyền thống cố hữu của dân bản xứ. Người đàn ông nọ trong quán cà-phê ngồi trên chiếc ghế, tì tay vào bàn và đang lẩm nhẩm đọc báo thật đã mang nặng trong mình những đổi thay đã tác động đến đời sống của anh ta và của cả cha mẹ anh - từ dáng vẻ bề ngoài, cách xử sự, cách ăn mặc, ngay cả bản thân mình, anh ta là biểu tượng của những biến cải rộng lớn từ phương Tây đến đang làm rung chuyển vùng Trung Đông thời nay.
Điểm nổi bật trước tiên là những thay đổi trong y phục. Có thể là anh vẫn còn mang chiếc áo cổ truyền nhưng trong các đô thị thì nó càng ngày càng hiếm thấy. Có nhiều khả năng là anh ta mặc Âu phục, gồm áo sơ mi va quần tây hay theo kiểu hiện nay là áo phông và quần bò. Lẽ tất nhiên là y phục có một tầm quan trọng vô cùng lớn, không chỉ đơn thuần che mưa che nắng và để duy trì lễ nghi phép tắc, mà đặc biệt trong vùng này nó còn là một hình thức để nói lên cá tính của con người, để khẳng định nguồn gốc của mình và cũng là một dấu hiệu nhận dạng cho những ai cùng chủng tộc với mình. Trước đây, vào thế kỷ thứ VII trước Công nguyên, nhà tiên tri Zephaniah (Sophonie) cũng đã nói: “Trong ngày hy sinh của Thượng đế, Người sẽ trừng phạt những ai mang trên mình trang phục ngoại lai” (1:8). Các kinh sách Do Thái và Hồi giáo sau đó cũng khuyên các tín đồ không nên ăn mặc như những kẻ ngoại đạo mà phải duy trì trang phục đặc trưng của họ. Một câu khuyên nhủ thường được nhắc đến là “Đừng ăn mặc như bọn ngoại đạo nếu không muốn trở thành như chúng”. Theo một lời truyền tụng được xem là xuất phát từ Đấng Tiên tri thì “Khăn quấn đầu biểu thị khoảng cách giữa tính ngoại đạo và Đức tin”. Còn theo một lời truyền tụng khác thì “Ai tìm cách bắt chước kẻ khác thì sẽ trở thành như kẻ ấy.” Cho đến gần đây và ngay cả hiện nay ở một số vùng, mỗi sắc tộc, mỗi cộng đồng tôn giáo, mỗi bộ lạc, mỗi địa phương và đôi khi mỗi nghề nghiệp đều có cách ăn mặc riêng của mình.
Có lẽ người đàn ông ngồi ở quán cà-phê kia vẫn đội trên đầu một loại mũ vải hay, trừ trường hợp ở Thổ Nhĩ Kỳ, một loại khăn có tính truyền thống hơn. Ai đã có dịp đi thăm một nghĩa trang thời Ottoman cũng đều thấy trên bia mộ có khắc hình chiếc mũ mà người quá cố từng đội lúc sinh thời. Nếu người này là một vị quan toà qadi thì hình khắc là chiếc mũ quan tòa, nếu là một anh lính janissary thì lại là hình chiếc mũ đặc biệt giống như ống tay áo gập lại mà lính janissary thường đội. Lúc sinh thời làm nghề gì thì khi chết, chiếc mũ đặc trưng biểu tượng của nghề nghiệp người nằm trong mộ sẽ được khắc trên bia đá. Một biểu tượng mà đặc trưng đến nỗi nó theo người đã khuất xuống mồ thì rõ ràng là lúc sinh thời nó phải quan trọng biết bao. Trong tiếng Thổ, cho đến một ngày gần đây, thành ngữ Sapka giymek co nghĩa là đội mũ trên đầu cũng có cùng một ý như câu nói của người phương Tây lật ngược áo đang mặc”, nghĩa là trở mặt như trở bàn tay, là một tên phản bội, đầu thú theo địch. Ngày nay, lẽ tất nhiên là phần đông người Thổ nếu đội gì trên đầu thì cũng là một chiếc mũ, một mũ lưỡi trai hay với những người ngoan đạo một cái mũ nồi (bê-rê) và thành ngữ trên đã mất hết ý nghĩa, không ai dùng nữa. Tuy nhiên, loại mũ phương Tây vẫn còn ít thông dụng ở các nước A-rập và ở Iran lại còn hiếm hơn nữa. Có một cách để đánh giá quá trình hiện đại hoá ở Trung Đông là theo dõi việc Tây hoá trong y phục và đặc biệt là trong loại hình mũ nón đội trên đầu.
Những thay đổi trong y phục, cũng như đối với các mặt đổi mới khác, đều bắt đầu trong giới quân nhân. Các bộ quân phục phương Tây đều có một ma lực quyến rũ nào đó. Trước việc các đạo quân Hồi giáo không ngừng bị quân ngoại đạo đánh cho tan tác, các thủ lĩnh Hồi giáo không những chuyển sang dùng các khí tài của đối phương mà họ còn bắt chước cách tổ chức và hậu cần của địch kể cả các bộ quân phục kiểu Tây phương. Khi quân đội Ottoman bắt đầu được cải tổ vào cuối thế kỷ 18, họ phải sử dụng cách huấn luyện và các vũ khí châu Âu nhưng họ không bắt buộc phải chuyển sang quân phục phương Tây. Đây là một lựa chọn có tính chất xã hội chứ không phải là quân sự mà hầu hết quân đội hiện nay ở các nước Hồi giáo đều noi theo, kể cả ở Libya và ở nước Cộng hoà Hồi giáo Iran. Họ phải sử dụng các khí tài và chiến thuật của phương Tây vì hữu hiệu hơn; không có gì bắt họ phải mặc áo lính bó chẽn hay đội mũ có lưỡi trai nhưng họ đã làm. Sự thay đổi trang phục này luôn luôn là bằng chứng của uy lực hấp dẫn của nền văn hoá Tây phương, ngay cả đối với những ai đang lớn tiếng chống đối nó.
