Lịch Sử Trung Đông 2.000 Năm Trở Lại Đây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1 Trước Khi Cơ Đốc Giáo Ra Đời
Chương 1 Trước Khi Cơ Đốc Giáo Ra Đời

❊ ❊ ❊

Trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc giáo, vùng đất mà ngày nay được gọi là Trung Đông đã bị hai đế quốc hùng mạnh tranh giành. Đây không phải là lần đầu cũng chẳng phải lần cuối trong hàng nghìn năm lịch sử của nó. Phần phía Tây gồm những nước quanh Địa Trung Hải, từ eo biển Bosphorus đến đồng bằng sông Nil, thuộc về Đế quốc La Mã. Các nền văn minh cổ ở đây đã suy tàn, các thành thị nay đặt dưới quyền những viên thông đốc La Mã hay các vua chúa thần phục Roma. Phần phía Đông là đất của một đế quốc rộng lớn khác, đế quốc mà người Hy Lạp và sau đó người La Mã gọi là Ba Tư, còn dân bản xứ gọi là Iran.

Bản đồ chính trị của vùng này cả về hình thức bên ngoài lẫn tình hình thực tế đều rất khác với thời hiện tại. Tên nước cũng như biên giới của chúng đều rất khác. Dân chúng cũng không dùng các ngôn ngữ hay theo các tôn giáo như ngày nay. Có một vài ngoại lệ nhưng thật ra chỉ có vẻ bề ngoài chứ không là thực chất vì chúng chỉ biểu hiện một ý chí làm sống lại quá khứ mới phát hiện ra chứ không phải là một sự tồn tại liên tục của những truyền thống cổ xưa.

Bộ mặt vùng Tây Nam Á châu và Đông Bắc Phi châu trong giai đoạn Ba Tư và La Mã tranh giành và thống trị cũng rất khác các đế quốc và các nền văn hoá cổ ở Trung Đông mà phần lớn đã bị các nước láng giềng hùng mạnh hơn chiếm đóng và đồng hoá trước khi bị các đạo quân Macedonia, La Mã hay Ba Tư chinh phục. Trong số các nền văn hoá cổ xưa còn sót lại lúc kỷ nguyên Cơ Đốc bắt đầu và còn duy trì được bản sắc và ngôn ngữ của mình, thì chắc chắn nền văn hoá Ai Cập là lâu đời nhất. Ai Cập được định hình rõ ràng qua địa dư và lịch sử của mình, gồm lưu vực và châu thổ hạ nguồn sông Nil, có các sa mạc ở hai phía Đông Tây và biển phía Bắc. Nền văn minh Ai Cập đã có hàng nghìn năm trước khi bị xâm lược và những người chinh phục dù là Ba Tư hay sau đó là Hy Lạp và La Mã không bao giờ xoá bỏ hoàn toàn được các đặc điểm của nó.

Trong nhiều thiên niên kỷ, tiếng nói và chữ viết Ai Cập đã có nhiều đổi thay nhưng vẫn giữ được một tính liên tục lạ kỳ. Cả hai loại chữ viết tượng hình và sau đó là loại chữ dáng cong gọi nôm na là chữ thông dụng đều còn tồn tại trong thời đại Cơ Đốc. Về sau xuất hiện chữ Cốp-tơ (Copt), loại chữ cổ Ai Cập cuối cùng, có sử dụng những chữ cái Hy Lạp cải biên và có thêm 7 chữ cái thông dụng. Chữ Cốp-tơ ra đời vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên (TCN) và trở nên ổn định ở thế kỷ thứ I sau Công nguyên (CN). Khi người Ai Cập quy theo đạo Cơ Đốc, nó trở thành ngôn ngữ văn hoá quốc gia của nước Ai Cập Cơ Đốc dưới thời La Mã và By-dăng thống trị. Khi bị người A-rập Hồi giáo chinh phục và sau đó bị Hồi giáo hoá và A-rập hoá, ngay những người Ai Cập Cơ Đốc cũng dùng tiếng A-rập. Họ vẫn còn được gọi là người Côp-tơ, nhưng tiếng Côp-tơ đã dần dần bị mất đi, ngày nay chỉ còn tồn tại trong các nghi thức tụng niệm của giáo hội Cơ Đốc Cốp- tơ. Ai Cập đã có một bản sắc mới.

Đất nước này cũng đã có rất nhiều tên gọi. Tên thường dùng bởi người Hy Lạp, người La Mã và trên thế giới hiện nay, mặc dù chính người Ai Cập lại không dùng nó, đó là Ai Cập, tên do người Hy Lạp phiên âm từ một cách gọi cũ. Chữ Cập trong tên ấy có lẽ cùng một gốc như chữ Cốp trong Cốp-tơ. Người Ai Cập thì gọi là Misr, tên do người A-rập mang đến và ngày nay vẫn còn dùng. Tên này cũng na ná như các tên chỉ Ai Cập của dân Xê-mít được tìm thấy trong các bản kinh Do Thái và trong các bản viết cổ.

