Thành Acropolis của Athens sừng sững uy nghi chẳng giống bất kỳ pháo đài nào trên thế giới. Giả sử dưới bóng của nó chưa từng có những người thợ chạm khắc cẩm thạch hay đúc đồng, chưa từng có những bậc thầy hùng biện hay thi ca sinh sống, nơi đây vẫn sẽ là tâm điểm và là kỳ quan thu hút mọi ánh nhìn giữa một phong cảnh trác tuyệt. Đó chính là “Hòn Đá,” chẳng có nơi nào sánh được. Liệu đã đủ chưa khi nói rằng khối đá vôi đỏ sậm ấy nhô lên như một tảng đá khổng lồ cao một trăm rưỡi thước so với đồng bằng,rằng chiều rộng của nó là năm trăm, chiều dài là một nghìn? Những con số và đo đạc chẳng bao giờ có thể lột tả được một tâm hồn,—và Hòn Đá của Athens dường như có tất cả ngoại trừ một tâm hồn: một linh hồn dường như đang bừng sáng xuyên qua lớp đá adamand rắn chắc ấy khi ánh ban mai bước đi với đôi chân rực lửa lướt qua dải đỉnh núi Hymettus dài, chạm vào khối màu đỏ của thành lũy bằng một vẻ rực rỡ siêu phàm; một linh hồn khi ban ngày chìm vào giấc ngủ trong vòng tay của đêm tối lúc thần Helios lặn xuống ngọn đồi phía tây gần Daphni. Khi ấy, Hòn Đá dường như lại rung lên và bừng cháy với sự sống.
Nơi đây trơ trụi đến mức những con dê đói khó lòng gặm nổi một cọng cỏ dọc theo những sườn dốc lởm chởm. Nơi đây dốc đứng đến độ hầu như chẳng cần đến sự phòng thủ trước một đạo quân nào. Nơi đây có tầm nhìn bao quát đến mức kẻ đứng trên đỉnh cao nhất phía tây có thể phóng tầm mắt vượt qua ngọn đồi lộng gió Pnyx, vượt qua vùng đất đồng bằng nâu sẫm để nhìn xuống làn nước biển xanh lấp lánh với những bến cảng tấp nập của Peiræus và Phalerum, những hòn đảo xám rải rác của vùng biển Ægean, và xa mãi tới đỉnh núi hình vòm của Acro-Corinthus. Hãy quay sang phải: ẩn mình ngay dưới chân anh là ngọn đồi Areopagus gồ ghề, quê hương của các nữ thần Báo Thù, quảng trường Agora tấp nập, và thành phố với những ngôi nhà san sát. Phía sau, núi non, thung lũng, đồng bằng trải rộng,—nơi xanh thẫm, nơi nâu trầm, nơi vàng óng,—với ngọn Pentelicus vĩ đại sừng sững phía sau cùng, những đỉnh núi trắng xoá không phải doết tuyết mùa đông, mà bởi thứ đá cẩm thạch lấp lánh. Nhìn sang trái: vắt ngang qua tầm mắt là sườn núi Hymettus xù xì, cằn cỗi và đầy vết sẹo, tựa như được tạo nên bởi các vị thần Titan, nơi chỉ có loài dê và ong, các nữ thần rừng và thần rừng đầu dê.
Đó cũng chính là khung cảnh ấy trong quá khứ mờ mịt khi người nguyên thủy đầu tiên trèo lên “Pháo đài của Cecrops” này và cất lời: “Nơi đây là chốn dung thân của ta.” Đây sẽ là khung cảnh ấy cho đến khi mặt đất và đại dương không còn nữa. Con người thay đổi chốn ở, những ngôi đền mọc lên rồi sụp đổ; còn hòn đá đỏ và xám, bầu không khí trong vắt như pha lê, biển cả xanh thẳm màu ngọc bích, tất cả đến từ các vị thần, và chúng vẫn ở lại.
Glaucon và Hermione cùng nhau đến đây để dâng lời tạ ơn nữ thần Athena vì vinh quang ở vùng Isthmus. Vị vận động viên đã lên thành lũy từ trước để dẫn đầu một đoàn rước đội vòng nguyệt quế sim nhằm dâng lời tạ ơn theo nghi lễ, nhưng khi ấy vợ anh không đi cùng. Giờ đây, họ sẽ cùng nhau bước lên mà không cần phu nhân đưa đón rình rang. Họ đi cạnh nhau. Cô nàng Chloë nhanh nhẹn lững thững bước theo sau với chiếc ô của chủ nhân. Lão nô Manes mang theo vật tế không đổ máu, nhưng Hermione thầm nghĩ trong lòng rằng có hai kẻ đang thừa thãi.
Bao ánh mắt thân thiện, bao lời chào hỏi thân tình dõi theo khi họ băng qua quảng trường Agora, nơi việc buôn bán đang tấp nhộn nhịp buổi sớm. Glaucon đáp lại mọi lời chào bằng nụ cười duyên dáng của mình.