Ngay cả trong quân phục thì mũ đội trên đầu là thứ phải thay đổi cuối cùng, và hiện nay có lẽ trong hầu hết các nước A-rập, người khách đang ngồi trong quán cà-phê còn đội trên đầu một loại mũ truyền thống, có lẽ là một cái khăn kefiya mà hình dáng và màu sắc nói lên bộ lạc hay địa phương của anh ta. Như vậy, người ta thấy rõ đầu và những gì đội trên đầu mang một ý nghĩa tượng trưng quan trọng. Đối với người Hồi giáo, còn có một điểm nữa là phần lớn các loại mũ châu Âu có lưỡi trai và vành rộng sẽ làm cản trở việc cúng bái của họ. Nam giới Hồi giáo cũng như nam giới Do Thái giáo, khi cầu kinh đều đội mũ trên đầu để tỏ lòng thành kính (khác với người theo đạo Cơ Đốc). Khi phải lạy, trán chạm đất thì đội mũ có lưỡi trai hay có vành quả là bất tiện. Ngay cả trong một khoảng thời gian dài khi quân lính các nước vùng Trung Đông mặc quân phục gần giống kiểu phương Tây, họ vẫn đội trên đầu một loại mũ truyền thống. Hoàng đế Mahmud II (trị vì 1808-1839), một trong những nhà cải cách lớn của thế kỷ XIX, đã cho sử dụng một loại mũ mới, mũ fez có tên A-rập là tarbush. Ban đầu, kiểu mũ này không được ưa thích và bị ruồng bỏ nhưng về sau nó được chấp nhận và còn được xem là một biểu tượng của Hồi giáo. Khi vị Tổng thống đầu tiên của nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ, Kemal Ataturk ra lệnh cấm đội mũ này vào năm 1925, thì sự chống đối cũng mãnh liệt chẳng khác gì khi nó được đưa vào sử dụng, và cũng cùng một lý do. Ataturk, nhà vô địch của việc thay đổi các biểu tượng xã hội, khi cấm đội mũ fez hay các loại mũ truyền thống khác và bắt buộc thay vào đấy là y phục Âu châu, đã không làm một việc vô bổ của một kẻ chuyên chế độc tài. Đây thật sự là một quyết định có tính xã hội lớn, ông và các cộng sự của mình biết rõ họ đang làm gì. Và đương nhiên là những kẻ chống đối ông cũng vậy.
Trước đây thì cũng đã có những đổi thay tương tự. Vào thế kỷ XIII, khi người Mông Cổ chiếm đóng vùng Trung Đông của người Hồi giáo và lần đầu tiên kể từ thời Đấng Tiên tri Mu-ha-mát, vùng đất này bị đặt dưới quyền quân ngoại đạo thì chính những giáo dân Hồi giáo cũng học theo cách sống của người Mông cổ, ít ra là trong lĩnh vực quân sự. Các tiểu vương Hồi giáo, ngay cả ở Ai Cập lúc ấy không bị Mông Cổ chiếm đóng, cũng bắt đầu ăn mặc theo kiểu Mông cổ, thắng ngựa dùng yên cương Mông Cổ và để tóc dài như người Mông cổ thay vì cắt ngắn theo kiểu Hồi giáo. Quân đội các quốc gia Hồi giáo cũng mặc quân phục, sử dụng quân trang và yên cương Mông cổ chẳng khác gì ngày nay họ mặc áo lính bó chẽn, đội mũ lưỡi trai vì đó là quân phục của người chiến thắng, mang dáng điệu và uy phong của lực lượng quân sự mạnh nhất thời bấy giờ. Theo các truyện kể thì họ tiếp tục để tóc và mặc quần áo Mông Cổ cho đến năm 1315, khi các vua chúa Mông Cổ vùng Trung Đông đã quy theo Hồi giáo và đồng hoá với dân bản xứ, vua Ai Cập ra lệnh cho các sĩ quan phải cắt gọn mớ tóc dài, từ bỏ kiểu dáng Mông cổ cho người và ngựa, trở lại dùng y phục và vải phủ yên cương Hồi giáo như trước kia. Trong các quân đội Hồi giáo hiện nay, một sự trở về lề lối cũ như vậy chưa hề xảy ra.
Tiếp theo sau giới quân sự là đến lượt triều đình. Hoàng đế có hôm thăng triều trong một bộ đồ Tây phương, có cải biên đi chút ít để không giống hệt Âu phục. Trong điện Topkapi ở Istanbul hiện nay có hai bức họa của Hoàng đế Mahmud II trước và sau khi có đổi mới về trang phục. Hai bức họa ấy, rõ ràng là do cùng một bàn tay họa sĩ, vẽ Hoàng đế trên lưng cùng một con ngựa nhìn dưới cùng một góc độ. Trên một bức họa, Hoàng đế mặc trang phục Ottoman truyền thống còn trên bức kia, ông mặc quần và áo choàng có tua theo kiểu nhà binh châu Âu. Ngựa ông cưỡi cũng có nhưng thay đổi tương tự về yên cương. Ataturk, người không hề biết nói quanh co là gì, đã đi thẳng vào vấn đề. Ông nói: “Chúng ta muốn ăn mặc cho văn minh. Như thế có nghĩa là thế nào? Tại sao y phục của một nền văn minh cổ xưa hơn lại được xem là kém văn minh? Theo ông, “văn minh” chỉ có nghĩa là hiện đại, là theo kiểu Tây phương.
Sau Hoàng đế là đến lượt triều thần bắt đầu ăn mặc theo kiểu phương Tây. Triều đình chính là nơi mà nhà vua dễ dàng ra lệnh cho đám dân sự thay đổi cách ăn mặc và cũng dễ dàng theo dõi việc thực thi sắc lệnh ấy. Các triều thần bắt đầu mặc áo choàng và quần dài. Từ triều đình, kiểu quần áo mới lan rộng ra các quan chức bên ngoài và vào cuối thế kỷ XIX, mọi quan chức trong đế quốc Ottoman đều mặc áo choàng và quần dài kiểu dáng khác nhau, tượng trưng cho những đổi thay rộng lớn về các giá trị xã hội. Từ các công chức, một bộ phận quan trọng của xã hội, kiểu quần áo mới được truyền bá đến đông đảo quần chúng và sau cùng đến tầng lớp dân thường, ít ra là trong các thành thị. Sau đấy thì đến lượt Iran, cả trong thế giới Ottoman và ở Iran, việc Âu hoá y phục trong giới lao động và ở nông thôn thì phải một thời gian lâu hơn, cho đến nay vẫn chưa hoàn tất. Cả sau cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran năm 1979, các nhà ngoại giao nước này vẫn tiếp tục mặc Âu phục, chỉ không thắt cà-vạt như để tỏ ra là không chịu theo các thể thức và các ép buộc của phương Tây.
