Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18 Từ Chiến Tranh Này Đến Chiến Tranh Khác
Chương 18 Từ Chiến Tranh Này Đến Chiến Tranh Khác

❊ ❊ ❊

Trong vòng hơn một thế kỷ cho đến khi bị tan rã, đế quốc Ottoman có chiến tranh liên tục với hết thù trong lại đến giặc ngoài. Một trong những tranh chấp ấy là cuộc chiến chống Iran vào năm 1821-1823. Đó là cuộc chiến cuối cùng trong một loạt xung đột giữa hai nước từ đầu thế kỷ XVI, để quyết định xem ai là cường quốc thống trị vùng Trung Đông Hồi giáo và cũng để phân định chính xác đường biên giới giữa hai nước. Cuối cùng thì biên giới cũng được ổn định và do một uỷ ban liên hợp vạch ra. Về sau, đây sẽ là đường biên giới giữa hai nước Cộng hoà Iraq và Iran, mặc dù còn một số tranh chấp nhỏ phải giải quyết. Cuộc tranh giành địa vị bá quyền địa phương giữa các đế quốc Ottoman và Iran dẫn đến kết quả là cả hai cùng bị gạt sang một bên và thay thế vào đó là các cường quốc bên ngoài với những đối nghịch và tranh chấp của riêng họ, lúc thì ở ngay trong vùng lúc thì ở ngoài vùng, những xung đột mà trong gần hai thế kỷ đã chi phối lịch sử chính trị của Trung Đông. Chính là để chiến đấu chống lại các thế lực bên ngoài đang giành giật với nhau và chống lại các tay sai của họ trong vùng mà đế quốc Ottoman đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh dai dẳng, gian khổ mà chung quy lại không thành công.

Cũng có nhiều cuộc chiến chống kẻ thù bên trong đế quốc, như các phong trào quốc gia nổi lên đòi quyền độc lập. Tất cả các phong trào ấy đều là của Cơ Đốc giáo, hầu hết đều kết thúc thành công nhờ có trợ giúp bên ngoài. Một loại hình nổi dậy khác là do các thống đốc Ottoman đầy tham vọng đứng ra tổ chức, họ muốn lợi dụng tình hình lộn xộn đang xảy ra trong đế quốc để thiết lập những vương quốc tự trị trên lãnh thổ họ cai trị. Người thành công nhất là Muhammad All Pasha, tuy ngoài mặt vẫn thần phục hoàng đế Ottoman, nhung đã lập ra một triều đại để cai trị một nước Ai Cập gần như độc lập. Nhiều thống đốc pasha khác cũng thiết lập những vùng tư trị tương tự ở Iraq và Syria, tuy nhiên nhỏ hơn và trong những thời gian ngắn hơn.

Phần lớn các vị pasha ấy, mặc dù nổi lên trên những vùng đất A-rập nhưng không phải là người A-rập mà là những người nói tiếng Thổ gốc vùng Balkan hay Caucasus. Chỉ ở hai vùng mà các thủ lĩnh nói tiếng A-rập xây dựng được những lãnh thổ tự trị. Đó là ở Liban, nơi mà các thủ lĩnh địa phương, một số theo Cơ Đốc giáo, một số theo giáo phái Druze, đã lập ra một công quốc hầu như hoàn toàn tự trị trong vùng núi để sau đấy làm nòng cốt cho nước Cộng hoà Đại Liban. Chính tại công quốc này và trong những vùng phụ cận còn nằm dưới quyền cai trị của Ottoman đã xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX một phong trào hồi sinh của văn hoá và kinh tế A-rập.

Vùng thứ hai tập trung các hoạt động của người A-rập là ở bán đảo Arabia, đặc biệt trong vùng Vịnh đang bị người Ottoman, người Iran và nước Anh tranh chấp. Từ cuối thế kỷ XVIII trỏ đi, các thủ lĩnh bộ tộc địa phương đã biết lợi dụng các tranh chấp ấy để giành được nhiều quyền tự trị. Trong số họ, đáng chú ý nhất là Vương quốc Kuwait - đây là một tên A- rập thu gọn của một từ Ấn Độ có nghĩa là thành luỹ - gia tộc Sabah lên nắm quyền ở đây từ năm 1756.

Chỉ có một phong trào A-rập, phong trào Wahhab, là dám thách thức tính chính thống của nhà nước Ottoman. Người sáng lập phong trào này, một nhà thần học người vùng Najd tên là Muhammad ibn Abd al-Wahhab (1703-1787), kêu gọi phải trở lại một đạo Hồi thuần tuý, chân chính như dưới thời Đấng Tiên tri, phải loại bỏ tất cả những gì thêm thắt vào chỉ làm cho Hồi giáo bị thối rữa và lệch lạc, thí dụ như các mê tín dị đoan, các tín ngưỡng sai lầm, các hành động xấu xa và các chế độ chính trị đang duy trì và ủng hộ những việc làm sai trái đó. Trong số những người theo Wahhab có Muhammad ibn Saud (nếu viết đúng thì là ibn al-Suud), vị tiểu vương ở Dariyya của vùng Najd. Theo truyện kể thì Muhammad ibn Abd al- Wahhab dạy cho những người theo mình cả giáo lý và cách sử dụng vũ khí. Từ khoảng giữa thế kỷ XVIII, những tân chiến sĩ của lòng tin ấy, dưới sự hướng dẫn của nhà quân sự tài năng Ibn Saud và được động viên bởi các lý thuyết tôn giáo của ibn Abd al-Wahhab, đã chinh phục gần hết Arabia và có lúc đe dọa cả vùng biên giới của Syria và Iraq. Cuộc đấu tranh nhằm trong sạch hoá lòng tin trông chẳng khác gì, hay được giới thiệu như một sự phục hồi lại giai đoạn phát triển và bành trướng của đạo Hồi dưới thời Đấng Tiên tri và các người kế tục của Mu-ha-mát. Nhưng đế quốc Ottoman, dù bị suy yếu, dù gặp nhiều khó khăn cũng vẫn có khả năng chống trả các cuộc tấn công của quân Saudi Wahhab không chút khó khăn; họ đã thành công ở chỗ mà các đế quốc lớn như By-dăng và Ba Tư đã thất bại. Trong thế kỷ thứ VII, cả người tấn công và người phòng thủ đều dùng một loại vũ khí, còn trong thế kỷ XVII và XVIII, người Ottoman đã có pháo binh.

Quân đội Ottoman đã khá mạnh để có thể dẹp tan phiến quân người Bedouin, nhưng lại không đủ sức đánh trả các quân xâm lược Âu châu. Một vài cuộc chiến tranh chống quân ngoại xâm đã nổ ra do có sự can thiệp của nước ngoài trong các cuộc nội loạn, các chiến tranh khác thì có nguồn gốc từ các hiềm khích giữa các cường quốc với nhau. Giữa các năm 1805 và 1878, nước Nga đã bốn lần gây chiến với đế quốc Ottoman, cả bốn lần Nga chiếm được nhiều đất đai. Thất bại của đế quốc Ottoman chắc còn tồi bại hơn nếu như Nga không bị các nước phương Tây can thiệp hay nhúng tay vào để bắt Nga phải trả lại một phần lãnh thổ chiếm được.

Những can thiệp ấy thể hiện một sự thay đổi quan trọng: đó là việc biến các thụt lùi của Ottoman thành “vấn đề Đông phương” như theo cách gọi của nhiều nhà ngoại giao. Trong giai đoạn này, sở dĩ đế quốc Ottoman còn tồn tại được không chỉ là nhờ sức chống cự kiên cường nhưng cuối cùng vô hiệu quả của quân đội họ mà nhờ một nhân tố mới — đó là sự can thiệp của các cường quốc Âu châu không yên tâm trước sự bành trướng của nước Nga và sự khôn khéo ngày càng tăng của chính phủ Ottoman khi phát hiện ra các đối nghịch ấy để lợi dụng hết các cơ hội có được từ những tình huống này.

Từ năm 1699, sau cuộc rút quân lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng khỏi thành Vienna, khi đế quốc Ottoman còn đang thương thuyết hiệp định đầu tiên họ phải ký vì thất trận, họ đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý của các đại sứ Anh và Hà Lan ở Istanbul, tức là đại diện của hai chính phủ đang rất lo ngại về bước tiến của quân Áo. Còn trong thế kỷ XIX thì không chỉ có sự can thiệp trên mặt ngoại giao mà còn cả trên mặt quân sự. Trong các cuộc chiến tranh Cách mạng và chiến tranh do Hoàng đế Napoléon gây ra, người Anh lại giúp Thổ Nhĩ Kỳ chống Pháp, sau đó người Pháp lại giúp Thổ chống Nga. Năm 1829, một người Phổ làm trung gian đã khuyên nước Nga thắng trận hãy giảm nhẹ các yêu sách của mình. Trong cuộc chiến ở Crimea, Anh và Pháp lại là những bạn chiến đấu của Thổ Nhĩ Kỳ chống lại Nga. Đến năm 1878, sự can thiệp ngoại giao của nước Anh đã cứu nguy trên mặt chính trị cho đế quốc Ottoman bại trận, trì hoãn được sự tan rã của đế quốc này cho đến thế kỷ sau. Cùng lúc đó, các cường quốc Tây phương cũng bước đầu chia nhau một phần gia tài của con người bệnh hoạn ấy - đương nhiên là họ không cai trị trực tiếp các vùng đất Ottoman, nhưng họ chiếm được nhiều lãnh thổ xa xôi hơn tuy vẫn chịu thần phục hoàng đế Ottoman một cách mập mờ nhưng lại có một chính quyền địa phương trực tiếp.

Trong thế kỷ XIX và phần đầu thế kỷ XX, người Iran cũng chịu chung số phận với người Ottoman. Việc mà họ đã làm dù cho đơn giản hơn trên tổng thể, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm. Trong hai năm 1806 và 1807, nước Iran cũng bị dính vào các cuộc xung đột ở châu Âu khi Napoléon cử một phái bộ đến Tehran đề nghị giúp đỡ hoàng đế Iran, một mặt là để thu hồi lại các lãnh thổ bị Nga chiếm trên miền Bắc, mặt khác là để tấn công người Anh ở Ấn Độ dưới miền Nam. Nhưng đến khi có Hiệp ước Tilsit ký kết giữa Nga và Pháp năm 1807 thì người Pháp không còn quan tâm gì đến Iran nữa. Trái lại, Nga và Anh vẫn ở lại vùng này và trong hơn một thế kỷ, lịch sử Iran bị chi phối bởi những cạnh tranh ở châu Á giữa hai đế quốc Âu châu hùng mạnh ấy. Các cuộc xâm lăng của Nga trên lãnh thổ của các vua chúa địa phương và trên đất nước của hoàng đế Iran đã biến Nga thành một lân bang của Iran trên bờ Tây rồi trên bờ Đông của biển Caspi. Khi nước Anh củng cố được quyền lực của mình ở Ấn Độ thì họ lại có mặt trên biên giới Đông Nam của Iran, còn ảnh hưởng của họ thì lan vào sâu hơn nữa. Đến khi quân Nga tiến về phía Nam và ảnh hưởng của Nga mạnh lên Tehran thì người Anh lo sợ cho quyền lợi của họ và tìm đủ cách để chống lại sự bành trướng của Nga bằng cách đẩy mạnh bành trướng của chính họ.