Một nền văn minh cổ khác ở Trung Đông là nền văn minh Lưỡi liềm Phì nhiêu, nằm trong lưu vực của hai sông Tigris và Euphrates. Nó có thể cổ hơn cả nền văn minh Ai Cập nhưng nó không mang tính thống nhất và liên tục như trong xã hội và nhà nước Ai Cập. Miền Nam, miền Trung và miền Bắc vùng này là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, có tiếng nói khác nhau và được biết dưới những tên khác nhau: Sumer và Akkad, Assyria và Babylonia. Trong kinh sách của người Do Thái, vùng này có tên là Aram Naharayim, Aram giữa Hai Dòng sông. Trong thế giới Hy-La (Hy Lạp và La Mã), tên của nó cũng có cùng ý nghĩa, Mesopotamia hay Lưỡng Hà. Trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc, vùng trung tâm và vùng Nam nằm trong tay người Ba Tư với thủ đô đặt ở Ctesiphon, không xa thành phố Baghdad ngày nay cho lắm. Baghdad là một tên Ba Tư có nghĩa là “Thượng đế đã ban cho”, đó là tên một ngôi làng mà nhiều thế kỷ về sau, người A-rập xây dựng ở đấy thủ đô mới của đế quốc. Tên Iraq là một tên A-rập vào thời Trung cổ chỉ phần phía Nam của nước Iraq hiện nay, từ Takrit ra đến biển, đôi khi còn được gọi là Iraq Arabi để phân biệt với vùng Iraq Ajami nằm ở phía Tây Nam Iran.

Bắc Lưỡng Hà là một vùng tranh chấp, khi thì do La Mã cai trị, khi thi chịu sự quản lý của Ba Tư, đôi lúc lại dưới quyền các triều đại vua chúa địa phương. Có những giai đoạn vùng này là một bộ phận của Syria, tên không chính xác lắm của một đất nước bao bọc bởi dãy núi Taurus ở phía Bắc, sa mạc Sinai ở phía Nam, sa mạc Arabia ở phía Đông và Địa Trung Hải ở phía Tây. Tên Syria cũng không có nguồn gốc rõ rệt, Herodotus cho rằng đấy là tên Assyria gọi tắt. Các nhà nghiên cứu hiện nay gắn nó với một số địa danh trong vùng. Lần đầu tiên tên này xuất hiện trong một bài viết Hy Lạp và trước đấy chưa ai nhắc đến tên này và cũng không ai sử dụng nó trong các bản viết thời Tiền Hy Lạp. Dưới thời La Mã và By-dăng tên Syria bằng tiếng Hy Lạp được sử dụng chính thức nhưng khi người A-rập đến chinh phục vào thế kỷ thứ VII thì nó biến mất. Tại châu Âu, tên này đôi khi được dùng đến, nhất là vào thời Trung cổ khi ngành nghiên cứu cổ điển được phục hồi kéo theo việc sử dụng rộng rãi các từ ngữ Hy-La. Trong thế giới A-rập nói riêng và Hồi giáo nói chung, vùng đất trước kia được gọi là Syria thì mang tên Sham, đó cũng là tên gọi của Damascus, thành phố lớn nhất tại đây. Còn tên gọi Syria - tiếng A-rập là Suriya - đôi khi được dùng trong các bài viết về địa dư, ngoài ra không ai biết đến cho đến tận cuối thế kỷ XIX khi người châu Âu thống trị ở đây thì nó xuất hiện trở lại. Tên này chính thức dùng để chỉ một tỉnh - vilayet Damascus — vào năm 1865 dưới chính quyền Ottoman, và sau Thế Chiến thứ I khi người Pháp nhận quyền uỷ trị ở đây nó mới là tên một nước. Trong số các tên địa phương cổ xưa của đất nước này mà người ta phát hiện được, thì thường thấy tên Aram, phỏng theo tên dân tộc Aramean đã sinh sống ở cả Syria và vùng Lưỡng Hà. Vùng Lưỡng Hà được gọi là “Aram giữa Hai Dòng Sông” còn Nam Syria mang tên “Aram Damascus” và Bắc Syria mang tên “Aram Zoba” (Zoba tức là Aleppo, xem trong Thánh Kinh tập II Samuel, các chương 8:6 và 10:8).

Tuy nhiên, theo thông lệ, các nước nằm trên phần phía Tây của vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu đều mang tên các vương quốc sở tại hay các dân tộc sinh, sống ở đây. Trong số đó, đất nước được biết đến nhiều nhất hay ít ra cũng có nhiều tài liệu nhắc đến nhất là vùng đất phía Nam mà các kinh sách Do Thái và các bài viết cổ gọi là Canaan. Sau khi người Do Thái đến chiếm và định cư ở đây, đất này được gọi là “đất nước của con cháu Israel” (Joshua 11:22) hay đơn giản hơn là “đất nước Israel” (I Samuel 13:19). Sau khi vương quốc của David và Solomon tan rã vào thế kỷ thứ X (TCN) thì phần phía Nam với Jerusalem làm thủ đô được gọi là Judah còn phần phía Bắc mang tên Israel, sau đó đổi là Samaria. Các vùng bờ biển phía Bắc và phía Nam mang tên các dân tộc cư trú ở đó như Phoenicia, Philistia. Người Philistin đã biến mất vào thời có cuộc chinh phục của Babylon. Người Phoenician còn tồn tại mãi đến thời La Mã và trong giai đoạn sơ khởi của kỷ nguyên Cơ Đốc trên vùng đồng bằng ven biển mà nay là Bắc Israel và Nam Liban. Đến thế kỷ thứ 6 (TCN) khi bị người Ba Tư chinh phục, vùng đất này được gọi là Yehud và có những người di cư trở về sinh sống (xem bản tiếng Aramaic trong Daniel 2:25, 5:13: Ezra 5:1, 5:8). Kinh Tân Ước phỏng theo cách gọi của người La Mã đặt tên cho các miền Nam, Trung và Bắc của vùng này là Judaea, Samaria và Galilee. Ta cũng nên biết thêm những tên đặt cho sa mạc phía Nam mà người La Mã gọi là Idumea, phỏng theo tên Edom trong Thánh Kinh - nay là sa mạc Negev — và tên của vùng bờ Tây sông Jordan là Peraera.