Việc Tây hoá hay hiện đại hoá áo quần phụ nữ (dù sao họ cũng chiếm đến một nửa dân số), thì gặp nhiều chống đối hơn. Phong trào này khởi động khá chậm và cũng không đều khắp như đối với nam giới, ngay cả thời nay. Các quy định Hồi giáo về cách ăn mặc kín đáo và vẻ thuỳ mị của phụ nữ làm cho vấn đề này khá nhạy cảm và không ngừng gây ra tranh cãi. Ngay cả Ataturk, nếu ông có cấm đàn ông đội mũ fez hay các loại mũ không phải của phương Tây, thì ông không bao giờ cấm phụ nữ đeo mạng che mặt; ở một vài nơi trong nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ, các chính quyền địa phương có đưa ra những luật lệ về việc này nhưng cũng là số ít. Việc xoá bỏ mạng che mặt đã được thực hiện nhờ áp lực xã hội hay qua một hình thức thẩm thấu chứ không phải nhờ chế tài của pháp luật như trong trường hợp xoá bỏ các loại mũ truyền thống cho nam giới. Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, việc thay đổi y phục đã phản ánh tính trọng nam khinh nữ. Trong các quán cà-phê hay quán trà, rất hiếm khi gặp phụ nữ, mà nếu họ có đến thì thường trùm khăn kín mít từ đầu đến chân. Tuy nhiên, ở một vài nước, người ta có thể gặp trong các khách sạn hay quán cà-phê đắt tiền dành cho giới thượng lưu những phụ nữ ăn mặc sang trọng, nghĩa là theo kiểu phương Tây.
Sự thay đổi trong y phục còn tượng trưng cho một sự thay đổi sâu rộng hơn, ngay cả ở các nước đang quyết liệt chống đối phương Tây. Cũng như người dân vẫn còn mặc một bộ Âu phục cải biên thì Nhà nước ỏ đây lại thắng một bộ mã bề ngoải có dáng dấp Tây phương, đó là cho lưu hành một hiến pháp, cho thiết lập một quốc hội lập pháp và cho tổ chức một loại hình bầu cử nào đó. Trên đất nước Cộng hoà Hồi giáo Iran, các cơ cấu này vẫn được duy trì mặc dù là nước Iran ngày xưa hay giáo quốc Hồi giáo trước đây không có chúng.
Trở lại quán cà-phê với người khách ngồi trên chiếc ghế kê sát chiếc bàn nhỏ. Hai thứ đồ đạc này cũng do các sáng kiến có chịu ảnh hưởng Tây phương mang lại. Trong thời cổ đại và ngay cả khi bị người La Mã chiếm đóng, vùng Trung Đông có sử dụng bàn ghế nhưng chúng đã biến mất sau cuộc chinh phục của người A-rập. Người A-rập đến từ một vùng đất ít cây cối cho nên gỗ thật là quý hiếm. Họ có nhiều len và da thú nên họ sử dụng các vật liệu này để may quần áo và cũng để chế tạo vật dụng trong nhà và ở nơi công cộng. Người ta thường ngửa lưng hay ngồi tựa vào nệm và gối đủ mọi chủng loại, hoặc trên các đi-văng và ôt-tô-man (hai tên gọi xuất xứ từ vùng Trung Đông) có trải thảm đan hay thảm dệt, đồ ăn thức uống thì đựng trong những cái khay kim loại chạm trổ tinh vi. Nhiều bức đồ họa tí hon của người Ottoman vào đầu thế kỷ XVIII mô tả cảnh những người khách Âu châu đến dự các buổi yến tiệc của triều đình. Họ được phân biệt rõ ràng qua cách ăn mặc, trên là áo chẽn, dưới là quần bó đến đầu gối, đầu thì đội mũ và họ là những người duy nhất ngồi trên ghế. Với lòng mến khách, những người chủ nhà Ottoman đã bắc ghế mời những người châu Âu ngồi, còn họ thì không ngồi ghế.
Ông bạn chúng ta trong quán cà-phê chắc cũng đang phì phèo một điếu thuốc lá — đây lại là một sản phẩm của phương Tây hay nói đúng hơn là của Mỹ châu. Người ta được biết có lẽ thuốc lá do các thương nhân Anh quốc đưa vào Trung Đông vào đầu thế kỷ XVII và rất nhanh chóng được nhân dân ưa chuộng. Cà-phê thì được du nhập sớm hơn, vào thế kỷ XVI. Có nguồn gốc từ Ethiopia, nó được đưa vào miền Nam Arabia và sau đấy đến Ai Cập, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ. Theo sử sách Thổ Nhĩ Kỳ, cà-phê được hai người dân Syria đưa đến Istanbul dưới thời Hoàng đế Suleyman, mệnh danh Nhà vua Kỳ diệu (1520-1566); một người từ Aleppo, người kia từ Damascus đến để mở các quán cà-phê đầu tiên ở thủ đô Thổ. Loại nước uống này rất được ưa thích nên chỉ ba năm sau người chủ quán từ Aleppo đến đã về lại quê nhà trong túi xủng xẻng năm nghìn đồng tiền vàng lợi nhuận. Việc phát triển một xã hội cà-phê làm cho cả chính quyền lẫn chức sắc tôn giáo lo ngại, chính quyền thì không biết họ có âm mưu phản loạn nào không, còn giáo hội thì quan tâm đến việc loại nước kích thích này có vi phạm gì đến giới luật Hồi giáo hay không? Năm 1633, Hoàng đế Murad IV ra lệnh cấm cả cà-phê lẫn thuốc lá, và còn kết án tử hình một số người uống cà-phê và hút thuốc lá. Cuối cùng, sau nhiều tranh luận giữa các phe chống đối và ủng hộ, thuốc lá được xem là hợp pháp theo một quyết định fatwa của vị Đại Giáp trưởng Giới luật Mufti Mehmed Bahai Efendi, một người nghiện thuốc lá nặng mà năm 1634 đã bị cách chức và đi đày cũng vì nghiện ngập. Theo một tác giả, Ottoman đương thời có tên Katib Chelebi, quyết định của giáo trưởng công nhận tính hợp pháp của thuốc lá không xuất phát từ việc chính ông cũng là con nghiện mà từ nguyên tắc pháp lý là những gì không cấm thì được cho phép và cũng từ lòng mong muốn “cho dân chúng được hưởng những gì họ ưa thích nhất”.[1]
Tương tự như vậy, người khách ngồi trong quán cà-phê đang đọc báo hay có lẽ đang cùng một nhóm nhỏ lắng nghe người ta đọc báo giùm cho. Đây chắc chắn là một trong những đổi thay mãnh liệt và sâu đậm nhất có ảnh hưởng đến cả cá nhân và xã hội. Tại nhiều nơi trong vùng, chữ in trên báo là chữ A-rập, ngôn ngữ thịnh hành nhất ở Trung Đông. Trong vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, ở Ai Cập và Bắc Phi, các ngôn ngữ sử dụng trong thời Cổ đại đã biến mất, nếu còn tồn tại chăng nữa thì cũng chỉ trong các nghi thức tế lễ hay trong số các dân tộc ít người. Ngoại lệ duy nhất là tiếng Do Thái vì đã được người Do Thái gìn giữ trong tôn giáo và văn học và gần đây được hồi sinh như một ngôn ngữ chính trị và dùng trong sinh hoạt thường ngày ở đất nước Israel hiện đại. Tại Ba Tư, ngôn ngữ cổ xưa không bị tiếng A-rập thay thế nhưng cũng bị biến đổi nhiều. Sau Thời đại Hồi giáo, ngôn ngữ ấy được viết bằng chữ cái A-rập và có thêm vào rất nhiều từ A-rập. Tiếng Thổ cũng đã chịu chung số phận với tiếng Ba Tư, nhưng ở Thổ Nhĩ Kỳ, vị Tổng thống có đầu óc đổi mới Kemal Ataturk đã đưa ra một cải cách văn hoá sâu rộng bằng cách loại bỏ chữ cái A-rập mà cho đến thời buổi ấy người ta dùng để viết tiếng Thổ, để thay vào đây bằng chữ cái Latin. Về sau nhiều nước Cộng hoà nói tiếng Thổ trước đây nằm trong Liên bang Xô Viết cũng đã bắt chước theo Thổ Nhĩ Kỳ.