Người Pháp thì thật sự đã rút lui, còn người Đức thì chưa có ảnh hưởng gì lớn cho đến tận Thế chiến I, khi họ từ các vùng đất của đồng minh Ottoman tiến vào Iran. Trước đó thì, khác với người Ottoman, người Iran chỉ phải đương đầu với hai cường quốc là Nga phương Bắc và Anh phương Nam.

Trên một số mặt, người Iran có nhiều thuận lợi hơn người Ottoman. Các nhóm thiểu số tôn giáo của họ vì quá yếu nên không đáng kể, đặc biệt là sau khi vùng Armenia bị Nga chiếm đóng; các nhóm thiểu số sắc tộc của họ mặc dù không chịu thần phục nhà nước Iran, nhưng đều không có ý định liên kết với một quốc gia khác hay thành lập một quốc gia riêng của họ. Những thuận lợi ấy không phải là nhỏ.

Các chính sách của hoàng đế Iran đều giống và trên một chừng mực nào đã bắt chước những bước đi của hoàng đế Ottoman — cũng hiện đại hoá và tập trung hoá quân đội, và kéo theo là những nhu cầu đổi mới hành chính và giáo dục; cũng xây dựng và cho phép người khác xây dựng một cơ cấu hạ tầng hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông; cũng sử dụng và thích nghi các kỹ thuật và biện pháp cần thiết tối thiểu của người phương Tây; nhưng đồng thời phải lợi dụng sự cạnh tranh lẫn nhau của các cường quốc đế quốc để bảo tồn tính độc lập của mình.

Nhưng cả trong chính sách đối nội lẫn đối ngoại, người Iran bị giới hạn trong một khung cảnh hẹp và không đạt đến những thắng lợi như người Ottoman. Các cuộc cải cách quân sự và dân sự của họ đều ít triệt để hơn; các biện pháp tập trung hoá thường gặp khó khăn và đôi khi bị phá vỡ bởi những đặc thù của các địa phương và các bộ lạc. Chính vì vậy mà họ không có khả năng chặn đường xâm lược của các đế quốc thực dân.

Áp lực của người Nga chủ yếu là trên mặt quân sự và từ hiệp ước này qua hiệp ước khác, các giai đoạn chinh phục và xâm chiếm của Nga dần dần được chính thức hoá. Còn việc xâm nhập của người Anh thì phần lớn là trong các lĩnh vực kinh tế và ngoại giao, được đánh dấu bằng một loạt thoả thuận và nhượng bộ. Nhưng không phải đế quốc nào cũng không thèm sử dụng các phương pháp của đế quốc kia. Nhiều khi quân Anh tiến từ Ấn Độ vào Iran để áp đặt những yêu sách của Anh, còn các thương nhân và nhà ngoại giao Nga lại ngày càng có nhiều hoạt động để mở mang cả trên chiều sâu và chiều rộng ảnh hưởng của nước này. Năm 1864, tư bản Anh khai trương đường điện tín đầu tiên Iran trên hệ thống viễn thông nối liền với Ấn Độ. Sau đó, vào năm 1872 lại có thoả thuận nhượng quyền Reuter dành cho một công ty Anh quốc độc quyền khai thác tài nguyên khoáng sản của Iran, mở một ngân hàng, lập một mạng lưới điện tín và xây dựng đường xe lửa ở đây. Người Iran dùng nguồn thuế hải quan để trang trải cho các hoạt động này. Đứng trước nhiều khó khăn trong thực hiện và cũng do việc người Nga rất chống đối thoả hiệp này cho nên chính phủ Iran phải huỷ bỏ nó. Năm 1879, người Nga giành được một thắng lợi lớn trong việc thành lập lữ đoàn Cossack, trên danh nghĩa là một đội cận vệ của hoàng đế, nhưng là một lực lượng được huấn luyện, trang bị và một phần do người Nga chỉ huy. Nước Nga tiến sâu vào vùng Trung Á lại càng củng cố quyền lực của Nga trên miền Bắc Iran và làm bàn đạp cho Nga tiến xuống phía Nam. Chỉ có thoả hiệp nhượng quyền khai thác dầu mỏ ký với Anh quốc năm 1901 mới là ngoại lệ quan trọng duy nhất bên cạnh một loạt các thắng lợi và tiến bộ của Nga Iran.

Năm 1905 là năm có nhiều thay đổi không những chỉ cho Iran mà cho cả vùng. Nước Nga vừa bị thất bại nhục nhã trong trận chiến Nga-Nhật, lần đầu tiên một đế quốc Âu châu bị thua một quốc gia châu Á. Thất bại này đã gây ra nhiều xáo trộn ở Nga, dẫn đến việc, lần đầu tiên năm 1905, nhà nước phải ban bố một hiến pháp cho phép thành lập một chính phủ đại nghị do Quốc hội bầu ra. Bài học đối với Iran thật là rõ ràng. Chính quyền độc đoán của Sa hoàng đã bị đạp đổ. Người Nhật Bản chiến thắng đã có một hiến pháp từ năm 1889. Chính nước Nga cũng phải noi theo gương này do đó nền dân chủ tự do đã hùng hồn chứng minh tiềm năng và hiệu quả của nó.

Cuộc cách mạng lập hiến của Ba Tư bắt đầu tháng Mười hai năm 1905 và sau khi vượt qua một số chốhg đối, quốc hội Majlis được triệu tập ở Tehran tháng Mười năm 1906 để thảo ra một hiến pháp được hoàng đế thông qua.

Nhưng cùng trong lúc ấy, tình hình thế giới đã có nhiều biến đổi bất lợi cho Iran. Vì sợ một nước Đức ngày càng mạnh cho nên Nga và Anh đã bắt tay với nhau, và vào tháng Tám năm 1907, họ đi đến một thoả thuận với mục đích chia Iran thành ba vùng ảnh hưởng, vùng Bắc thuộc Nga, vùng Nam và chung quanh Vịnh Péc-xích thuộc Anh, còn vành đai trung tâm mở cửa đón cả hai cường quốc. Tiếp theo là một giai đoạn đầy rẫy xung đột, giữa hoàng đế và quốc hội Majlis, giữa các thế lực phản động và tự do của người Iran, và chẳng bao lâu lại tái diễn cuộc tranh giành quyền lợi giữa Nga và Anh. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1914, quân Nga đã tiến sâu và chiếm đóng hắn vùng Bắc Iran.

Cuộc cách mạng lập hiến Ottoman năm 1908 đã bắt đầu trong những hoàn cảnh thuận lợi và có vẻ như đang báo hiệu cho buổi bình minh của một kỷ nguyên mới. Chính sách độc đoán của Hoàng đế Abdulhamid bị đánh đổ, hiến pháp mà từ ba mươi năm qua bị trùm chăn thì nay được ban bố trở lại. Người ta hứa sẽ tổ chức tuyển cử tự do. Ngoài đường phố, người Thổ cũng như người Armenia, Hồi giáo, Cơ Đốc, Do Thái ôm hôn nhau và hứa hẹn cùng nhau một kỷ nguyên mới của tự do và của tình huynh đệ. Trong một quyển sách viết về cuộc cách mạng ấy xuất bản năm 1940, một sử gia Thổ nhận xét: Hiếm khi trên thế giới lại có một phong trào đầy hứa hẹn như thế… và cũng ít có những phong trào mà những hứa hẹn lại nhanh chóng dẫn đến những thất vọng cuối cùng như vậy.”[1]

Nếu cả người Ottoman Cơ Đốc lẫn các quốc gia châu Âu tán thành cuộc cách mạng của “những người Thổ Trẻ” xem đây là một bước tiến tới thì họ cũng không cho phép cuộc cách mạng ấy gây ảnh hưởng đến các kế hoạch khác của họ. Trái lại, họ còn xem nó như một cơ hội phải nắm lấy. Đế quốc Áo-Hung thì nhanh chóng sáp nhập Bosnia và Herzegovina vào lãnh thổ mình, Bungari thì tuyên bố độc lập còn đảo Crete thì đã có một chế độ tự trị trong đế quốc Ottoman sau cuộc chiến năm 1896 giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, nay tuyên bố hợp nhất với Hy Lạp. Năm 1909, một cuộc nổi dậy phản cách mạng đã bị triệt phá sau nhiều trận chiến đẫm máu.

Vào tháng Chín năm 1911, cuộc tấn công của Italia vào Tripoli đã mở màn cho một loạt các trận chiến. Lúc ấy, toàn bộ vùng ven biển Bắc Phi, từ Ai Cập qua Maroc đã nằm dưới quyền thống trị của Anh và Pháp. Chỉ có Cyrenaica và Tripolitania vẫn còn là các huyện (sanjak) của đế quốc Ottoman. Nước Italia, vì chậm chân trong trò chơi xâm chiếm lãnh thổ, nên quyết định gặm nhấm một ít đất đai của “con người bệnh hoạn” và với sự đồng ý của các cường quốc Âu châu đã tung ra một cuộc tấn công thuỷ bộ vào các vùng này. Cuộc tiến công của Italia không ngờ bị người Ottoman và dân bản xứ chống trả quyết liệt, nhưng đến tháng Mười cùng năm sức chống trả giảm đi vì người Ottoman đang phải đối đầu với một mối đe dọa mới, gần nhà hơn và cũng nguy hiểm hơn.

Cuộc chiến thứ nhất trong vùng Balkan bắt đầu ngày 18 tháng Mười năm 1912 và kết thúc ngày 30 tháng Năm năm 1913. Quân đồng minh Balkan gồm Bungari, Serbia và Hy Lạp chiếm được nhiều đất đai của đế quốc Ottoman rồi Albania cũng trở thành một nước độc lập. Cuộc chiến thứ hai trong vùng Balkan xảy ra vào tháng Sáu và tháng Bảy năm 1913 giữa những quân đồng minh với nhau, vì thế người Ottoman mới có cơ hội giành lại một phần đất đai đã mất, nhất là cả vùng Edime đến tận sông Maritza. Đây sẽ là biên giới ở châu Âu của Thô Nhĩ Kỳ.