Ngôn ngữ chính của cả vùng Lưỡng Hà và Syria là tiếng Xê-mít (Semitic) được chia thành nhiều nhóm. Nhóm lâu đời nhất là nhóm Akkadian bao gồm tiếng Assyrian và tiếng Babylonian dùng trong vùng Lưỡng Hà. Một nhóm khác là nhóm ngôn ngữ Canaanite bao gồm tiếng Do Thái của Thánh Kinh, tiếng Phoenician cùng một ngôn ngữ từ nó phát sinh ra và dùng ở Bắc Phi là tiếng Carthaginian và một số ngôn ngữ khác cùng dòng họ mà người ta đọc được trên các bản khắc cả hai miền Nam và Bắc Syria. Vào buổi đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc, những ngôn ngữ trên hầu như đã biến mất và thay vào đấy là một nhóm ngôn ngữ rất gần nhau thuộc một dòng ngôn ngữ Xê-mít khác gọi là ngôn ngữ Aramaic. Trong số các ngôn ngữ Canaanite, tiếng Phoenician vẫn được dùng trong các cảng biển vùng Cận Đông và các thuộc địa Bắc Phi, tiếng Do Thái cổ mặc dù không còn thông dụng nhưng vẫn là ngôn ngữ của tôn giáo, văn học và bác học. Tiếng Assyrian và tiếng Babylonian có vẻ đã hoàn toàn biến mất. Tiếng Aramaic lại trở thành một ngôn ngữ quốc tế cho thương mại và ngoại giao và được sử dụng rộng rãi không chỉ trong vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu mà cả Ba Tư, Ai Cập và miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Lúc kỷ nguyên Cơ Đốc mới bắt đầu, tiếng A-rập, ngôn ngữ Xê-mít cuối cùng vào được trong vùng, chủ yếu chỉ được dung ở miền Trung và miền Bắc bán đảo Arabia. Các thành phố phát triển hơn ở miền Tây Nam trên đất nước Yemen ngày nay lại nói một thứ tiếng Xê-mít khác gọi là tiếng A- rập miền Nam nó rất gần tiếng Ethiopia vì chính tiếng này là do các di dân từ Nam Arabia đến vùng Sừng (Horn) châu Phi du nhập vào. Trên miền Bắc, có nhiều bằng chứng cho thấy những người nói tiếng A-rập đã đến lập nghiệp ở vùng biên giới giữa Syria và Iraq từ trước khi có cuộc chinh phục A-rập vào thế kỷ thứ VII, lẽ tất nhiên là sau đó tiếng A-rập được thịnh hành khắp vùng. Trong vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, tiếng A-rập đã thay thế tiếng Aramaic, thứ tiếng này ngày nay chỉ còn tồn tại trong các nghi thức tế lễ của một số Nhà thờ Phương đông và ở một số ngôi làng hẻo lánh.

Đất nước ngày nay mang tên Thổ Nhĩ Kỳ - tên này chỉ dung ở Âu châu - chỉ được gọi như thế vào thời Trung cổ khi người Thổ từ phương Đông di cư đến. Trong những thế kỷ đầu của Công nguyên, người ta thường gọi vùng này là Á, Tiểu Á hay Anatolia. Tên này dùng để chỉ những vùng đất nằm trên bờ Đông biển Aegean và dần dần mở sâu vào đất liền một cách không rõ rệt và lộn xộn. Vùng này thường được gọi theo tên các tỉnh, thành phố hay các vương quốc có mặt ở đó. Tại đây, tiếng Hy Lạp chiếm địa vị độc tôn và là tiếng phổ thông nhất.

“Anatolia” theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “phía Mặt Trời mọc” cũng như trong tiếng Latin “Orient” (phía Đông) và tiếng Italia “Levant” (Mặt Trời mọc). Những tên ấy biểu thị quan niệm của những người mà đối với họ vùng Đông Địa Trung Hải đã là tận cùng thế giới. Chính những người dân vùng Địa Trung Hải vì dần dần biết được còn có một châu Á rộng lớn ở phương Đông nên đã gọi vùng đất mà họ biết đến là Tiểu Á. Cũng tương tự như vậy, khi một phương Đông xa xăm xuất hiện trước mắt người phương Tây thì địa danh “phương Đông” cổ xưa có từ bao đời trước được thay thế bằng từ “Cận” hay “Trung” Đông. Trong số các đất nước xa xăm ấy thì vùng quan trọng nhất và mang trong mình nhiều hiểm nguy nhất cho Trung Đông chính là Iran, còn được gọi là Ba Tư.