Chữ viết đã được biết đến ở Trung Đông từ thời Cổ đại. Chữ cái chính là một phát minh của vùng này, một tiến bộ to lớn so với các dấu hiệu hay hình vẽ sử dụng trước đây mà nay nhiều nơi trên thế giới còn dùng. Các chữ cái Latin, Hy Lạp, Do Thái và A-rập đều có nguồn gốc từ loại chữ cái đầu tiên do các dân tộc chuyên làm nghề buôn bán ở vùng biên Cận Đông phát minh ra. Nếu chữ cái đã đơn giản hoá rất nhiều việc soạn thảo và đọc các văn bản thì việc du nhập giấy viết từ Trung Quốc ở thế kỷ thứ VIII đã có công lớn trong việc sản xuất và phổ biến các văn bản ấy. Nhưng một phát minh khác của vùng Viễn Đông, nghệ thuật in ấn, lại đi tới phương Tây mà vì một lý do nào đó đã không dừng chân ở Trung Đông. Ngành in ấn thật ra không phải là hoàn toàn xa lạ ở đâỵ, người ta đã tìm thấy một vài dấu vết của nhưng bản khác gỗ thời Trung cổ. Vào cuối thế kỷ XIII, các vua Chúa Mông Cổ trị vì trên đất Ba Tư cũng đã thử in giấy bạc, nhưng khi họ trả lương cho nhân viên của mình bằng tiền giấy mà cứ khăng khăng bắt dân đóng thuế bằng vàng thì chạng mấy chốc không còn ai tin vào đồng tiền của nhà nước nữa. Thấy chẳng thành công cho lắm, người Mông Cổ không buồn tiếp tục việc này làm gì. Cuối cùng, nghề in cũng đến được Trung Đông nhưng không phải từ Trung Quốc mà từ phương Tây, vi được biết là đã vào đất Thổ Nhĩ Kỳ. Các nhà viết sử Ottoman, thường chẳng bao giờ thèm đếm xỉa đến những gì xảy ra trên đất nước của bọn ngoại đạo, cũng đã viết về việc ra đời của ngành in và có ít dòng nói về Guttenberg và cái máy in đầu tiên của ông. Có lẽ ngành in đã được những người Do Thái Tây Ban Nha đưa đến Trung Đông khi họ bị trục xuất khỏi nước này năm 1492. Ngoài các vật dụng, tay nghề và tư tưởng của phương Tây, họ còn mang đến sách in và nghệ thuật in sách. Nhiều cộng đồng khác không phải Hồi giáo sau đó cũng có những đóng góp tương tự. Dù các hoạt động này không có một ảnh hưởng to lớn trên nền văn hoá của đa số, chúng cũng dọn đường cho ảnh hưởng ấy. Qua các bản kiểm kê tài sản thừa kế còn giữ tại Phòng Lưu trữ của đế quốc Ottoman, người ta thấy có nhiều sách viết bằng chữ A-rập in ở châu Âu và được người Hồi giáo nhập về. Khi nhà in Hồi giáo đầu tiên được lập ra ở Istanbul vào đầu thế kỷ XVIII, người ta đã sử dụng nhiều thợ in Do Thái và Cơ Đốc vì cần phải có lao động tay nghề cao.
Báo chí chỉ xuất hiện về sau, mặc dù các giới trí thức đã rất sớm nhận ra các khả năng - và cả các hiểm họa - mà báo chí có thể mang lại. Từ năm 1690, đại sứ Maroc tại Tây Ban Nha Muhammad ibn “Abd al-Wahhab” còn được gọi la al-Wazir al-Ghassani đã nói đến trong báo cáo của mình về các nhà máy viết lách cho ra đời những bài viết đáng lẽ phải chứa tin tức thì lại chứa đầy tin giật gân xằng bậy”[2]. Trong thế kỷ XVIII, người Ottoman có biết đến báo chí châu Âu và đôi khi họ tỏ vẻ quan tâm đến những gì báo chí nói về họ nhưng cũng chỉ ở mức ấy mà thôi. Báo chí xuất hiện lần đầu tiên ở Trung Đông là do ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng Pháp. Thật vậy, năm 1795, tờ Gazette Francaise de Constantinople do Đại sứ quán Pháp ấn hành có lẽ là tờ báo đầu tiên ra đời trong vùng này. Báo này cốt để phục vụ kiều dân Pháp nhưng chắc hẳn được nhiều người khác đọc. Sau đấy, khi Cách mạng Pháp mà hiện thân là Tướng Bonaparte đến Ai Cập thì có nhiều nhật trình và công báo được in ra ở Cairo. Người Pháp cũng có ý định cho ra một tờ báo bằng tiếng A-rập ở Cairo nhưng đến nay chưa ai tìm ra được một số báo ấy, có lẽ kế hoạch đã không thực hiện được.