Qua các xáo trộn ấy, chính quyền dân chủ mỏng manh của “những người Thổ Trẻ” trước đây được dựng lên với bao niềm hy vọng, thì nay không đứng vững nổi và tháng Giêng năm 1913, một cuộc đảo chính đã xảy ra để thành lập một chủ nghĩa độc tài quân sự. Đến năm sau, “những người Thổ Trẻ” đã đưa Thổ Nhĩ Kỳ dấn thân vào cuộc Chiến tranh thế giới bên canh các Cường quốc Trung tâm (Đức và Áo-Hung) trong những trận đánh một mất một còn chống lại một khối thống nhất gồm cả các bạn bè truyền thống lẫn các kẻ thù truyền thống của họ.

Thế chiến I là cuộc chiến cuối cùng giữa các cường quốc mà đất nước Ottoman tham gia với tư cách là một cường quốc. Cuối tháng Mười năm 1914, các tàu chiến Thổ đi cùng hai tuần dương hạm của Đức đã bắn phá các cảng của Nga trên Biển Đen như Odessa, Sevastopol và Theodosia. Hoàng đế Giáo chủ phát động một cuộc Thánh chiến Jihad chống lại những ai cầm vũ khí đánh trả lại ông và các đồng minh của mình. Ba nước đồng minh chính là Anh, Pháp và Nga đang cai quản rất nhiều dân Hồi giáo ở Ấn Độ, Bắc Phi và Trung Á, cho nên người Thổ và đồng minh Đức của họ hy vọng rằng những người Hồi giáo này sẽ đáp ứng lời kêu gọi Thánh chiến để nổi dậy chống các chủ nhân đế quốc của mình. Nhưng sự thật đã không diễn ra như thế và người Ottoman bị bắt buộc phải đương đầu với hai thế lực hùng hậu của đế quốc Nga và đế quốc Anh trên các biên giới Đông và Nam của mình.

Ban đầu, người Thổ có nhiều lợi thế. Tháng Mười hai năm 1914, họ tung ra một cuộc tấn công trên miền Đông Anatolia và thu hồi được một số đất đai đã mất cho Nga năm 1878, chiếm được thành phố Tabriz Iran từ tay Nga trong một khoảng thời gian ngắn. Người Nga đã ngang nhiên hành động Iran mặc dù chính phủ nước này tuyên bố trung lập, nhưng không đủ sức để duy trì tính trung lập ấy. Trên mặt trận phía Nam, vào đầu năm 1915, quân đội Ottoman từ Palestine đã vượt qua sa mạc Sinai để tấn công vào kênh đào Suez của Ai Cập lúc ấy do Anh chiếm đóng.

Nhưng những thắng lợi ban đầu ấy không kéo dài được bao lâu. Về phía Đông, quân Nga phản công mãnh liệt và với sự giúp đỡ của người địa phương đã chiếm được thành phố Van một thời gian. Còn ở mặt Nam, cuộc tấn công của người Thổ vào kênh đào Suez bị quân Anh đẩy lùi, cùng lúc ấy nước Anh phái một đạo quân viễn chinh từ Ấn Độ tiến vào Vịnh Péc- xích. Ngày 22 tháng Mười một năm 1914, quân Anh chiếm được Basra, lúc ấy là một cảng Ottoman. Ban đầu, người Anh chỉ nhắm mục tiêu bảo vệ đường ống dẫn dầu từ Iran đến, nhưng khi giành được thắng lợi họ mới mở rộng thêm kế hoạch tấn công. Trong năm 1915, quân Anh chiếm được nhiều địa điểm dọc các sông Tigris và Euphrates rồi dần dần tiến lên miền Bắc hướng đến Baghdad.

Cùng lúc ấy, người Ottoman phải đương đầu với một cuộc tấn công đầy hiểm nguy ngay cạnh thủ đô của họ. Tháng Hai năm 1915, nước Anh dùng hải quân uy hiếp vùng eo biển Dardanelles rồi chiếm được đảo Lemnos, biến nó thành một căn cứ quân sự. Trong mùa xuân và mùa hè, liên quân Anh-Australia đổ bộ lên nhiều nơi trên bán đảo Gallipoli, quyết tâm phá vỡ phòng tuyến Ottoman trong vùng eo biển nối liền Biển Đen và các biển Marmara và Địa Trung Hải để bắt tay với quân Nga ở Biển Đen.

Cuối năm 1915, đầu 1916, quân Ottoman có được lợi thế trở lại. Người Nga phải rút khỏi Anatolia, người Anh thua trận và phải đầu hàng Iraq, quân đội của hoàng đế Ottoman tấn công kênh đào Suez lần thứ hai. Đến đầu năm 1916, sau nhiều trận chiến khốc liệt với nhiều thương vong, liên quân Anh-Australia phải rút khỏi Gallipoli và từ bỏ ý định làm chủ vùng eo biên.

Nhưng về lâu về dài, thắng lợi vẫn thuộc về quân Đồng minh có lực lượng vượt trội hơn. Sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917, áp lực về phía Đông có giảm đi, nhưng đối với cuộc tiến quân của người Anh ở phía Nam thì không có gì ngăn cản nổi.

Trong suốt các cuộc xung đột và xáo trộn ấy, đại đa số dân chúng đế quốc Ottoman, bất kể thành phần dân tộc hay tôn giáo, đều giữ thái độ trung thành với hoàng đế. Tuy nhiên, vẫn có hai trường hợp ngoại lệ của người Armenia ở Anatolia và người A-rập vùng Hijaz thuộc bán đảo Arabia. Ngay cả trong số dân Armenia và A-rập, phần lớn đều hiền lành và tuân thủ pháp luật, đàn ông đều phục vụ trong quân đội hoàng gia. Nhưng một số lãnh đạo của cả hai nhóm thấy chiến tranh thật là một cơ hội để lật đổ nền thống trị của người Ottoman, giành độc lập dân tộc. Đương nhiên là muốn thực hiện mục tiêu này, cần phải có sự giúp đỡ của các cường quốc Âu châu hiện đang là kẻ thù của hoàng đế. Năm 1914, người Nga lập ra bốn đơn vị lớn quân tình nguyện Armenia, và năm 1915 lại thêm ba đơn vị nữa. Các đạo quân ấy, dù lúc đầu được tập hợp trên đất Armenia thuộc Nga, nhưng gồm nhiều người Armenia là dân của đế quốc Ottoman, một số là lính đào ngũ, một số khác là những nhân vật có tên tuổi trong công chúng. Viên chỉ huy của một đơn vị này là người Armenia, cựu nghị sĩ quốc hội Ottoman. Quân du kích Armenia hoạt động mạnh trên một số vùng trong nước và ở nhiều nơi, quần chúng Armenia nhất tề cầm súng nổi dậy, đặc biệt là ở thành phố Van trên vùng Đông Anatolia và thành phố Zeytun của vùng Cilicia.

Vào mùa xuân năm 1915, khi phiến quân Armenia đã kiểm soát Van, người Anh chiếm eo Dardanelles, người Nga tấnn công trên mặt Đông và một đạo quân Anh khác đang tiến dần đến Baghdad, chính phủ Ottoman quyết định bắt dân Armenia phải rời khỏi Anatolia, đây là một hành động thông thường trong vùng này đã có từ xa xưa. Một vài thành phần dân Armenia cùng gia đình được miễn khỏi phải đi đày: đó là những người theo Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, công nhân đường sắt và những người đang phục vụ trong quân đội. Nhưng đại đa số dân Armenia ở Anatolia, dù không sống trong các vùng nguy hiểm hay không thuộc các nhóm bị tình nghi, cũng vẫn bị bắt đi đày và lâm vào cảnh chết chóc.

Những người đi đày phải chịu rất nhiều thảm cảnh. Trong một quốc gia có chiến tranh, nhân lực có hạn, không đủ lính và cảnh vệ để áp giải người đi đày, người ta đã phải sử dụng một lực lượng dân quân qua tuyển mộ sơ sài. Số người chết thì khác nhau rất nhiều tuỳ theo cách tính, nhưng ít ra cũng đến hàng vạn, hay có lẽ trên một triệu người Armenia đã chết. Nhiều người bỏ mạng do đói khát, bệnh tật, nắng mưa; nhiều người bị tàn sát bởi dân chúng và các bộ lạc địa phương, hoặc do sai sót và do sự làm ngơ của đám người áp giải vô kỷ luật, không được trả lương và cũng bị đói khát hay do ngay chính những người áp giải này giết hại.

Chính phủ Ottoman trung ương hình như cũng có cố gắng giảm bớt tình trạng quá đáng ấy. Trong thư khố còn giữ nhiều điện tín của các nhà chức trách cấp cao đề nghị ngăn cấm và xử phạt các hành động bạo ngược đối với người Armenia. Người ta còn thấy biên bản của khoảng 1.400 phiên toà quân sự xử các quân nhân và dân thường Ottoman vì những hành động ngược đãi người đi đày, một số dẫn đến án tử hình. Nhưng các biện pháp ấy chỉ mang đến những kết quả hạn chế và chắc chắn là tình hình càng trở nên tồi tệ hơn do có nhiều thập kỷ xung đột vì các lý do chủng tộc và tôn giáo giữa người Armenia và những láng giềng trước kia hiền lành nên đã gây ra một mối hiềm khích tích luỹ từ lâu. Các lệnh đày dân không áp dụng cho Istanbul và Izmir cũng như các vùng Syria và Iraq của đế quốc, nơi tập trung những người đi đày.

So với các biến động trong dân Armenia thì cuộc nổi dậy của người A- rập đã xảy ra những địa điểm thuận lợi hơn, có kế hoạch tốt hơn, vào những thời gian thích hợp hơn và cũng được ủng hộ nhiều hơn. Nếu người Armenia sinh sống ngay tại trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ trên lục địa châu Á, xung quanh toàn là dân Hồi giáo, thì cuộc nổi dậy của người A-rập bùng lên ở vùng Hijaz tại Arabia, một lãnh thổ gần như tự trị nằm dưới quyền Giáo trưởng Husayn người A-rập, dân chúng hoàn toàn là người A-rập Hồi giáo và là nơi có hai địa điểm thiêng liêng nhất của đạo Hồi là Mecca và Medina. Vùng này còn có lợi thế là nằm xa các trung tâm quyền lực Ottoman và quân Anh ở Ai Cập có thể dễ dàng tiến vào hỗ trợ. Phiến quân A-rập lại có thể hứa cho người Anh nhiều điều có ích, cho nên năm 1917 sau nhiều đàm phán bí mật với người Anh, Giáo trưởng Husayn bắt đầu tuyên bố vùng Hijaz độc lập rồi tự phong cho mình danh hiệu “Vua của những người A-rập”. Chính phủ Anh quốc sau khi gửi thông điệp cho Husayn hứa hẹn một nền độc lập khá mơ hồ cho người A-rập, đã ủng hộ cả hai tuyên bố của giáo trưởng.