Theo đúng nghĩa của nó, Ba Tư, Persia hay Persis không phải là tên một nước hay một quốc gia mà là tên một tỉnh, Pars hay Fars ở miền Tây Nam Iran, trên bờ đông của một vịnh biển mang tên nó, vịnh Péc-xích (vịnh Ba Tư). Người Ba Tư không bao giờ dùng tên này để chỉ toàn bộ đất nước họ mặc dù họ dùng từ Ba Tư để gọi tiếng nước họ vì tiếng địa phương của vùng Pars trở thành ngôn ngữ văn hoá và chính trị của cả nước chẳng khác gì tiếng vùng Tuscany ở Italia, tiếng vùng Castile ở Tây Ban Nha và tiếng vùng London ở Anh. Người Ba Tư luôn luôn gọi tên nước mình là Iran, năm 1935 họ bắt cả thế giới cũng phải dùng tên này. Tên này xuất xứ từ chữ Ba Tư cổ aryanam, một từ theo sở hữu cách có nghĩa là “(đất nước) của người Aryan”, đã có từ giai đoạn di cư đầu tiên của dân Indo-Aryan đến đây.

Bản đồ tôn giáo của Trung Đông lại còn phức tạp và rối rắm hơn cả bản đồ chủng tộc và ngôn ngữ. Vài vị thần thánh xưa đã biến mất và rơi vào quên lãng nhưng nhiều vị còn tồn tại dù dưới những hình thù kỳ quặc và đã biến cải. Bao nhiêu cuộc chinh phục và di dân đã xảy ra trong vùng này, sau đó lại có ảnh hưởng mạnh mẽ của Hy Lạp và cuộc đô hộ La Mã cho nên nhiều tôn giáo hổ lốn đã ra đời. Một vài tôn giáo Đông phương này cũng có người La Mã theo, đôi khi cả những người ở thủ đô La Mã. Thần Isis của Ai Cập, thần Adonis của Syria, nữ thần Cybele ở Phrygia trong vùng Tiểu Á, tất cả đều có người thờ phụng trong số các vị chủ La Mã mới của Trung Đông.

Trong một khoảng thời gian ngắn, vài thế kỷ chứ không đến vài thiên niên kỷ, các tôn giáo và thánh thần ấy đã bị phế bỏ, thay vào đó là hai tôn giáo đơn thần mới lần lượt xuất hiện và cạnh tranh nhau: đó là đạo Cơ Đốc và đạo Hồi. Hồi giáo xuất hiện và lớn mạnh trong thế kỷ thứ VII. Về một ý nghĩa nào đó, nhờ việc đã có sự hình thành và phát triển của Cơ Đốc giáo, tôn giáo này chính nó cũng chịu ảnh hưởng của các trào lưu tôn giáo và triết học đi trước. Cả hai nền văn minh Cơ Đốc và Hồi giáo đều bắt nguồn từ sự gặp gỡ và tương tác trên vùng đất Trung Đông cổ xưa của ba truyền thống phổ biến, đó là các nền văn minh Do Thái, Ba Tư và Hy Lạp.

Khái niệm về tính đơn thần thật ra không phải hoàn toàn mới lạ. Nó đã xuất hiện chẳng hạn trong Bài ca tán dương Akhenaton, vua Ai Cập ở thế kỷ XIV (TCN). Nhưng những ý tưởng ấy chỉ xuất hiện một cách lẻ tẻ và đơn độc, chỉ có tiếng vang nhất thời và cục bộ. Người Do Thái là những người lần đầu tiên đưa đạo lý đơn thần thành chủ thuyết của tồn giáo mình, và các kinh sách Do Thái cho thấy có sự chuyển biến từ một hiện tượng thờ cúng trong bộ lạc thành một thuyết đơn thần phố biến. Các kinh sách ấy cũng phản ánh việc người Do Thái ý thức được là lòng tin mới này cũng làm cho họ tách rời khỏi các dân tộc láng giềng vẫn còn thờ thần tượng và theo thuyết đa thần. Trong thời hiện tại, nhưng ai cho là mình nắm được sự thật thường hay tin sự thật ấy do chính mình phát hiện ra. Ngày xưa, tính tự phụ ấy chắc là không có được. Đứng trước việc kỳ lạ là họ là những người độc nhất phát hiện ra rằng chỉ có một Thượng đế duy nhất, những người Do Thái cổ không thể tin là họ đã lựa chọn Thượng đế nên có một thái độ khiêm tốn hơn: chính Thượng đế đã lựa chọn họ. Việc lựa chọn này mang đến cho họ nhiều quyền lợi nhưng cũng kéo theo nhiều trách nhiệm mà đôi khi đè nặng lên vai họ. “Ta đã lựa các người trong số các gia tộc trên quả đất, do đó ta sẽ nghiêm trị tất cả các lỗi lầm của các người” (Amos 3:2, Kinh Cựu Ước).