Trong các xã hội Hồi giáo cổ truyền, vua chúa có nhiều cách để thông báo cho dân chúng các tín tức quan trọng. Có hai cách thường được xem là những đặc quyền của nhà vua, đó là khắc trên đồng tiền và loan tin trong buổi giảng đạo ngày thứ sáu tại Thánh Đường, ở cả hai nơi tên hiệu của nhà vua, hay của cả vị bá chủ mà nhà vua thần phục đều được nêu lên. Thêm hay bớt một tên trong lời cầu nguyện có nghĩa là đã có sự đổi ngôi do kế vị hay do bạo loạn hoặc có việc chuyển triều thần phục. Phần còn lại trong bài giảng đạo có thể là phần công bố các pháp lệnh và chính sách mới. Khi có lệnh bãi bỏ thuế- chứ không phải là khi ra lệnh thu thuế mới - nhà nước thường thông báo bằng bảng ghi đặt tại các nơi công cộng. Những lời tán tụng nhà vua thường được các nhà thơ chính thức của triều đình hát lên, lời thơ dễ nhớ và dễ truyền bá rộng rãi cũng chỉ là một hình thức tiếp thị mà thôi. Các bài viết của những nhà viết sử chính thức thường được phân phát để loan các tin tức về những sự kiện quan trọng. Thí dụ như các bản fathname tức là các bản tin chiến thắng mà các hoàng đế Ottoman dùng để báo cho thần dân biết những thắng lợi quân sự. Vua chúa Hồi giáo đã quen sử dụng chữ viết và lời nói như một công cụ để cai trị cho nên họ biết ngay cách khai thác phương tiện mới từ bên ngoài du nhập: báo chí.
Việc sáng lập ngành báo chí dùng tiếng dân dã địa phương ở Trung Đông lại là công trình của hai nhà vua có đầu óc cải cách lớn, vừa cùng thời với nhau vừa là kình địch của nhau, đó là vua Muhammad Ali Pasha (Mehmet Ali) của Ai Cập và Hoàng đế Mahmud II của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lĩnh vực này cũng như trong nhiều vấn đề khác, Muhammad Ali đi tiên phong và Hoàng đế Mahmud nối bước theo sau, vì ông quan niệm rằng tất cả những gì nhà vua làm được thì Hoàng đế có thể làm tốt hơn. Nhà vua Ai Cập bắt đầu với một tờ công báo tiếng Pháp rồi sau thêm cả tiếng A-rập, hoàng đế Thổ thì bắt đầu bằng tờ báo in tiếng Pháp và tiếng Thổ. Trong môt thời gian dài, báo chí xuất bản ở Trung Đông chỉ là những tờ báo của chính phủ mà mục tiêu được nói rõ trong một bài xã luận thời ấy ở Thổ Nhĩ Kỳ là để “cho thần dân biết được các ý đồ và các quyết định của chính phủ”. Quan niệm này về bản chất và chức năng của báo chí cho đến nay vẫn còn tồn tại trong vùng.
Thật khó lòng viết được lịch sử báo chí ở Trung Đông. Nhiều tờ báo lại mang kiếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thời báo các Sự kiện) ra đời năm 1840 ở Istanbul. Chủ báo là một người Anh tên là William Churchill không biết bằng cách nào đã có được một giấy phép ferman cho ra báo. Báo được in ra bữa đực bữa cái nhưng dù sao cũng không bị chết yểu.
Bước ngoặt quyết định đến không riêng gì cho sự tồn tại của tờ báo này mà cho cả ngành báo chí ở Trung Đông là khi xảy ra cuộc chiến ở Crimea, vì lần đầu tiên người ta sử dụng điện tín, một phương tiện thông tín vô cùng hiện đại. Nhiều phóng viên chiến tranh Anh và Pháp theo dõi cuộc chiến này và ông Churchill đã hợp đồng với một phóng viên mặt trận để anh ta cung cấp cho ông bản sao của những bài viết anh gửi về London, nhờ đó mà tờ báo của ông Churchill ra đến 5 số mỗi tuần, thật là một kỳ công vào thời buổi ấy. Vì vậy mà người Thổ Nhĩ Kỳ rồi cả dân chúng vùng Trung Đông bắt đầu nghiện một loại ma túy có phần mạnh hơn, cũng có người cho là độc hại hơn là cà-phê và thuốc lá: hằng ngày họ phải có đủ liều tin tức mới chịu nổi. Ít lâu sau, một tờ báo cùng loại bằng tiếng A-rập ra đời để phục vụ độc giả nói tiếng A-rập trong đế quốc Ottoman, tờ báo này ngừng in khi cuộc chiến Crimea kết thúc trong khi tờ báo tiếng Thổ vẫn tiếp tục và kéo theo nhiều tờ khác nữa.
Vào năm 1860, chính quyền Ottoman đỡ đầu cho một tờ báo tiếng A-rập ở Istanbul, nó không phải chỉ để đăng các nghị định của chính phủ hay các loại thông tín tương tự mà thật sự là một tờ báo có tin trong và ngoài nước, có xã luận, có bài viết của ban biên tập đàng hoàng. Cũng vào thời điểm ấy, các cha dòng Tên ở Beirut cho ra đời một tờ báo, hầu như chắc chắn là tờ nhật báo đầu tiên ở các nước A-rập. Khi người Hồi giáo tố cáo các hiểm họa của đế quốc và của truyền giáo thì có lẽ họ đã đúng ở một điểm, chính bọn đế quốc và bọn truyền giáo đã mang đến cho họ loại nhật báo. Ngành báo chí càng mở rộng thì cả các biên tập viên, phóng viên và độc giả lại phải đối đầu với hai vấn đề lớn là tuyên truyền và kiểm duyệt.
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ngành báo chí phát triển rất nhanh, các nhật báo và nguyệt san xuất hiện rất nhiều, đặc biệt là ở Ai Cập, cuộc đô hộ của người Anh đã tạo khá nhiều thuận lợi. Báo chí Ai Cập ược phát hành rộng rãi trong các nước nói tiếng A-rập, dần dần các nước này cũng có báo và tạp chí riêng của mình; ảnh hưởng của việc phát triển báo chí thật là to lớn. Người dân biết đọc báo hay được nghe người ta đọc cho thì thường xuyên nhận được tín tức trong và ngoài nước, do đó có được những hiểu biết về thế giới, về thành phố, về đất nước, về châu lục mình đang sống, điều mà trước đấy không ai dám nghĩ đến. Báo chí lại dẫn đến một hình thức xã hội hoá và chính trị hoá. Ngoài báo chí, cuộc chiến ở Crimea đã mang lại hai điều mới lạ mà báo chí có nói đến, đó là việc thành lập các làng xã theo kiểu phương Tây và việc xây dựng cơ cấu tài chính quốc gia hiện đại, đặc biệt là sự xuất hiện của công trái.