Dù cho ý nghĩa quân sự của vài nghìn quân Bedouin ô hợp trong những trận đánh có sự tham gia của nhiều đạo quân chính quy hùng hậu, chỉ là hết sức nhỏ bé nhưng ý nghĩa tinh thần về một đạo quân A-rập chống người Thổ thì thật là to lớn, hơn nữa lại do người canh giữ các thánh địa Hồi giáo tố cáo hoàng đế Ottoman và cuộc thánh chiến giả vờ của ông quả là có một giá trị vô cùng quan trọng đối với người Anh và cả cho đế quốc Pháp đang muốn duy trì quyền lực của mình trên đám dân Hồi giáo bị trị. Cuộc nổi dậy của dân A-rập cũng ở vào một thời điểm thuận lợi hơn, trùng với giai đoạn rút lui của quân Ottoman khỏi toàn bộ các tỉnh A-rập. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là người A-rập khéo lựa được người bảo trợ. Không như người Nga, người Anh không bị một cuộc cách mạng quê nhà làm giảm đi khả năng can thiệp và họ có thể tiếp tục viện trợ quân sự cho đến thắng lợi. Người Anh có thực hiện lời hứa chính trị của họ hay không lại là một chuyện khác, nhưng ít ra, họ cũng bảo vệ được phiến quân A-rập khỏi bị đế quốc Ottoman trừng phạt.

Đến cuối năm 1916, quân Anh bắt đầu kéo từ Ai Cập vào vùng Palestine của đế quốc Ottoman vá một đạo quân Anh khác đổ bộ lên Iraq để tiếp tục tiến lên phía Bắc. Mùa xuân năm 1917, quân đội Anh đã chiếm được Baghdad ở Iraq và Gaza Palestine. Họ lấy được Jerusalem tháng Mười hai năm 1917 và Damascus tháng Mười năm 1918. Ngày 29 tháng Mười năm 1918, sau ba ngày thương lượng, một phái đoàn Ottoman đặt chân lên chiến hạm HMS Agamemnon của hải quân hoàng gia Anh đậu tại cảng Mudros trên đảo Lemnos. Ngày hôm sau hai bên ký một thoả thuận đình chiến.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đánh dấu đỉnh cao của cuộc triệt thoái của đạo Hồi trước bước tiến của phương Tây. Nước Iran, mặc dù trung lập, nhưng vẫn bị quân đội ngoại quốc và các lực lượng phụ trợ địa phương của họ chiếm đóng. Trên những vùng đất thuộc đế quôdc Ottoman, cuộc chiến cuối cùng này cũng như trước đây cuộc chiến Crimea đã mang đến nhiều gắn bó hơn nữa với châu Âu và thúc đẩy nhanh chóng hơn các quá trình đổi thay. Nhưng khác với chiến tranh Crimea, cuộc chiến lần này kết thúc bằng một thất bại và người Thổ phải nhượng lại các lãnh thổ A-rập của mình cho Anh và Pháp. Chỉ trên chính quốc ở vùng Anatolia là họ qua mặt được những người chiến thắng, và qua đấu tranh, họ xây dựng được một nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ độc lập.

Trong lịch sử Âu châu, những năm từ 1918 đến 1939 được biết đến như là thời kỳ quá độ giữa hai cuộc Thế chiến mặc dù nhiều người chỉ xem đây là một trạng thái đình chiến giữa hai giai đoạn của cùng một cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, trong bốì cảnh Trung Đông, cả hai định nghĩa ấy đều không xác đáng. Những năm tháng ấy có thể xem là một buổi giao thời trong lịch sử Trung Đông hay một sự can thiệp của bên ngoài mang tính chất của một cuộc phẫu thuật. Trong bối cảnh Trung Đông giai đoạn này có thể xem là gồm cả hai Thế chiến và cả những năm hoà bình khập khiễng giữa chúng.

Giai đoạn này bắt đầu với sự sụp đổ, hay nói cho đúng hơn, sự phá huỷ của một chế độ cũ mà, dù về sau có sao đi nữa, cũng đã ngự trị trong bôn thế kỷ trên hầu khắp vùng Trung Đông. Người Ottoman, kế tục sự nghiệp của những người đi trước, đã xây dựng nên một cơ cấu chính trị bền vững và một hệ thống chính trị hữu hiệu. Họ cũng đã tạo ra một nếp sống văn hoá chính trị mạch lạc rõ ráng, trong đó mỗi nhóm người hay mỗi cá nhân biết rõ vị trí, quyền lực và các giới hạn của mình và quan trọng hơn cả là biết mình phải cung cấp những gì và nhận được những gì, cho ai và từ ai đến. Hệ thống Ottoman đã gặp nhiều khó khăn, nhưng nó vẫn tiếp tục hoạt động. Dù phần đông người dân theo Cơ Đốc giáo đã mất lòng trung thành và tính phục tùng đối với hệ thống ấy nhưng đa số người Hồi giáo vẫn xem nó là chính thống. Trong những thập kỷ cuối cùng, chính quyền Ottoman cho thấy có dấu hiệu hồi phục và đôi khi có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, những phát triển ấy đã bị vô hiệu hoá và chấm dứt khi đế quốc Ottoman tham gia vào Thế chiến I với kết cục là sự cáo chung của đế quốc, nhà nước bị sụp đổ và lãnh thổ quốc gia bị vỡ thành từng mảnh.

Kể từ ngày tướng Bonaparte đem quân đến chinh phục Ai Cập vào cuối thế kỷ XVIII, các diễn biến trong vùng Trung Đông bị ảnh hưởng sâu xa và chỉ có khủng hoảng thì bị chi phối bởi những quyền lợi, tham vọng và hành động của các cường quốc châu Âu. Đến khi chế độ Ottoman không còn nữa và các cường quốc phương Tây làm chủ cả vùng thì các xung đột giữa các đế quốc thuộc địa trở nên trực tiếp và dưới một hình thức mới.

Trong các cuộc tranh giành ấy, người ta thấy có ba giai đoạn chính. Trong giai đoạn đầu, người Anh và người Pháp gần như làm chủ cả vùng và cuộc chạy đua giữa hai cường quốc ấy là đầu đề cho mọi quan hê quốc tế trong vùng. Trong giai đoạn hai, giữa những năm 1930 và 1940, sự thống trị của Anh, Pháp gặp phải nhiều thách thức, trước hết là của nước Italia phát-xít, sau đó là của nước Đức Quốc xã. Trong giai đoạn ba, trùng với Thế chiến II, bắt đầu là Italia rồi đến Đức đều bị loại khỏi cuộc chơi. Rồi đến lượt Pháp và Anh, cả hai bị kiệt quệ đến nỗi họ không còn giữ được vai trò thống trị lâu hơn nữa. Và từ xa, một cuộc tranh giành mới lại xảy ra giữa hai cường quốc bên ngoài là Liên Xô và Mỹ, bàn cờ chính trị lại một lần nữa bị xáo trộn.

Sau Thế chiên I, khi khói súng của các cuộc chiến và sương mù bao quanh các thương lượng ngoại giao bắt đầu tan đi trên vùng đất Trung Đông thì rõ ràng đã có nhiều thay đổi lớn. Một vài thay đổi đem những hy vọng mới đến cho người dân đây từ lâu bị các đế quốc Âu châu, cả Đông lẫn Tây thống trị. Trên nước Nga, cách mạng đã làm giảm đi quyền lực từ trung ương, do đó cả vùng Trung Á lẫn vùng Xuyên Caucasia, nhiều chế độ Hồi giáo tự do và dân tộc chủ nghĩa được thiết lập, còn phía Nam cả Anh và Pháp đều hứa hẹn quyền tự chủ dẫn đến độc lập cho các dân tộc A- rập họ vừa tiếp quản. Ngay cả Bắc Phi, vào tháng Mười một năm 1918, các lãnh đạo quốc gia đã tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Tripoli mà người Italia có vẻ sẽ công nhận.

Nhưng những hy vọng ấy đã nhanh chóng tan thành mây khói, vùng Trung Á và Xuyên Caucasia, khi Hồng quân thiết lập lại quyền kiểm soát của Mạc Tư Khoa, các thử nghiệm độc lập trong các nước ở đây cũng cáo chung và các nước này ngoan ngoãn trở lại quỹ đạo của Nga. Còn Tripolitania và Cyrenaica, người Italia cũng chinh phục được các vua chúa địa phương để áp đặt quyền thống trị của mình, cả hai trở thành thuộc địa của Italia rồi hợp nhất lại và mang tên Libya vào tháng Giêng 1934.

Trong vùng Tây Nam châu Á, các hiệp định hoà bình không đáp ứng hết các kỳ vọng của người A-rập, nhưng dù sao cũng là những bước tiến đối với họ. Anh và Pháp tự ý chia cắt vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu không phải thành các thuộc địa và đất bảo hộ như trước kia, mà thành nhiều quốc gia có biên giới và tên nước, và họ cai quản theo quyền uy trị của Hội Quốc Liên để chuẩn bị cho chúng tiến tới độc lập. Trong các quốc gia mới này, họ thành lập những chế độ giống hệt chính quyền ở nước họ. Vùng đất phía Đồng, lúc đầu mang tên Lưỡng Hà, về sau đổi thành Iraq, trở thành một vương quốc dưới quyền uỷ trị của Anh, đứng đầu là vua Faysal, một người con của Giáo trưởng Husayn. Vùng đất phía Tây, trước kia mang tên là Syria hay Cận Đông thì nay bị chia cắt thành nhiều mảnh, vùng Bắc và Trung tâm do Pháp cai trị, vùng Nam mang tên Palestine do Anh quản lý. Sau nhiều thử nghiệm, người Pháp chia vùng đất uỷ trị của mình thành hai nước cộng hoà, một nước lấy tên là Liban còn nước kia giữ nguyên tên Syria. Cũng tương tự như vậy, người Anh cắt đất mình cai trị thành hai khu vực: về phía Đông là một tiêu vương quốc A-rập mang tên Xuyên Jordan do Abdallah, một người con khác của Husayn đứng đầu, còn vùng đất phía Tây do người Anh cai trị trực tiếp và vẫn giữ tên Palestine.