Tuy nhiên, không chỉ người Do Thái mới công nhận và thờ phụng một Thượng đế đạo đức và toàn năng. Đi quá về phía Đông, trên cao nguyên Iran, hai dân tộc anh em, người Medes và người Ba Tư cũng dần dần chuyển từ tục thờ cúng nhiều thần thánh sang lòng tin vào một vị Chúa tối thượng, biểu hiện cuối cùng của điều Thiện luôn luôn đấu tranh chống lại điều Ác. Sự xuất hiện của tôn giáo này gắn liền với tên tuổi nhà Tiên tri Zoroaster mà các lời dạy còn được giữ lại trong các văn bản cổ viết bằng chữ Ba Tư nguyên thuỷ. Người ta không biết được niên đại của thời nhà Tiên tri này sinh sống và giảng dạy, các phỏng đoán do các nhà nghiên cứu đưa ra sai nhau đến hàng nghìn năm hay hơn nữa. Nhưng có vẻ rõ ràng là các hoạt động tôn giáo của chủ thuyết Zoroaster mạnh nhất vào các thế kỷ thứ VI và thứ V (TCN). Trong nhiều thế kỷ, hình như hai dân tộc Medes và Ba Tư đi tìm Thượng đế theo hai con đường khác nhau và không biết đến nhau. Những sự kiện làm đảo lộn thế giới ở thế kỷ thứ 6 (TCN) mới làm cho họ xích lại gần nhau. Các sự kiện ấy còn để lại nhiều hậu quả khắp nơi trong nhiều thế kỷ.

Năm 586 TCN, vua Babylon là Nebuchadnezzar đưa quân đi chinh phục khắp nơi và chiếm được Jerusalem, tiêu diệt vương quốc Judah và phá tan đền thờ của người Do Thái rồi theo tục lệ thời bây giờ, lưu đày dân Do Thái đi Babylonia. Chỉ vài thập kỷ sau, người Babylonia lại bị vua Cyrus của người Medes đánh bại. Cyrus là người sáng lập ra một đế quốc Ba Tư mới có biên giới đến tận Syria và xa hơn nữa. Có vẻ như những người chiến thắng và một bộ phận trong số các dân tộc bị trị trên đất nước rộng mênh mông và đa ngôn ngữ của họ, người Do Thái, đã có những niềm tin và thế giới quan khá gần nhau. Cyrus cho phép người Do Thái từ Babylonia về lại đất Israel và dùng công quỹ để tái tạo ngôi đền ở Jerusalem. Trong Thánh Kinh Do Thái Cyrus được tôn sùng ở một mức độ mà không một vị vua nào không phải người Do Thái và ngay cả chỉ một số ít vua Do Thái mới đạt được. Các chương cuối của kinh văn Isaiah được viết sau vụ lưu đày ở Babylon đã nói lên với những lời lẽ đầy kịch tính: “Người (Cyrus) là kẻ dẫn dắt chúng ta; Người thỏa mãn mọi yêu cầu của chúng ta: Người nói với Jerusalem: Xây dựng lại đi! Người nói với Ngôi đền: Hãy đổ móng đi!” (Isaiah 44:28). Chương tiếp theo lại còn đi xa hơn nữa: “Rồi Thượng đế nói với Cyrus, người mà Thượng đế đã cho xức dầu Thánh: Ta cầm tay con để mọi dân tộc phải quỳ gối trước con…” (Isaiah 45:1). Giữa những tập Kinh Do Thái đầu tiên và cuối cùng viết trước và sau cuộc giam cầm dân chúng Babylon, người ta thấy có những khác biệt về lòng tin và nhãn quan phần nào có thế do ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo của Iran. Đặc biệt là ý niệm về một cuộc đấu tranh trong vũ trụ giữa Thiện và Ác, giữa Thượng đế và Ma Quỷ, cuộc đấu tranh này có sự góp sức của con người; ý niệm rõ rệt hơn về Phán xử sau cái chết, về những thưởng phạt trên Thiên đường và dưới Địa ngục; ý tưởng về một vị Cứu thế từ những hạt giống thần thánh sinh ra, đã được xức dầu Thánh và khi thời gian bước vào giai đoạn cuối cùng sẽ xuất hiện để bảo đảm cho cái Thiện thắng cái Ác. Người ta thấy rõ ảnh hưởng của các tư tưởng ấy lên đạo Do Thái ở giai đoạn muộn và đạo Cơ Đốc ở giai đoạn sớm.

Mối liên hệ Do Thái-Ba Tư còn có những hậu quả về mặt chính trị. Người Do Thái được Cyrus ưu ái nên cũng đền đáp lại bằng cách trung thành phục vụ nhà vua. Nhiều thế kỷ sau, trong đất nước họ hay ở các vùng do La Mã chiếm đóng, người Do Thái bị nghi ngờ, đôi khi không phải vô cớ, là có cảm tình hay thậm chí cộng tác với người Ba Tư là kẻ thù của La Mã.

Triết gia và cũng là sử gia người Đức, Karl Jaspers cho rằng giai đoạn giữa năm 600 và năm 300 (TCN) là một giai đoạn “mấu chốt” trong lịch sử loài người, khi các dân tộc cách xa nhau và không hề có quan hệ gì với nhau đồng thời có những đột phá quan trọng trên các mặt tinh thần và trí tuệ. Đó là thời của Khổng Tử và Lão Tử ở Trung Quốc, Thích Ca ở Ấn Độ, Zoroaster hay các môn đồ chính của ông ở Iran, các nhà tiên tri ở Israel, các triết gia ở Hy Lạp. Tất cả hầu như không biết đến nhau. Có thế có một chút hoạt động của các nhà truyền giáo Phật học người Ấn Độ ở Trung Đông nhưng ít ai biết đến và không mang lại kết qua nào. Các quan hệ tốt đẹp giữa người Do Thái và người Ba Tư được xây dựng dưới thời Cyrus và những người nối nghiệp ông. Những người nối nghiệp Cyrus cũng đã mở rộng bờ cõi về phía Tây đến tận biển Aegean rồi có những đụng độ với người Hy Lạp, do đó tạo ra mối thông thương giữa các dân tộc Ba Tư và nền văn minh Hy Lạp lúc ấy mới nổi lên. Thiên tài của người Hy Lạp là trong các lĩnh vực triết học và khoa học hơn là trong tôn giáo nhưng những khám phá của các triết gia và các nhà khoa học Hy Lạp sẽ có ảnh hưởng lớn đến các nền văn minh tôn giáo của Trung Đông và đương nhiên là của thế giới.