Một đổi thay khác có tầm quan trọng cơ bản là trong lĩnh vực ngôn ngữ. Trong tiếng Thổ và tiếng A-rập, sau đấy là cả tiếng Ba Tư, loại hành văn nặng nề của các tờ báo ban đầu mà khi đọc cứ tưởng như đọc các nhật ký trong triều hay các quyết định của chính phủ thì nay được thay thế bằng một văn phong đầy khí lực được tôi luyện qua năm tháng và còn tồn tại mãi đến ngày nay. Các nhà báo Trung Đông đã phải tạo ra một phương tiện thông tin mới để thảo luân về các vấn đề của thế giới mới. Báo chí ở thế kỷ XIX đã phải viết và bình luận những sự việc như cuộc nổi dậy của người Ba Lan chống lại nước Nga, nội chiến ở Mỹ, diễn văn của Nữ Hoàng Victoria đọc tại kỳ khai mạc Quốc hội ở London hay nhiều vấn đề hóc búa không kém. Nhu cầu viết và giải thích các vấn đề như vậy đã là động lực thúc đẩy việc tạo nên một ngôn ngữ báo chí và chính trị hiện đại ở Trung Đông.
Có một phát triển khác có lẽ còn kỳ lạ hơn ngôn ngữ báo chí, đó là chính các nhà báo, một đội ngũ mới trong xã hội Trung Đông với một nghề nghiệp trước kia không ai biết đến nhưng đã trở thành vô cùng quan trọng.
Ngày nay báo chí không phải là phương tiện thông tin đại chúng độc nhất có mặt trong quán cà-phê. Chắc chắn là còn một máy thu thanh và có lẽ thêm vào một máy thu hình. Ngành phát thanh ở Trung Đông được khai trương năm 1925, chỉ ba năm sau London. Tuy nhiên, trong nhiều nước còn dưới quyền đô hộ của ngoại bang thì lâu hơn mới có hệ thống phát thanh. Mãi đến năm 1934 Ai Cập mới có đài phát thanh và sau cuộc cách mạng năm 1952 thì ngành phát thanh thật sự phát triển mạnh. Thổ Nhĩ Kỳ lại một lần nữa đi đầu trong việc thành lập vào năm 1964 một cơ quan phát thanh độc lập không bị nhà nước kiểm soát. Nhìn chung thì mức độ độc lập của ngành phát thanh trong một nước tuỳ thuộc vào chế độ chính trị của nước ấy. Các buổi phát thanh tuyên truyền từ nước ngoài đến có lẽ xuất hiện lần đầu tiên qua chương trình tiếng A-rập do chính quyền phát-xít Italia phát đi từ thành phố Bari năm 1935. Cuộc chiến tranh tuyên truyền trên sóng điện này khởi đầu như vậy, về sau có sự tham gia của Anh và Đức rồi đến Pháp và cuối cùng là Mỹ và Liên Xô. Các nước Trung Đông cũng bắt đầu phát sóng rộng rãi ra khắp vùng, mang đến cho nhau các thông tin, hướng dẫn và đôi khi cả những lời kêu gọi lật đổ chính quyền của nhau. Du nhập hệ thống truyền hình thì có khó khăn hơn vì tốn kém, nhưng hiện nay ở Trung Đông đâu đâu cũng có truyền hình.
Trong một vùng đất mà số dân mù chữ còn nhiều thì việc đưa lời nói trực tiếp đến người dân có một ảnh hưởng mang tính đổi đời. Trong cuộc cách mạng Iran năm 1979, các bài phát biểu của Giáo chủ ayatollah Khomeini được ghi trên băng cát-xét để phân phát rộng rãi, các mệnh lệnh của ông được truyền qua điện thoại; đây chắc hẳn là cuộc cách mạng đầu tiên trên thế giới thành công nhờ các phương tiện điện tử. Các phương tiện này làm cho lời nói có một tiếng vang lớn và các bài phát biểu đến được tai đông đảo người nghe, điều mà trước đấy không ai tưởng tượng nổi.
Những gì máy thu thanh hay thu hình phát ra đều do chế độ cầm quyền trong nước quyết định. Có lẽ trên tường quán cà-phê có treo ảnh của vị đứng đầu chế độ ấy, hoặc là nguyên thủ hoặc là thủ tướng. Trong một số rất ít nước trong vùng, nền dân chủ Tây phương đã có mặt và đang hoạt động tốt thì người lãnh đạo, bây giờ cũng có thể là một phụ nữ, đã được bầu lên một cách dân chủ và ngành truyền thông đại chúng phản ánh cả lập trường của chính phủ lẫn của phe đối lập. Phần lớn các nước trong vùng đều có những chế độ chính trị mang ít nhiều nét chuyên chế. Trong một số nước có cách cai trị hơi mang tính chất độc đoán thì người ta tự biết kiềm chế nhưng trong một chừng mực nào đó dư luận cũng được phát biểu tự do. Trong các nước khác dưới chế độ độc tài quân sự hay của một đảng phái, báo chí, phát thanh và truyền hình đều răm rắp đi theo một hướng.
Dù hình thức chế độ chính trị hay quyền lực của vị lãnh tụ ra sao đi nữa thì việc treo ảnh lãnh tụ trên tường cũng đã là một đổi mới khác xưa. Một vị đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ tại Pháp vào năm 1721 đã báo cáo về nước là theo tập tục, các vua nước Pháp hay ban tặng các đai sứ bức chân dung của chính mình. Tuy nhiên “vì người Hồi giáo không có quyền giữ chân dung”, ông đã tâu lại điều này với đức vua và được ban cho một tặng phẩm khác[3]. Nhưng không phải vì thế mà nghệ thuật họa chân dung lại không được biết đến. Hoàng đế Mehmed II, mệnh danh Người Chinh phục, đã cho phép danh họa người Italia là Bellini vẽ mình và lại còn sưu tập các chân dung do những danh họa Âu châu sáng tác. Con ông vì sùng đạo hơn cha nên khi lên kê vị đã cho dẹp bỏ hết, nhưng nhờ có các vị Hoàng đế về sau ít câu nệ hơn mà lâu đài Topkapi ở Istanbul có được một bộ sưu tập lớn chân dung các Hoàng đế và các nhân vật khác. Ngày nay, có một loại hình tranh thờ Hồi giáo được phát triển, các tranh giáo chủ Ali và Husayn có tính cách thần bí được vẽ ở các nước theo giáo phái Si-i và tranh các vị khác, ít phổ biến hơn ở các nước theo giáo phái Sun-ni. Hình tượng trên đồng tiền theo kiểu thịnh hành ở châu Âu từ thời cổ Hy Lạp hay cổ La Mã thì hiếm thấy. Có một đồng tiền khắc hình một người có lẽ là một giáo chủ dòng Áp-bát nhưng nó thật tình có tính chất khiêu khích vì trên đấy người ta thấy vị giáo chủ đang nâng cốc uống rượu. Một vài đồng tiền thời đại Seljuk được phát hành ở các tiểu vương quốc vùng Anatolia có khắc hình tiểu vương nhưng chúng chỉ có tính địa phương và bắt chước cách làm của các hoàng đế By-dăng mà thôi.