Trong vùng Arabia, mọi việc lại tiến triển theo một cách khác. Ngoại trừ thuộc địa và đất bảo hộ của Anh quốc tại Aden trên mỏm Tây Nam và các tiểu vương quốc trong Vịnh Péc-xích có chịu sự kiểm soát của Anh những thời điểm và với mức độ khác nhau, thì toàn bán đảo thật sự có độc lập. Phát triển quan trọng nhất là đợt bành trướng lần thứ hai và có hiệu quả nhất của giáo lý Wahhab và của dòng họ Saud, công cụ truyền bá của giáo lý ấy. Khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1914, người đứng đầu dòng họ lúc ấy, Abd al- Aziz ibn Saud, đã mở rộng quyền cai trị của mình rất nhiều về phía Đông Arabia và nhờ người Anh giúp đỡ chống quân Thổ. Sau chiến tranh, ông vẫn tiếp tục đi chinh phục, đánh chiếm và sáp nhập nhiều đất đai Bắc và Nam Arabia, các vua chúa ở đây đều bị ông phế truất hay trục xuất.

Vì biết rằng đế quốc Anh quan tâm nhiều đến các vùng Đông và Đông Nam Arabia, ông không hề đụng đến các tiểu vương quốc trên mặt Đông nhưng tập trung lực lượng để xâm chiếm các vùng Tây và Tây Nam Arabia, ở đây ông chỉ còn hai đối thủ quan trọng. Đó là Vương quốc Hijaz của Husayn, người hùng trong cuộc nổi dậy của dân A-rập chống lại Thổ Nhĩ Kỳ và Giáo quốc Yemen nằm ở góc Tây Nam bán đảo.

Năm 1924, Ibn Saud phát động chiến dịch đánh Hijaz. Cuối năm 1925, ông chiếm được Mecca, Medina, Jedda và vua Husayn phải thoái vị, nhường ngôi cho con là Ali, nhưng Ali rồi cũng phải đi biệt xứ. Ngày 8 tháng Giêng 1926, Ibn Saud lên ngôi quốc vương Hijaz và đồng thời là Vua Sultan của Najd. Danh hiệu này ông giữ cho đến tháng Chín năm 1932, lúc ấy vương quốc đổi tên thành A-rập Xa-út. Tiếp theo là một giai đoạn củng cố nền hoà bình, vua Ibn Saud ký nhiều hiệp ước thân thiện với Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq và cuối cùng là với Xuyên Jordan sau khi giải quyết xong nhiều vụ tranh chấp dài ngày và mãnh liệt.

Mùa xuân năm 1934 lại nổ ra một cuộc chiến với Yemen. Dù cho người A-rập Xa-út có khả năng giành chiến thắng, nhưng Ibn Saud vẫn phải ký một hiệp ước hoà bình với sự hoà giải của người Anh, ông thêm được đất đai khi vạch lại biên giới nhưng phải để cho Yemen độc lập.

Đến cuối năm 1918, cả Thổ Nhĩ Kỳ và Iran là hai nước mà trong nhiều thế kỷ cùng nhau chia sẻ bá quyền trong vùng, thì lúc này lại đang có nguy cơ bị mất quyền độc lập. Đế quốc Ottoman bị ngã gục sau khi thua trận, thủ đô Istanbul bị chiếm đóng, toàn bộ lãnh thổ bị các nước chiến thắng cùng chư hầu của họ tranh nhau xâu xé. Còn Iran thì dù là trung lập, nhưng đã là bãi chiến trường giữa các quốc gia tham chiến, quân đội ngoại quốc như Thổ, Nga, Đức, Anh nhởn nhơ hoạt động trên đất nước này mà không thèm đếm xỉa đến tính trung lập của nó. Mọi việc có vẻ như số phận của hai quốc gia này cũng chẳng hơn gì nhiều nước Á Phi đang bị các cường quốc Âu châu o ép.

Thật ra, cả hai nước, bằng những con đường khác nhau đã tránh được số phận ấy. Một sự đổi thay bắt đầu xuất hiện năm 1919, khi một sĩ quan Thổ tên là Mustafa Kemal, về sau mang danh hiệu Ataturk, tổ chức và lãnh đạo một phong trào kháng chiến ngay tại trung tâm Anatolia chống lại quân ngoại xâm. Sau một loạt chiến thắng vang dội, ông đuổi hết quân đội nước ngoài ra khỏi bờ cõi, xoá bỏ hiệp ước hoà bình khắt khe mà quân chiến thắng đã áp đặt lên chính phủ hoàng gia và cũng vì chính phủ này không chịu đi theo các lực lượng cách mạng mới, ông bãi bỏ đế chế và tuyên bố thành lập một nước cộng hoà. Dưới sự lãnh đạo của Ataturk, nền cộng hoà thực thi một chương trình hiện đại hoá sâu rộng và toàn diện và - lần duy nhất trong thế giới Hồi giáo - cũng là một chương trình thế tục hoá.

Cũng trong năm 1919, một hiệp ước ký kết giữa Anh quốc và Iran công nhận quyền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Iran nhưng đồng thời cũng cho Anh nhiều quyền lợi. Quốc hội Iran không chịu thông qua bản hiệp ước ấy và tình hình lại trở nên phức tạp khi cường quốc Nga, lần này là chính quyền Bôn-sê-vích lại xuất hiện trên miền Bắc Iran. Sau một giai đoạn hỗn loạn, một sĩ quan của lữ đoàn Cossack tên là Reza Khan, lên nắm chính quyền vào tháng Hai năm 1924, thành lập một chế độ độc tài, rồi vào năm 1925, ông củng cố thêm quyền lực bằng cách phế truất hoàng đế để tự mình lên ngôi Hoàng đế Shah. Triều đại do Reza Shah sáng lập, về sau mang tên triều đại Pahlavi, tồn tại đến tận năm 1979, khi bị cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran lật đổ. Cũng như Ataturk, Reza Shah theo đuổi một chính sách tập trung hoá và hiện đại hoá, nhưng khác với người Thổ, ông không hề tách Hồi giáo khỏi nhà nước.

Các quốc gia Hồi giáo độc lập chỉ còn tồn tại được trong ba vùng của Trung Đông. Trong một thời gian, quyền thống trị của hai nước Anh và Pháp có vẻ vững vàng, nếu có bị đe dọa thì cũng là do các mối hiềm khích giữa hai cường quốc ấy đem lại mà thôi. Nhưng giữa hai Thế chiến, quyết tâm thống trị của họ bắt đầu bị lung lay. Do kinh tế bị đình đốn và tinh thần bị suy giảm, họ không còn giữ được ý chí tự tin và sức mạnh như những người đi trước họ trong công cuộc xây dựng đế quốc.

Sự do dự của các cường quốc lại đi đôi với quyết tâm vùng lên của những dân tộc bị trị. Vào đầu thế kỷ XX, bằng cách chiến thắng nước Nga, người Nhật đã cho thấy sức mạnh của một nền dân chủ lập hiến đi kèm theo một chính sách hiện đại hoá công nghệ; ngày nay, khi thoát khỏi các áp đặt của những kẻ thắng trận, người Thổ lại chứng minh một cách hùng hồn hiệu lực của chủ nghĩa dân tộc. Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal đã tiến hành thắng lợi một cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa trong một nước Á Phi; chiến thắng và sự đương đầu thành công của họ trước những nước Đồng minh thắng trận đã mang lại một niềm hy vọng mới cho người Hồi giáo và cả cho các dân tộc khác vì đây là lần đầu tiên họ đối mặt và chiến thắng phương Tây bằng cách sử dụng các vũ khí của chính phương Tây. Trước mắt thì công cuộc hiện đại hoá của nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ cũng như của đế quốc Ottoman Hồi giáo trước đây có vẻ như là một ngọn đuốc dẫn đường cho toàn thế giới Hồi giáo. Nhưng không phải đó là điều mà Kemal Ataturk muốn thực hiện. Ông xoá bỏ vị trí hàng đầu của đạo Hồi, thế tục hoá nhà nước và pháp luật, hằng tuyên bố ý đồ cho Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào khối các nước Âu châu; tất cả đều làm cho nhiều người Hồi giáo tức giận, mặc dù trước đó họ hoan nghênh các thắng lợi của ông.

Trong hầu hết các nước A-rập, bạo động xảy ra liên tục chống lại những người chủ mới chứng tỏ rằng một chính sách cai trị trực tiếp giản đơn không thể thực hiện được. Trong khí ấy thì các nước có quyền uỷ trị lại tìm cách đi đến mục tiêu của mình bằng cách cai trị gián tiếp thông qua những chính phủ của người A-rập. Họ còn cho các nước uỷ trị được hưởng ít nhiều quyền độc lập và ký kết những thỏa ước nhằm duy trì vị trí ưu đãi của họ kể cả quyền được đóng quân trên lãnh thổ quốc gia của các nước ấy.

Nhưng chính sách này cũng bị thất bại. Các nhượng bộ mà các cường quốc uỷ trị chấp thuận trước các phần tử quốc gia đều quá ít và quá chậm để có thể thoả mãn các yêu cầu của họ. Khi có các thoả ước, thì hoăc là ký kết với những chính phủ không có sự ủng hộ của các phần tử chính trị tích cực hay vì bị bắt buộc do phải đối phó với những hiểm họa chung đến từ bên ngoài. Thí dụ như Hiệp ước Anh-Ai Cập ký năm 1936 được ký kết trong lúc quân Italia đang xâm lăng Ethiopia và đe dọa cả Anh lẫn Ai Cập.

Sự thất vọng của người A-rập được thể hiện qua hàng loạt các phong trào quốc gia manh động. Cuộc chiến đấu của họ khá gay go và dai dẳng nhưng nhìn chung đều đi đến thắng lợi, ít ra cũng đạt được các mục tiêu chính trị. Ai Cập và Iraq nhanh chóng giành được độc lập trên danh nghĩa, chế độ bảo hộ Ai Cập và uỷ trị ở Iraq chính thức chấm dứt. Nhưng người Anh vẫn tiếp tục có mặt ở các nước này với các căn cứ của Không quân Hoàng gia tại Iraq và các doanh trại Lục quân trên vùng kênh đào và nhiều nơi khác ở Ai Cập. Các phong trào quốc gia vẫn tiếp tục đấu tranh để biến độc lập hình thức thành độc lập thật sự với sự triệt thoái của các lực lượng quân sự nước ngoài và sự huỷ bỏ các hiệp ước bất bình đẳng.