Các thương nhân Hy Lạp đã rất sớm khám phá ra vùng Trung Đông và những thông tin về các vùng đất kỳ lạ ấy họ mang về cũng đủ khơi dậy tính tò mò ngày càng lớn mạnh của các triết gia và khoa học gia Hy Lạp. Đế quốc Ba Tư bành trướng lại càng làm cho việc thông thương đi lại dễ dàng hơn, ngôn ngữ thành thạo hơn và các chuyên gia Hy Lạp dễ dàng tìm được việc làm tất cả các cấp của chính quyền để chế Ba Tư. Cuộc chinh phục phương Đông của Alexander Đại đế (356-323 TCN) xứ Macedonia mở đầu cho một thời đại mới: quyền thống trị của người Macedonia và ảnh hưởng văn hoá của Hy Lạp tràn qua Iran vào Trung Á đến tận biên giới Ấn Độ, về phía Nam thì vượt quá Syria vào Ai Cập. Sau khi Alexander qua đời, đất đai ông chiếm được đều chia cho những người thừa kế và lập nên ba vương quốc ở Iran, Syria và Ai Cập.

Trước cuộc chinh phục của Alexander Đại đế, người Hy Lạp đã biết sơ qua về Ba Tư, nay họ trở nên quen thuộc với các vùng đất bí hiểm là Lưỡng Hà, Syria và Ai Cập. Họ nắm quyền thống trị ở đây rồi sau đó bị người La Mã thay thế nhưng văn hoá của họ vẫn tiếp tục ngự trị trên vùng này ngay cả dưới thời đô hộ của La Mã. Năm 64 (TCN), vị tướng La Mã là Pompey chiếm được Syria rồi lấn qua Judaea. Năm 31 (TCN) sau khi Antony và Cleopatra bị thất trận ở Actium, dòng vua Ai Cập Ptolemy của người Macedonia và Hy Lạp lập nên cũng phải thần phục La Mã. Trước chiến thắng toàn diện của nền văn hoá Hy Lạp và sự thông trị của La Mã, chỉ có hai dân tộc dám đứng lên chống trả: đó là người Ba Tư và người Do Thái với những kết quả khác nhau.

Khoảng năm 247 TCN, một nhân vật tên là Arshak lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống người Hy Lạp và sáng lập một triều đại độc lập còn ghi trong lịch sử dưới tên gọi triều đại Parthia phỏng theo tên của bộ lạc và địa phương gốc. Mặc dù người Macedonia tìm đủ mọi cách để lập lại quyền cai trị, song người Parthia vẫn duy trì và còn mở rộng được nền độc lập của mình để trở thành một quốc gia hùng mạnh cạnh tranh được cả với đế quốc La Mã. Tuy nhiên họ vẫn mở rộng cửa để đón nền văn hoá Hy Lạp mà ảnh hưởng không phải là không lớn. Sau khi triều đại Parthia bị Ardashir (226-240 CN) lật đổ để lập nên triều đại Sasanid và trở lại tín ngưỡng theo Zoroaster thì mọi việc đều thay đổi. Đạo Zoroastrianism nay trở thành quốc giáo của Iran và là một bộ phận của bộ máy quyền lực, của xã hội và của chính phủ. Có lẽ đây là thí dụ đầu tiên của một quốc giáo với một tính chính thống do nhà nước áp đặt và một hàng giáo phẩm chỉ lo việc phát hiện và đàn áp mọi chống đối. Cách làm này của triều đại Sasanid thật khác hẳn tính độ lượng và chủ nghĩa chiết trung của người Parthia trước đây và của đế quốc La Mã. Đạo Zoroastrianism và hàng giáo phẩm của nó dựa vào mối quan hệ này với chính quyền để tăng cường thế lực, nhưng một khi chính quyền bị đổ thì cũng bị vạ lây. Hàng giáo phẩm bị tan rã khi đế quốc Ba Tư không còn nữa. Sau cuộc chinh phục của người A-rập và sự sụp đổ của đế quốc Ba Tư, đạo Zoroastrianism cũng tàn lụi và không hề hồi sinh, ngay cả khi đời sống chính trị và văn hoá ở Iran trỗi dậy trong giai đoạn Hồi giáo thịnh hành thì nó cũng chẳng có bất kỳ một đóng góp nào. Cuộc kháng cự về mặt tôn giáo chống lại sự thâm nhập của Hồi giáo vào Iran không phải phát sinh từ hàng giáo phẩm chính thống của Zoroastrianism quen nắm quyền bính mà lại từ đám dị giáo của nó, tức là từ những người dày dạn với chống đối và quen chịu đựng đàn áp.