Có lẽ trên tường quán cà-phê không còn treo hình nào khác, nhưng hầu như chắc chắn là có một bức thư họa đóng khung viết một câu Kinh Cô-ran hay một lời dạy của Đấng Tiên tri. Trong mười bốn thế kỷ, đạo Hồi là tôn giáo thịnh hành nhất và cũng là tôn giáo thống trị trong vùng. Nghi lễ trong các đền thờ Hồi giáo thật đơn giản và mộc mạc, người ta chỉ cần tụng niệm vài câu trong Kinh Cô-ran. Cầu kinh tập thể chỉ là một hành động có kỷ luật nói lên sự thần phục Đấng Tạo hoá, một Thượng đế xa xăm và vô hình. Hồi giáo không chấp nhận kịch tính hay tính thần bí. Do đó sẽ không có nhạc và thơ trong tế lễ, lại càng không có tranh và tượng mà truyền thống Hồi giáo cho là có tính chất tôn sùng. Thay vào đấy, các nghệ nhân Hồi giáo tạo ra những bức vẽ hình học trừu tượng và sử dụng rất nhiều các bản chữ khắc trong nghệ thuật trang trí của mình. Tường và trần nhà của các đền thờ cũng như trong nhà ở hay tại các nơi công cộng đều được trang trí bằng những câu, thậm chí bằng cả những chương Kinh Cô-ran.
Có lẽ trong nghệ thuật người ta mới thây rõ các dấu hiệu đầu tiên về sự thâm nhập của văn hoá Tây phương. Ngay cả ở Iran, nơi cách xa và ít bị ảnh hưởng nhất của phương Tây, người ta cũng đã thấy ảnh hưởng này trong hội họa ngay từ thế kỷ XVI qua cách vẽ bóng hay vẽ phối cảnh cũng như qua việc thay đổi cách vẽ người. Không chịu phục tùng quy định cấm vẽ hình người của Hồi giáo, nghệ thuật Ba Tư và Ottoman đã từ lâu cho ra đời các hình người nhưng từ nay chúng trở nên riêng biệt, cá thể hơn và không rập khuôn như trước. Cũng có một ít tranh vẽ người mặc dù hình các lãnh tụ trên tiền, tem thư hay dán trên tường chỉ là một hiện tượng xảy ra gần đây, ở các nước bảo thủ thì đó là một hình thức phạm thánh gần như là tục tôn thờ thần tượng.
Kịch nói là một loại hình nghệ thuật ít gây ảnh hưởng trong các quốc gia Trung Đông, trái lại phim ảnh thì rất được ưa chuộng. Có bằng chứng là phim câm được nhập từ Italia vào Ai Cập từ năm 1897. Trong Thế chiến thứ I, các buổi chiếu phim dành cho binh lính Đồng minh là cơ hội để nhiều người dân Trung Đông làm quen với phương tiện thông tin mới mẻ này. Vào năm 1917, Ai Cập đã sản xuất những phim ngắn và đến năm 1927 mới có các phim truyện dài. Từ thời ấy phim ảnh đã trở thành một ngành công nghiệp lớn chủ yếu ở Ai Cập và cả ở nhiều nước. Công nghiệp phim ảnh Ai Cập ngày nay đứng hàng thứ ba, sau Mỹ và Ấn Độ.
Nhiều đổi mới khác cũng từ phương Tây đến nhưng ngày nay đã quá cũ và quá thông thường nên người ta không còn để ý đến xuất xứ của chúng nữa. Nếu người ngồi trong quán cà-phê thuộc tầng lớp có học thức và do đọc sách nhiều, mắt đã bị kém thì anh ta có thể đeo một cặp kính, đây cũng là một phát minh của phương Tây có bằng chứng là đã đến Trung Đông từ thế kỷ XV. Quán cà-phê có thể có một chiếc đồng hồ, người khách có thể đeo đồng hồ tay, cả hai đều được phát minh từ châu Âu và có lẽ đến nay vẫn còn được chế tạo bởi một công ty Âu châu hay Đông Á. Đo được thời gian một cách chính xác đang và còn tiếp tục làm đảo lộn các tập quán xã hội trong vùng.
Nếu người khách uống cà-phê lại có bạn bè cùng tiêu khiển thời gian mà không cần đo đếm giờ giấc gì cả thì có lẽ anh ta chơi cờ, một thú vui đã có một lịch sử lâu đời trong vùng. Hai trò được ưa chuộng nhất: một thứ thò lò biến thể và chơi cờ vua - trò chơi của dân có học thức, cả hai đều đi qua Trung Đông rồi mới đến phương Tây, cờ vua có lẽ có nguồn gốc từ Ấn Độ. Có dấu hiệu cho thấy cả hai loại cờ này đã có mặt trong nước Ba Tư Tiền Hồi giáo. Trong cuộc tranh luận lớn giữa các nhà thần học Hồi giáo thời Trung cổ về tiền định và tự do ý chí, người ta hay lấy hai loại cờ này ra làm tượng trưng và minh họa. Đời sống phải chăng là một ván cờ vua, trong đó người chơi có quyền lựa chọn mỗi nước cờ sẽ đi, thành công sẽ do mưu lược và tài tiên đoán mang lại? Hay nó chỉ như một trận thò lò mà chút tài mọn có thể làm nhanh hay chậm kết cục nhưng chính việc gieo nhiều lần con súc sắc mới dẫn đến kết quả. Có người cho đây là vận may mù quáng trong khi những người khác thì lại nói là định mệnh đã được Thượng đế an bài. Hai trò chơi này đã là những ẩn dụ nổi bật trong một cuộc tranh luận nổi tiếng về giáo lý đạo Hồi, và cuối cùng thuyết định mệnh — thò lò chứ không phải cờ vua - đã thắng.