Trong vùng Cận Đông, hệ thống uỷ trị được kéo dài lâu hơn. Người Pháp tiếp tục ở lại Syria và Liban, người Anh thì cai trị trực tiếp Palestine, mặc dù có dành cho tiểu vương Xuyên Jordan nhiều quyền tự trị hơn trước.

Trong cả hai khu vực này, nhiều yếu tố gây phức tạp lại xuất hiện. Liban là một trường hợp đặc biệt trong số các tân quốc gia hình thành từ các mảnh vỡ của đế quốc Ottoman ở châu Á. Không như các quốc gia khác, nó không phải một nước mới được tạo ra mà đã có một bản sắc lịch sử có nguồn gốc sâu xa, với một truyền thống độc lập tự chủ vững chắc, nhiều khi trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thí dụ như trong các thế kỷ bị Ottoman đô hộ. Người Pháp đã tạo ra một nước “Đại Liban” bằng cách sáp nhập vào đất Liban cũ nhiều vùng phụ cận, những vùng núi non nằm sát nó. Nước Liban cũ, nơi người Cơ Đốc giáo và người Hồi giáo không phải Sun-ni sinh sống là chính, đã từ lâu là đất dung thân của những ai muốn tìm một chế độ độc lập trên các mặt xã hội, tri thức và ngay cả chính trị trong thế giới Ottoman, về phía Bắc Beirut, các nông gia Cơ Đốc đã thành lập một cộng đồng duy nhất của các tiểu điền chủ trong khắp vùng Trung Đông, và trong thế kỷ XIX tại cảng Beirut và những vùng phụ cận đã có một tầng lớp tư sản giàu có làm ăn sinh sống. Năng lực và tài năng của họ đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc hồi sinh của người A-rập trên các mặt chính trị, tri thức và cả kinh tế nữa. Nếu sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo đã làm giảm đi rất nhiều vai trò của người Cơ Đốc giáo, thì trong một thời gian dài, Liban vẫn giữ chức năng độc đáo của mình như một trung tâm duy nhất còn sót lại của một chế độ đa nguyên về văn hoá và tôn giáo và một vùng đất của tự do kinh tế và chính trị trong thế giới A-rập.

Nếu Liban với tư cách là một thành trì của Cơ Đốc giáo trong thế giới A- rập Hồi giáo là một ngoại lệ, thì chỉ một khoảng cách ngắn về phía Nam, một ngoại lệ còn kỳ lạ hơn nữa cũng đã được hình thành. Từ thời tiền sử, người Do Thái đã sinh sống ở Palestine, nhưng đến cuối giai đoạn La Mã chiếm đóng, họ không còn chiếm đa số trong dân chúng đây nữa. Thỉnh thoảng số dân Do Thái ở đây có tăng lên nhờ những đợt nhập cư có tính chất tôn giáo. Đến những năm cuối thế kỷ XIX, một yếu tố hoàn toàn mới lạ làm thay đổi tình hình đây, đó là việc có rất nhiều thanh niên Do Thái từ Đông Âu đến định cư ở Palestine. Động cơ của họ là chủ nghĩa Xi-ôn-nít, một phong trảo một phần xuất phát từ các truyền thống Do Thái, phần khác nó thể hiện cách làm của người Do Thái khi đi theo những ý tưởng mới của chủ nghĩa dân tộc lúc ấy đang thịnh hành và cũng vì họ ngày càng bị thúc đẩy bởi nhu cầu phải tìm ra một giải pháp để đối phó với sự ruồng bỏ và truy hại mà họ phải chịu đựng châu Âu rồi sau đó Trung Đông. Các khu định cư mà họ và những người kế tục họ xây dựng nên sẽ là những hạt nhân của quốc gia Israel về sau.

Cuối Thế chiến I, cộng đồng Do Thái, cả cũ và mới đã khá đông đảo và qua Tuyên bố Balfour tháng Mười một năm 1917, chính phủ Anh quốc đã công nhận chính thức phong trào Xi-ôn-nít bằng cách ủng hộ một kế hoạch mơ hồ nhằm thành lập một “Quê hương Quốc gia” cho người Do Thái. Lời hứa này được chép nguyên văn vào văn bản của Hội Quốc Liên khi giao quyền uỷ trị Palestine cho nước Anh. Lời hứa này cũng như việc thực hiện nó đã làm cho người A-rập càng kiên quyết đấu tranh chống lại quyền uỷ trị của người Anh và sự hiện diện của người Do Thái.

Từ những năm 1930, quyền thống trị của phương Tây trên đất Trung Đông vấp phải một loại chống đối mới, không phải từ sự nổi dậy của dân bản xứ mà từ hai đối thủ mới cũng muốn xây dựng quyền lực đế quốc đây: đó là nước Italia Phát xít và nước Đức Quốc xã.

Trong thập ky 1930, các định chế tự do và lập hiến không còn có sức hấp dẫn như trước nữa trong vùng Trung Đông. Cũng không có gì làm lạ nếu chúng không phát huy được hết hiệu lực. Chỉ giới hạn trong số một thành phần cao sang nhỏ bé đã được Âu hoá, chúng thật sự không có hậu thuẫn của xã họi nói chung. Cả trong quan điểm và trong hình thức, chúng rất xa lạ đối với quần chúng và do đó không có hiệu quả trên bất cứ lĩnh vực nào; chúng không gợi được cho người dân các hình ảnh của quá khứ, không đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại và cũng không mở ra những triển vọng cho tương lai. Còn tệ hơn nữa là trong ý thức của đa số người A-rập, chúng gắn liền với các thế lực Tây Âu đáng nguyền rủa.

Đức và Italia đưa ra một chọn lựa khác rất hấp dẫn. Cả hai đều là những đất nước gần đây mới thực hiện được thống nhất bằng cách giải phóng rồi liên kết nhiều quốc gia nhỏ bé. Tấm gương của họ đáng gây cảm hứng cho các nhà lãnh đạo những dân tộc đang đứng trước những khó khăn cần được giải quyết một cách tương tự. Hơn thế nữa, hai nước ấy lại đang là đối thủ trên tất cả các mặt chính trị, chiến lược và ý thức hệ của Anh, Pháp và của người Do Thái đang lấn tới ở Palestine.

Ngay từ năm 1933, khi Hitler mới lên nắm quyền, vị Giáo trưởng Hồi giáo thành Jerusalem do người Anh bổ nhiệm là Haj Amin al-Husayni đã tiếp xúc với viên Lãnh sự Đức ở đây để nói lên sự hậu thuẫn của ông và cam kết giúp đỡ. Sau nhiều năm đấu tranh không khoan nhượng chống người Anh và người Do Thái, giáo trưởng rời Palestine để đến Berlin năm 1941 sau khi dừng chân ở nhiều nơi như Beirut, Baghdad và Tehran. Điểm dừng chân quan trọng nhất là Baghdad, vì ở đây, vào tháng Tư năm 1941, một chính trị gia tên là Rashid Ali al-Gaylani lên nắm quyền với sự hậu thuẫn của quân đội, rồi thành lập một chế độ thân phe Trục. Mặc dù nhận được giúp đỡ từ Syria, lúc ấy thuộc quyền chính phủ Vichy, nhưng các nước phe Trục cũng không cứu được Rashid Ali, và chế độ của ông về sau bị người Anh và quân đội do Anh chỉ huy lật đổ. Một uỷ ban được thành lập ở Syria để huy động quần chúng ủng hộ chế độ của Rashid Ali. Uỷ ban này sẽ là nòng cốt của Đảng Bath trong tương lai, đảng này có hai nhánh chống đối nhau lên nắm quyền ở Syria và Iraq.

Rashid Ali cũng phải chạy trốn, rồi đến Berlin hợp lực với Giáo trưởng al-Husayni. Trong số những người mà trong những năm chiến tranh ủng hộ hay có cảm tình với phe Trục, nhiều người đã trở nên nổi tiếng. Nasser tỏ ra có cảm tình với nước Đức, và khi Đức thua trận, ông rất thất vọng. Còn trong hồi ức của mình, Sadat tự nguyện tham gia làm gián điệp cho Đức. Trong nước Iraq của Saddam Hussein, Rashid Ali được làm sống lại như một vị anh hùng dân tộc.

Khi nhìn thoáng qua, mối cảm tình này đối với chế độ Quốc xã cũng thật là kỳ lạ. Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của đảng Quốc xã khó lòng thuyết phục một dân tộc mà theo thuyết khoa học giả vờ của Quốc xã lại là một chủng tộc thấp hèn. Luận điệu tuyên truyền của Quốc xã khi chỉ đặc biệt chống Do Thái hơn là chống người, gốc Xê-mít thì được hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng chính các đàn áp người Do Thái nước Đức và các nước khác phụ họa với Đức đã là động lực thúc đẩy người Do Thái di cư đến Palestine làm cho cộng đồng Do Thái lớn mạnh hơn trước rất nhiều. Đảng Quốc xã không những chỉ là nguyên nhân của cuộc di dân này, mà cho đến trước khi chiến tranh bùng nổ, họ còn khuyến khích và tạo điều kiện cho nó phát triển trong khi người Anh thì hạn chế di dân cốt để lấy lòng người A-rập. Tuy nhiên, nhiều người A-rập lại ủng hộ người Đức đang đẩy người Do Thái đến Palestine và chống lại người Anh đang ngăn không cho họ vào đây.

Các nước thuộc phe Trục tìm đủ mọi cách để giành thắng lợi qua các tình cảm này. Ban đầu là nước Italia Phát xít rồi đến nước Đức Quốc xã đã có những kế hoạch tuyên truyền rộng lớn và thâm nhập sâu xa vào thế giới A-rập, gây được nhiều tiếng vang trong một thế hệ mới các nhà lý luận và các nhà hoạt động chính trị. Đặc biệt là người Đức Quốc xã qua các tuyền truyền căm thù người Do Thái đã có thể khai thác một vấn đề mà chính họ là người gây ra chủ yếu.