Một số dị giáo của Zoroastrianism lại đóng những vai trò rất quan trọng trong lịch sử Trung Đông nói riêng và trong lịch sử nhân loại nói chung. Thuyết Mithraism được biết đến nhiều đã có vô số môn đệ trong đế quốc La Mã đặc biệt là trong giới quân sự và ngay cả trên nước Anh, ở đây ngày nay người ta còn tìm được dấu vết của một ngôi đền Mithraistic. Một dị giáo khác được biết đến nhiều hơn, đó là giáo thuyết Manicheism hay là tôn giáo của Mani, người đã sống từ năm 216 đến 277 và sáng lập nên một tôn giáo kết hợp các tư tưởng Cơ Đốc và Zoroastrianism. Vào năm 277, Mani bị đem ra hành quyết nhưng đạo của ông tỏ ra có sức sống mãnh liệt và đã tồn tại mặc dù ở Trung Đông bị người Hồi giáo và ở châu Âu bị người Cơ Đôc đàn áp dã man. Một dị giáo thứ ba, mặc dù có tính chất địa phương nhưng lại rất quan trọng, đó là giáo thuyết của Mazdak, phát triển vào đầu thế kỷ thứ VI tại Iran và đã xây dựng nên một loại chủ nghĩa cộng sản tôn giáo. Thuyết này về sau là nguồn cảm hứng cho các phong trào ly khai Hồi giáo Si-i ở Iran.

Đạo Zoroastrianism là tôn giáo đầu tiên có tính chính thống và độc quyền của một đế quốc. Tuy nhiên đấy là một tôn giáo của Iran và ngoài thế giới văn hoá của đế quốc Iran, nó không truyền ra các dân tộc khác. Đây không phải là một trường hợp đặc biệt vì hầu hết các tôn giáo cổ đều có tính dân tộc, trở thành đạo đức của công dân và có mang màu sắc chính trị; sau một thời gian, chúng sẽ biến mất cùng với cơ chế chính trị đã nâng đỡ chúng. Chỉ có một ngoại lệ, một tôn giáo thời cổ đại đã sống sót sau khi cơ sở chính trị và địa bàn hoạt động của nó đã bị huỷ diệt; nó đã tồn tại mà không cần đến các cơ sở này nhờ một quá trình tự biến đổi tích cực. Quá trình ấy cũng là cơ chế biến con cháu Israel thành dân Judaea rồi thành người Do Thái.

Người Do Thái đã thất bại trong cuộc đương đầu chính trị chống lại Hy Lạp và La Mã. Ban đầu, dưới sự lãnh đạo của gia đình họ Maccabee, họ đã khẳng định được nền độc lập của mình đối với vị vua Seleucid nước Syria và sau đấy phục hồi nền độc lập của vương quốc Judaea. Nhưng sau nhiều cuộc nổi dậy chống lại người La Mã, một số lần do người Ba Tư xúi giục và giúp đỡ, họ đã bị đánh tan và bị bắt làm nô lệ. Nhà vua và các Trưởng giáo của họ trở thành bù nhìn của người La Mã và đất nước Judaea bị đặt dưới quyền cai trị của một vị khâm sai La Mã. Lần nổi dậy lớn nhất bắt đầu vào năm 66. Sau một cuộc chiến đâu lâu dài và gian khổ, những người nổi dậy bị thất bại và vào năm 70, người La Mã chiếm được Jerusalem rồi phá tan ngôi đền thứ hai mà những người Do Thái bị lưu đày ở Babylon khi trở về đã xây dưng. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của dân Do Thái vẫn còn tiếp diễn và sau khi dẹp tan cuộc nổi dậy Bar-Kokhba năm 135, người La Mã quyết định có một giải pháp dứt điểm đối với đám dân cứng đầu này. Cũng như người Babylonian trước đấy, họ bắt cầm tù và lưu đày đại bộ phận dân Do Thái, lần này thì không có vua Cyrus đến cứu nữa. Họ còn xoá bỏ mọi tên tuổi, địa danh Do Thái. Thành phố Jerusalem được gọi là Aelia Capitolina, trên khoảnh đất cũ của ngôi đền Do Thái, họ cho xây một thánh đường thờ cúng thần Jupiter. Các tên nước như Judaea và Samaria cũng bị cấm và thay vào đấy là tên Palestine, phỏng theo tên dân tộc Philistine đã từ lâu rơi vào quên lãng.

Có một đoạn trong kinh Talmud của người Do Thái minh họa một cách sống động những quyền lợi và những hình phạt mà cuộc đô hộ của người La Mã mang đến cho người dân Do Thái và có lẽ cho mọi tầng lớp dân chúng ở Trung Đông. Đoạn văn kể lại cuộc đối thoại giữa ba thầy tu Do Thái vào thế kỷ thứ II:[1]

Thầy cả Judah mở đầu câu chuyện: “Những người này (người La Mã) đã thực hiện nhiều thứ lắm, họ mở chợ búa, xây cầu cống, dựng nhà tắm.” Thầy cả Jose lặng thinh và thầy cả Simeon Bar-Yohai trả lời: “Họ chỉ xây những gì phục vụ cho nhu cầu của họ mà thôi. Họ xây chợ cho gái điếm ở, họ xây nhà tắm để họ tắm rửa, họ xây cầu để thu phí giao thông”. Judah, con một gia đình mới vào đạo, đem chuyện này trình nhà chức trách. Nhà chức trách nói: “Judah khen chúng ta thì sẽ được thưởng, Jose không nói gì thì bị đày đi Sepphoris còn Simeon dám phê bình chúng ta thì sẽ bị tử hình.”