Xen kẽ vào các bản tin và các bài diễn văn là âm nhạc. Trong phần lớn các quán cà-phê, khách hàng được nghe nhạc cổ truyền hay nhạc dân gian vùng Trung Đông mặc dù có thể có một ít nhạc Pop đã được ít nhiều Đông phương hoá. Chắc là sẽ không có nhạc cổ điển phương Tây. Ngay cả đối với những thành phần Âu hoá nhất trên các mặt xã hội và văn hoá thì có rất ít người thích nhạc cổ điển Tây phương, đây là điều khác biệt rất rõ nét so với Nhật Bản và ngay cả Trung Quốc, những xã hội không phải Tây phương mà ở đó nhạc cổ điển Tây phương lại được ưa chuộng, được biểu diễn và thậm chí được sáng tác. Trong số các dân tộc đã Tây hoá như dân Cơ Đốc Liban hay dân Do Thái Israel, có nhiều người hâm mộ nhạc cổ điển Tây phương, cả ở Thổ Nhĩ Kỳ nữa, thế giới âm nhạc đã được Tây hoá và ngày nay ở đây có các dàn nhạc, có kịch nhạc và các nhà soạn nhạc Tây phương. Âm nhạc, ít ra là nhạc không lời thì cũng độc lập đối với ngôn ngữ giông như nghệ thuật cho nên có thể cảm hoá được những người trong các nền văn hoá khác. Nhưng trong phần lớn vùng Trung Đông, có lẽ vì nhạc có lời chiếm một vị trí trung tâm nên điều nói trên sẽ không đúng và có ít người hâm mộ nhạc cổ điển phương Tây. Các loại hình nghệ thuật khác thì lại hoàn toàn trái ngược, hội họa và kiến trúc đã biến đổi xong ngay từ những ngày đầu khi tiếp xúc với phương Tây, trong văn học thì không còn các thể loại nghệ thuật truyền thống và giờ đây tiểu thuyết, kịch viết và cả thơ ca cũng đi theo trào lưu chung của thế giới. Trong quá trình Tây phương hoá, các nghệ thuật tạo hình đã xung phong đi đầu và biến đổi triệt để trong khi âm nhạc lại thụt lùi khá xa. Cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì trong số các loại hình nghệ thuật của một nền văn minh thì âm nhạc là thứ mà người mới đến khó tiếp thu, hấp thụ và biểu diễn nhất.
Đối với khách phương Tây, điều đáng chú ý nhất khi bước vào quán cà- phê ở bất kỳ nơi nào trong vùng Trung Đông là không thấy hoặc thấy rất ít phụ nữ, nếu có thì cũng chỉ là người nước ngoài. Chỉ có nam giới hoặc lẻ loi hoặc tụ tập nhau ngồi ở bàn uống nước; chiều đến, từng đoàn thanh niên đi rảo quanh các phố tìm trò giải trí. Việc giải phóng phụ nữ đã đi chậm hơn nhiều so với việc tăng tiến địa vị của nam giới và ở nhiều nơi trong vùng ngày nay lại còn thụt lùi nữa.
Ngày nay, ta có cảm tưởng đây là vùng đất có một nền văn hóa và những truyền thống cổ xưa đã ăn sâu vào tâm thức con người. Đây có lúc đã là nơi tỏa ra mọi hướng các tư tưởng, hàng hoá và đôi khi cả những đội quân chinh phục. Vào những thời điểm khác thì đây đã như một nam châm thu hút khách phương xa, khi thì là kẻ hành hương hay dân học đạo, khi thì là đám tù binh hay bầy nô lệ, đôi khi lại là người chinh phục hay vị chủ nhân. Vùng này đã là một ngã tư đường và một thương điếm mà tri thức và hàng hoá đến từ những đất nước cổ xưa và xa xăm rồi lại được tiếp tục chuyến đi, đôi khi còn được người dân ở đây cải tiến nhiều trong thời gian quá cảnh.
Trong thời hiện đại, phần lớn dân chúng vùng Trung Đông đang cảm nhận được đòn tác động mạnh của châu Âu rồi của phương Tây nói chung, cùng những đổi thay - hay nói theo kiểu của nhiều người - những xáo trộn mà nó mang tới. Lịch sử hiện đại của vùng này là một chuỗi biến hoá nhanh chóng và bắt buộc do bên ngoài áp đặt với những giai đoạn và hình thức phản ứng, ruồng bỏ và chấp nhận. Trên vài phương diện, các đổi thay ấy thật là toàn diện và có lẽ không đảo ngược được, thế mà có người vẫn còn muốn đi xa hơn nữa. Trên vài phương diện khác, các đổi thay chỉ hời hợt và hạn chế, ở một số nơi trong vùng, chúng đang bị đảo ngược lại. Có nhiều người trong giới quá khích và bảo thủ muốn tiếp tục và khuếch đại xu thế đảo ngược ấy, họ cho rằng ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương là một thảm họa rơi xuống vùng đất của họ, một tai ương còn có sức tàn phá mãnh liệt hơn các cuộc xâm lăng của người Mông cổ vào thế kỷ XIII. Có lúc người ta dùng từ “chủ nghĩa đế quốc” để mô tả ảnh hưởng Tây phương, nhưng từ này ngày nay trở nên vô nghĩa khi giai đoạn thống trị trực tiếp của châu Âu đã lùi vào dĩ vãng và nước Mỹ thì ở xa và ít can thiệp đến. Một từ ngữ có lẽ chính xác hơn để những người chống đối mô tả ảnh hưởng của phương Tây đã được giáo chủ Khomeini đưa ra khi ông gán cho Hoa Kỳ danh hiệu “tên Đại Quỷ Satan”. Quỷ Satan không phải là một tên đế quốc nhưng nó quyến rũ biết bao. Nó không đi chinh phục, nó chỉ cám dỗ người ta. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn giữa những người ghét và sợ quyền lực cám dỗ — hay theo họ là quyền lực huỷ hoại — của cách sống Tây phương và những người xem đó như là một cơ hội và một bước tiến mới trong quá trình trao đổi liên tục đầy triển vọng giữa các nền văn hoá và văn minh.
Cuộc đấu tranh này vẫn chưa đi đến phần kết thúc. Các nguồn gốc, quá trình và hậu quả sẽ được thấy rõ hơn nếu ta đặt nó trên bức tranh lịch sử và văn minh của vùng Trung Đông.
❀ ❀ ❀
[1] Kâtib Celebi, Mirzan al-Haqq (Istanbul. 1290 lịch Hồi giáo) t. 42-43; bản dịch tiếng Anh của G. L. Lewis, The Balance of Truth (London,1957), t. 56.
[2] Abu Abdallah Muhammad b. Abd al-Wahhab, Rihlat al-wazir fi iftikak al asir, ed.A. Bustani (Tanger, 1980), t. 67; bản dịch tiếng Pháp của H. Sauvaire, Voyage en Espagne d’un ambassadeur marocain (Paris 1884), t.150.
[3] Mehmed Effendi, Paris Sefaretnamesi, ed. Ebuzziya (Istanbul 1306 lịch HG), t. 139-146; bản dịch tiếng Pháp của Julien-Claude Galland, Le Paradis des Infideles. Un ambassadeur en France sous la Régence (Paris 1981), 1.160-161.