Trong một chừng mực nào đó thì việc nghiêng về phe Trục cũng chỉ có tính chất ứng phó trước cho tương lai. Trong những năm đầu của Thế chiến II, và đặc biệt là hai năm 1940-1941, giữa cuộc chiếm đóng nước Pháp và xâm lăng nước Nga, chỉ còn nước Anh trên chiến luỹ, ai ai cũng tưởng chiến thắng của phe Trục là tất yếu, mối thận trọng sơ đẳng chỉ định cho người ta phải mở đường tiếp xúc với những người thắng trận; hơn nữa Trung Đông, ít ai lại cảm thấy mình phải trung thành với các đế quốc đang thống trị. Vì vậy mà ngay những chính khách được xem — hay bị lên án - là thân phương Tây như Nahas Pasha ở Ai Cập hay Nuri al-Said Iraq và Ibn Saud ở Arabia, tất cả đều tìm cách tiếp cận Berlin. Nhưng họ không thành công vì người Đức Quốc xã đã nhận được nhiều đề nghị giúp đỡ đến nỗi họ cảm thấy nhận thêm những đề nghị này cũng chẳng ích lợi gì. Việc ủng hộ phe Trục một phần cũng xuất phát từ hệ tư tưởng nhưng chủ yếu là từ một nguyên tắc cổ xưa vẫn còn có hiệu lực là “kẻ thù của kẻ thù của mình là bạn của mình”. Sự hấp dẫn chính của phe Trục là nó là kẻ thù không đội trời chung của phương Tây. Mãi về sau, có một cường quốc khác cũng gây hấp dẫn một cách tương tự, đó là Liên Xô, đã được ủng hộ rất nhiều, đôi khi cũng từ những người ủng hộ phe Trục trước đây.

Cuối cùng thì cả hai phe trong Thế chiến II đều làm cho những người ủng hộ mình ỏ Trung Đông bị thất vọng và ngược lại cũng đúng. Ca hai phe đều muốn có sự giúp đỡ trên mặt quân sự. Quân đoàn A-rập của Xuyên Jordan đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lật đổ Rashid Ali và duy trì quyền lực của Đồng minh ở Trung Đông. Người Đức cũng lập một đạo binh tình nguyện trong các “Quân đoàn Phương Đông” một phần lấy từ các tù binh của phe Đồng minh như người Bắc Phi thuộc Pháp, người Ấn Độ thuộc Anh, lính nghĩa vụ trong Hồng quân có nguồn gốc ở Trung Á và tại các nước Cộng hoà Xuyên Caucasia, phần còn lại là những người tình nguyện trong đám dân Trung Đông sống ở các nước châu Âu bị Đức chiếm đóng. Nhưng tất cả các đạo quân này đều không có ý nghĩa gì to lớn lắm. Cũng có một lữ đoàn Do Thái tuyển mộ trên đất Palestine, dù chính phủ Anh không thích thú lắm, lữ đoàn này đã tham gia vào các chiến dịch Bắc Phi và Italia, nhưng về mặt quân sự, nó cũng không quan trọng lắm.

Đóng góp quan trọng nhất của các nước Trung Đông cho phe Đồng minh là cho phép sử dụng lãnh thổ, tài nguyên và các phương tiện của mình. Phần lớn là các nước ấy vẫn giữ những nơi đóng quân có từ thời bảo hộ và uỷ trị. Ở Iran thì quân đội Anh và Nga đồng loạt tấn công vào nước này năm 1941 rồi thiết lập các căn cứ quân sự. Chỉ riêng Thổ Nhĩ Kỳ là có thể duy trì tính trung lập của mình cho đến những tuần cuối của cuộc chiến, khi chính phủ Thổ cũng tuyên chiến cốt để có một chỗ đứng bên cạnh các nước thắng trận, về sau, một chính khách Thổ đã tuyên bố: “Chúng tôi muốn có tên trong danh sách khách mời chứ không phải trên thực đơn”.

Kết quả chung cuộc cũng không cho các dân tộc và các chính phủ Trung Đông nhiều hy vọng hơn. Người Đức đã làm cho những người A-rập đi theo họ phải vỡ mộng. Họ tuyên bố rất nhiều, nhưng chỉ là những lời nói suông, còn lâu mới đáp ứng được các kỳ vọng của người A-rập. Người Đức Quốc xã chủ yếu nhắm về châu Âu, nên không quan tâm gì đến Trung Đông, đôi khi họ cho thấy sẵn sàng hy sinh những người theo đuổi mình trong vùng này để thoả mãn bạn bè của họ ở châu Âu như nước Italia Phát xít, nước Pháp của chế độ Vichy, và từ tháng Tám năm 1939 đến tháng Sáu năm 1941, Liên bang Xô Viết.

Dù có những hứa hẹn trao độc lập và rút quân, nhưng khi chiến tranh kết thúc, quân Đồng minh vẫn còn đầy rẫy trong các nước A-rập. Trong một vài nước Bắc Phi, chế độ thuộc địa vẫn còn tồn tại; trong những nước khác thì chính phủ đương quyền, mặc dù bị Đồng minh nghi ngờ nhưng vẫn bị dân chúng xem là bù nhìn của Đồng minh. Ngay cả người Do Thái Palestine, dù rõ ràng không hề có cảm tình với Đệ Tam Đế chế Quốc xã nhưng vẫn bị các nhà cầm quyền hành hạ qua các nỗ lực của người Anh trước và sau khi chiến tranh kết thúc để ngăn chặn không cho những người Do Thái châu Âu còn sống sót đặt chân được lên bờ biển Palestine.

Trong chiến tranh, có hai lời thỉnh cầu nhiều lần được đề đạt lên các phe tham chiến: đó là thỉnh cầu của các tổ chức Do Thái ở Luân Đôn và Washington đề nghị chính phủ họ cho ném bom trại tập trung Auschwitz, và thỉnh cầu của Văn phòng Giáo trưởng Hồi giáo đặt tại Berlin đề nghị Chính phủ Đức ném bom Tel Aviv. Nhưng cả hai đều không được chấp nhận - không phải vì bên này hay bên kia tàn ác hay nhân đạo — mà chỉ do cùng một lý do cơ bản: làm như vậy sẽ không phục vụ các mục tiêu quân sự và đóng góp trực tiếp cho chiến thắng. Do đó, các cuộc ném bom ấy trên mặt thuần tuý quân sự, không tương xứng với các rủi ro và các phí tổn phải gánh chịu.

Cả hai phe trong vùng Trung Đông đều ít có lý do để hài lòng trong các năm chiến tranh từ 1939 đến 1945. Mặc dù phe Trục có nhiều cố gắng và có nhiều người theo họ nhưng sự hưởng ứng của quần chúng khá yếu ớt. Những lợi lộc cụ thể mà họ thu được là một vài cơ sở hạ tầng trong nước Syria do chế độ Vichy chiếm đóng và cuộc đảo chính thân phe Trục Iraq năm 1941. Nhưng cả hai đều không có ảnh hưởng lâu dài. Cố gắng của người Anh để giành được tình hữu nghị với những người A-rập theo dân tộc chủ nghĩa thì còn gặp nhiều thất bại hơn nữa, cùng lắm là quân Đồng minh nhận được một sự trung lập miễn cưỡng vì có sự hiện diện quân sự ồ ạt của họ mà thôi. Việc bảo vệ Ai Cập chống quân Italia rồi sau đó chống quân Đức được giao phó cho các lực lượng của Anh; việc giải phóng Bắc Phi do người Mỹ đảm đương.

Lại một lần nữa, cũng giông như trong các giai đoạn trước đây, việc tham gia vào một cuộc chiến lớn đã mang lại một sự thay đổi nhanh chóng và sâu xa. Các nhà tuyên truyền của cả hai phe Trục và Đồng minh đua nhau khích động các phong trào dân tộc. Các lực lượng của hai phe đóng quân và chiến đấu trên đất A-rập, mang theo họ những mối căng thẳng và những rạn nứt thường đi theo một cuộc chiêh hiện đại. Lúc này, nhiều quốc gia A-rập đã có được quyền độc lập nhiều hay ít và bắt đầu theo đuổi những chính sách ngoại giao riêng của họ. Liên đoàn A-rập thành lập năm 1945 bao gồm các quốc gia A-rập có chủ quyền trong vùng Trung Đông để cùng nhau thực hiện các mục tiêu chính trị chung của họ. Ban đầu, đó là một tổ chức do người Anh bảo trợ, nhưng nó đã nhanh chóng cắt hết mọi sợi dây điều khiển của Anh để phát triển theo các mục tiêu nhiều khi khá mâu thuẫn với nhau của các quốc gia thành viên.

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của thế kỷ XIX trong vùng Trung Đông là việc phát hiện, khai thác và sử dụng dầu mỏ. Lần đầu tiên, vào năm 1842, trong vùng bán đảo Apsheron do Nga chiếm đóng, một mũi khoan dầu đã khởi động cả quá trình này. Việc phát triển công nghiệp dầu khí ở Azerbaijan thuộc Nga cũng gần như cùng thời với chương trình khai thác của Mỹ ở Pennsylvania. Nhà máy lọc dầu đầu tiên được xây dựng ở Baku năm 1863 và một đường ông dẫn dầu từ các mỏ Apsheron đến Baku xuất hiện vào năm 1877-1878. Trước cuộc Cách mạng Nga, các mỏ dầu ở Baku cung cấp đến 95% dầu tiêu thụ trong nước, về phía Nam, trên các vùng đất Iran và Ottoman còn độc lập, các nhà kinh doanh Âu Mỹ lần đầu tiên tìm cách có được nhượng quyền khai thác. Vào đầu thế kỷ XX, nhượng quyền khai thác đầu tiên quan trọng nhất là do hoàng đế Iran cấp cho một doanh nhân người Anh - nói đúng hơn là người New Zeland - ông William Knox d’Arcy. Nhượng quyền này về sau được Công ty Dầu mỏ Anh - Ba Tư (sau này đổi tên là Công ty Anh - Iran) mua lại. Đây là hợp đồng đầu tiên trong hàng loạt các hợp đồng mà các công ty được nhượng quyền, phần lớn là của Anh, Pháp, Hà Lan và Mỹ, ký kết với các chính phủ Trung Đông để khai thác và trả tiền thuê mỏ. Lần đầu tiên ở Iran, tiếp đến là ở Iraq, rồi sau Arabia và nhiều nơi khác, các mỏ dầu lớn được phát hiện làm cho Trung Đông trở thành một trong những vùng sản xuất dầu lớn nhất thế giới.

Sự phát triển này ảnh hưởng đến các nước Trung Đông bằng nhiều cách. Động cơ đốt trong được đưa vào sử dụng đã làm thay đổi hệ thông giao thông trên đất liền. Ngày nay, người ta có thể nối liền các trung tâm đô thị quan trọng, chuyên chở hành khách, vật dụng, sách báo, trao đổi các tư tưởng trên một quy mô và với một tốc độ mà trước đây không ai ngờ tới. Việc thay thế trên một diện rộng lừa, ngựa, lạc đà bằng các loại ô tô như xe buýt, xe tải cộng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng và sự quảng bá những phương tiện truyền thông của phương Tây khác như sách báo, điện ảnh, truyền thanh và truyền hình đã mang đến những biến đổi sâu xa trong xã hội mà ai ai cũng thấy rõ.