Trên một phương diện quan trọng, cả người Do Thái, Hy Lạp và La Mã đều giống nhau và điểm này làm họ khác hẳn các cổ dân khác, điểm đồng nhất và khác biệt này làm cho cả ba dân tộc giữ những vai trò then chốt trong các nền văn minh sẽ đến. Trong vùng Trung Đông cũng như ở các nơi khác trên thế giới, các nhóm người thường có thói quen vạch rõ đường ranh giới giữa họ và các nhóm khác - như vậy để xác định mình và loại trừ kẻ khác. Bản năng này đã có từ buổi bình minh của nhân loại và xa hơn nữa vì nó có trong mọi hình thức của đời sống sinh vật. Nó luôn luôn được xác định bởi huyết thống, bởi dòng họ, bởi cái mà ngày nay người ta gọi là mối liên hệ sắc tộc. Người Hy Lạp và người Do Thái, hai dân tộc rành rọt nhất trong vùng Địa Trung Hải cổ xưa đã để lại hai định nghĩa cổ điển về Kẻ khác: những ai không phải Hy Lạp đều là dân man rợ, còn những ai không phải Do Thái đều là dân lành. Các hố ngăn cách theo hai định nghĩa ấy rất sâu rộng nhưng — đây lại có một điều mới lạ vô cùng quan trọng — chúng không phải là không vượt qua được. Trên điểm này, chúng khác các định nghĩa ban sơ và phổ thông về các khác biệt dựa trên huyết thống. Các hố sâu ngăn cách ấy có thể vượt qua và lấp bằng nếu ngôn ngữ và văn hoá của người Hy Lạp được noi theo trong trường hợp đầu hay tôn giáo và luật pháp của người Do Thái được chấp nhận trong trường hợp thứ hai. Cả hai nhóm đều không muốn tìm thêm thành viên mới nhưng cả hai sẵn sàng đón tiếp họ; vào giai đoạn đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc, trong các thành phố Trung Đông người ta thường gặp những dân man rợ đã Hy Lạp hoá và những dân lành đã Do Thái hoá.

Trên một mặt khác, người Hy Lạp và người Do Thái tỏ ra rất đặc biệt trong thế giới cổ, đó là vì họ có lòng trắc ẩn đối với kẻ thù. Không có gì so sánh được với những lời nhà viết kịch Hy Lạp Aeschylus, một cựu chiến binh trong các cuộc chiến tranh chống Ba Tư, đã dùng để mô tả những khổ ải mà người Ba Tư thất trận phải chịu đựng hay những mối quan tâm về số phận của dân chúng Assyrian ở thành phố Nineveh được diễn trong sách Jonah của Kinh Cựu Ước.

Người La Mã còn đi xa hơn nữa trên nguyên tắc hội nhập bằng cách dần dần xây dựng nên một quy chế chung cho người công dân trong đế quốc. Người Hy Lạp trước đó đã phát minh ra ý niệm về người công dân, đó là một thành viên của xã hội có quyền tham gia xây dựng và điều hành chính phủ. Nhưng trong các thành phố Hy Lạp, quyền ấy chỉ dành riêng cho các cư dân gốc và con cháu của họ, người ngoài đến chỉ được hưởng quy chế kiều dân. Quyền công dân La Mã lúc đầu cũng tương tự như vậy, nhưng về sau các quyền lợi và nghĩa vụ công dân được mở rộng cho mọi người sống trong các tỉnh của đế quốc.

Khả năng tiếp thu nền văn hoá Hy Lạp, lý thuyết tôn giáo Do Thái và tổ chức xã hội La Mã đều là những tiền đề để Cơ Đốc giáo sinh sôi và phát triển, một tôn giáo có tính lan truyền mà mỗi giáo dân cho rằng mình đã nhận được lời thần khải cuối cùng của Thượng đế và mình có nhiệm vụ thiêng liêng là mang những lời ấy đến toàn nhân loại. Vài thế kỷ sau, một tôn giáo lớn thứ hai xuất hiện, đó là đạo Hồi. Nó cũng cho giáo dân của mình có cùng một ý niệm về chân lý và trách nhiệm của mình mặc dù nội dung và phương thức hành động có khác đi. Với hai tôn giáo như vậy, có cùng một đức tin, do cùng một tham vọng làm động cơ thúc đẩy, phát triển sát cánh nhau trên cùng một địa bàn nên không chóng thì chầy điều không tránh khỏi là sẽ có những đụng độ.

❀ ❀ ❀

[1] Sabbath 33b, bản dịch tiếng Anh của I. Epstein, The Babylonian Talmud (London 1930), vol.1, t. 136.

iếp phù du sớm nở tối tàn, ra được vài số rồi đóng cửa, các sưu tầm toàn bộ hiện nay không có, thảng hoặc đây đó chỉ còn lại vài số lẻ loi. Theo những thông tin có thể thu thập được thì tờ báo đầu tiên của tư nhân là tờ Jeride-iHavadis (Thờ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.