Người ta có thể tự hỏi là hai nước Anh và Pháp muốn gì Trung Đông và họ đã thu được những gì? Ngày nay, theo quan điểm chung, người ta cho rằng động lực chính dẫn hai cường quốc ấy đến Trung Đông và duy trì sư hiện diện của họ ở đấy trong hơn một phần tư thế kỷ chính là yếu tố chiến lược, là mối quan tâm đến những tiềm năng và những hiểm nguy của vùng Trung Đông trên mặt quân sự. Người ta đã sử dụng rất nhiều hình ảnh để mô tả tính chất của mục tiêu chiến lược này: Trung Đông là một vùng đệm, một giao điểm, một tiêu điểm về giao thông, một cứ điểm về quân sự. Một mục tiêu chiến lược hiển nhiên là ngăn cấm các cường quốc khác xâm nhập vào Trung Đông và đối với cả Anh và Pháp còn là việc bảo vệ các thuộc địa khác của họ giàu có hơn, Anh thì quan tâm đến việc bảo vệ Ấn Độ và Pháp lại là Bắc Phi. cả hai nước đều cảm thấy cần bảo vệ những thuộc địa ấy khỏi các lực lượng gây rối đến từ Trung Đông Hồi giáo, nghĩ như thế cũng không phải là không có cơ sở, muớrì vậy thì các đế quốc thuộc địa phải kiểm soát kỹ các quốc gia và các dân tộc trong vùng này hay ít ra cũng phải duy trì ảnh hưởng ở đây.

Đương nhiên là cũng còn những yếu tố khác. Những người tán tụng sự hiện diện của Pháp thường đề cao sứ mạng văn hoá và tôn giáo của Pháp như việc bảo vệ các thiểu số Cơ Đốc và đặc biệt là các nhóm Công giáo đây cũng như việc quảng bá nền văn hoá Pháp. Người Anh thì ít nói đến những lý do ấy.

Trái với quan niệm người ta thường có về chủ nghĩa đế quốc, các động cơ kinh tế đây lại không quan trọng lắm và ít ai hy vọng là kiếm được những lợi lộc về kinh tế. Trái lại, cả Anh và Pháp đều có vẻ quan tâm đến những chi phí tài chính, nghĩa là đến cái giá khá cao phải trả để đạt được những mục tiêu chiến lược và chính trị hằng mong muốn, cả hai nước đều muốn giữ cho cái giá ấy càng thấp càng tốt. Mãi về cuối giai đoạn này thì dầu mỏ mới trở thành một yếu tố có ý nghĩa, ngay lúc ấy nó cũng chưa quan trọng như về sau. Trong giai đoạn giữa hai Thế chiến, dầu mỏ vừa có giá trị chiến lược vừa có giá trị kinh tế.

Khi nhìn lại quá khứ, ta thấy vị trí của cả Anh và Pháp ở Trung Đông có những điểm yếu cơ bản. Họ không muốn chịu phí tổn cao để duy trì quyền lực và cũng không muốn dùng sức mạnh để chiến thắng những người chống đối. Ca Anh và Pháp đều tỏ ra do dự, thiếu quyết đoán và nhu nhược. Ngay từ lúc đầu, họ nghi ngờ về tính khả thi cũng như về giá trị của cả công cuộc này. Winston Churchill được ghi lại là đã khuyên nên trả toàn bộ vùng này về cho người Thổ, điều mà chắc chắn là nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ sẽ từ chối không dám nhận.

Khi vị trí của Anh và Pháp ở Trung Đông bị yếu dần đi thì chỗ đứng của họ còn bị nhiều thế lực thù địch khác đe dọa, đó là những quốc gia và những chế độ mang trong mình một hỗn hợp đặc biệt gồm lòng tham lam, tính tàn nhẫn và sự tự tin thường là đặc trưng của những đế quốc thực dân, mà nay người Anh và người Pháp không còn nữa, thay vào đấy ở họ lại là tính mệt mỏi, lòng chán ngấy và sự mất lòng tin. Trong một thời gian, cả hai đều biết rõ bên này đe dọa bên kia ở những chỗ nào. Nhưng cả hai lại tỏ vẻ yếu ớt và do dự khi phải đối phó với những thử thách khác còn quan trọng hơn, đến từ những lực lượng trong vùng muốn lật đổ họ hay từ những cường quốc bên ngoài muốn thay thế họ.

Vị trí của Anh và Pháp lại càng suy yếu thêm vì luôn luôn có những gây gổ hay chỉ là châm chọc nhau. Việc này xảy ra ở mọi cấp và theo nhiều kiểu cách: Anh và Pháp chống lại những nước khác, Anh và Pháp chống nhau, Anh và Pháp lủng củng trong nội bộ mỗi nước, lại còn rất nhiều cãi cọ thường xuyên giữa chính quốc và nhà cầm quyền địa phương, giữa các giới hành chính, các sở các ngành phân chia theo nguồn gốc xã hội với những quyền lợi và mục tiêu mâu thuẫn nhau, tóm lại là tất cả những gì làm chậm hay làm trệch hướng cái mà ngày nay người ta gọi là quá trình ra quyết định.

Đế quốc Ottoman đã mang đến cho vùng Trung Đông một cơ cấu cùng một bức tường bảo hộ không để cho nó chịu tác động của các hiểm họa đến tà bên ngoài. Bây giờ thì tất cả đều mất hết. Cơ cấu cũng như hệ thống chính quyền Ottoman đều bị thay thế bằng những cơ cấu và hệ thống mới không có hiệu quả và cuối cùng bị vỡ tan. Ngày nay cũng vẫn còn bức tường bảo hộ, nhưng sự bảo hộ ấy lại do các cường quốc Âu châu đảm nhiệm để chống lại lẫn nhau, và người dân ở các nước Trung Đông cũng không cảm thấy yên tâm hơn.

Vậy thì kết quả chung cuộc của một bên là hai nước Anh và Pháp và bên kia là các dân tộc vùng Trung Đông là những gì? Giai đoạn cầm quyền của hai nước Anh và Pháp ở Trung Đông đã thực hiện được những gì trước khi nó kết thúc một cách thảm hại sau một chiến thắng quân sự lừng lẫy nhất của lịch sử hiện đai? Có những gì thực hiện được mà có ít nhiều giá trị cho bản thân các cường quốc Âu châu hay cho vùng Trung Đông và người dân sống đây?

Tại thời điểm này, ta chỉ có thể đưa ra những câu trả lời giả định và có tính sơ bộ cho những câu hỏi ấy. Nhìn chung thì các thành qua tích cực nhất có lẽ là trong phạm vi các mục tiêu mà lúc ấy người ta ít chú ý đến nhất: đó là kinh tế và đời sống vật chất. Điều chắc chắn là đối với đa số dân chúng vùng Trung Đông, đời sống vào năm 1939 dễ chịu hơn năm 1918 và ngay cả năm 1914. Mức sống đã được nâng cao cho phần lớn nếu không phải là cho toàn bộ các thành phần dân chúng. Các tiện nghi thì nhiều và phong phú hơn, chưa bao giờ tuổi thọ của con người lại đạt đến mức cao như vậy. Đã có một hạ tầng cơ sở được xây dựng và các dịch vụ đủ loại được cung cấp.

Những lợi ích ấy ít thấy rõ trong vùng Trung Đông hơn là trong các lãnh thổ dưới quyền cai trị trực tiếp của các đế quốc thuộc địa như Ân Độ thuộc Anh và Bắc Phi thuộc Pháp, về mặt này, có thể nói là dân Trung Đông không may phải gánh chịu phần lớn các cực nhọc của chế độ thực dân mà chẳng hưởng được lợi lộc gì hay chỉ hưởng một vài lợi lộc nho nhỏ. Nhưng dù nhỏ thì những lợi lộc này cũng không phải là không đáng kể. Năm 1939, đời sống vật chất của dân vùng Trung Đông khá hơn trước nhiều trên mọi mặt.

Họ cũng tiếp nhận một lợi ích rất quan trọng: đó là tiếng nói - trước đó rất ít người trong vùng biết tiếng Anh và tiếng Pháp ngoại trừ Ai Cập và Liban. Nhờ có các ngoại ngữ ấy mà họ thâm nhập được vào thế giới hiện đại, vào văn hoá và khoa học của thế giới ấy. Việc du nhập khoa học phương Tây, hay nói đúng hơn là khoa học hiện đại, được mọi người công nhận là một điểm tích cực đối với dân chúng trong vùng. Còn khi nói đến nền văn hoá phương Tây, nhất là những hậu quả của nó trên mặt xã hội, thì câu trả lời có thể không thống nhất. Trong khi một số người cực lực hoan nghênh, thì một số khác lại cho là cùng lắm cũng chỉ là một con dao hai lưỡi, còn phần còn lại thì lên án nó như một tai họa thuần tuý.

Giai đoạn thống trị Trung Đông của Anh và Pháp cũng mang đến cho vùng này một nền kinh tế tự do và một chế độ chính trị cởi mở. Quyền tự do bao giờ cũng bị hạn chế và đôi khi bị ngăn cản, nhưng dù sao thì chưa bao giờ người dân ở đây được hưởng đầy đủ quyền tự do như lúc bây giờ, về sau cũng vậy. Bây giờ thì phần lớn các cơ chế theo kiêu Tây phương không còn, không những chúng chỉ bị xoá bỏ mà còn bị lên án nữa. Chỉ mới gần đây mới bắt đầu có sự quan tâm trở lại đến. những tư tưởng và những chính sách tự do, và tại một số nước trong vùng có thể là tình hình mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chúng.

Đối với các cường quốc phương Tây và ngay cả đối với các nước Trung Đông, kết quả tích cực nhất của giai đoạn Anh, Pháp thống trị có lẽ là việc thực hiện được những mục tiêu chiến lược, như ta nhận thấy trong Thế chiến II. Sự giúp đỡ lớn nhất của Trung Đông dành cho phương Tây là việc cung cấp các căn cứ và các cơ sở hậu cần cho nỗ lực chiến tranh của họ chống lại phe Trục. Và để đền đáp lại, phương Tây cũng đã giúp đỡ tối đa cho Trung Đông bằng cách ngăn không cho phe Trục chiếm đóng trực tiếp vùng này.

❀ ❀ ❀

[1] Hikmet Bayur, Turk Inkilabi Tarihi (Istanbul 1940), vol. 1, t. 225.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.