“Cả Athens hình như đều là bạn của chúng ta!” anh nói, ngay khi một vị nghị viên trang nghiêm cúi chào gần bức tượng những kẻ ám sát bạo chúa ở phía trên quảng trường và một mụ bán bánh mì già rời khỏi sạp hàng để nhún chân chào kính cẩn.
“Là bạn của anh,” Hermione đính chính, trong đầu chỉ nghĩ đến chồng mình, “vì em có giành được giải ngũ môn phối hợp nào đâu.”
“À, makaira, người dearest và best nhất của anh,” anh đáp, không nhìn vào thành lũy huy hoàng mà nhìn thẳng vào khuôn mặt nàng, “liệu anh có giành được vòng nguyệt quế cần tây nếu không có một vòng nguyệt quế tốt đẹp hơn đang chờ đợi anh ở Eleusis không? Và hôm nay anh là kẻ hạnh phúc nhất trong những người hạnh phúc. Bởi các vị thần đã ban cho anh những ân huệ vượt quá sức tưởng tượng, anh không còn sợ sự đố kỵ của họ như trước nữa. Anh tận hưởng sự kính trọng của tất cả những người thiện lương. Anh chẳng có kẻ thù nào trên thế gian này. Anh có những người bạn quý giá nhất, Cimon, Themistocles—và trên hết là Democrates. Anh được ban phước trong tình yêu còn hơn cả Peleus kết hôn với Thetis, hay Anchises được Aphrodite yêu thương, bởi nàng Aphrodite vàng son của anh không sống trên đỉnh Olympus, cũng chẳng ở Paphos, hay đến trên những con chim bồ câu từ Cythera, mà ngự trị—”
“Thôi đi.” bàn tay đặt lên môi anh tuy nhỏ nhưng vô cùng kiên quyết. “Đừng làm vị nữ thần nổi giận bằng cách ví em với ngài ấy. Được ngước nhìn mặt trời và nói rằng ‘Em vẫn giữ được tình yêu của Glaucon người may mắn và lương thiện’ đối với em đã là niềm hạnh phúc lớn lao rồi.”
Cứ thế đắm chìm trong giấc mơ vàng son, hai người băng qua quảng trường Agora, rẽ trái từ ngọn đồi Pnyx, đi qua những con hẻm ngoằn ngoèo lướt qua tảng đá gồ ghề của Areopagus, cho đến khi trước mặt họ hiện lên một hàng rào gỗ và một cánh cổng. Xuyên qua đó, một con đường dốc dẫn ngược lên thành lũy. Không phải là thành Acropolis nổi tiếng sau này. Những công trình trên Hòn Đá khi ấy chỉ một năm ngắn ngủi nữa thôi sẽ thành những đống đổ nát do lửa tàn phá. Thế nhưng vào giờ phút ấy, trước mắt Glaucon và Hermione hiện lên một ngôi đền không đến nỗi tầm thường, đó là “Ngôi nhà của Athena” cổ kính, tiền thân của điện Parthenon sau này. Trong ánh bình minh, nó hiện lên thật đẹp đẽ—với một trăm cột kiểu Doric, một trán tường được điêu khắc chạm trổ, rực rỡ với đá cẩm thạch trắng cùng các sắc đỏ, xanh lam và vàng. Bên dưới đền, trải dài trên cao nguyên gồ ghề của Hòn Đá là những hàng tượng thần thánh và anh hùng bằng đá, đồng hoặc gỗ được sơn vẽ để tạ ơn. Nơi này nơi kia có vô số điện thờ và ngôi đền nhỏ, cùng một bệ tế khổng lồ để thiêu hiến một trăm con bò đực. Cứ thế, tay trong tay, hai người tiến đến cánh cửa đồng của Ngôi đền. Vị linh mục già nhân hậu đang canh gác mỉm cười khi rảy thứ nước muối thanh tẩy lên người họ từ chiếc chậu thau lớn. Cánh cửa khép lại sau lưng họ. Trong khoảnh khắc, họ có cảm tưởng như đang đứng trong ngôi đền linh thiêng chìm trong bóng tối mịt mùng. Rồi từ tận sâu thẳm trên mái vòm cẩm thạch, một thứ ánh sáng dịu dàng bắt đầu len lỏi tiến lại gần. Tựa như màn sương đang tan dần, khuôn mặt điềm tĩnh vĩ đại của vị nữ thần cổ đại nhìn xuống với nụ cười bất biến. Một mòn than hồng rực trên chiếc kiềng ba chân dưới chân ngài. Glaucon rắc trầm hương lên chiếc lò đốt. Trong khi làn khói tỏa ngút ngời, Hermione đặt vòng hoa huệ giữa hai đầu gối bức tượng ẩn hiện trong mờ ảo, rồi chồng nàng giơ cao đôi tay và cẩn trọng cầu nguyện lớn tiếng.
“Hỡi Athena, Nữ Trinh, Nữ Vương, Đấng Sáng Tạo Trí Tuệ,—bất kể ngài yêu quý danh hiệu nào nhất,—xin hãy chấp nhận lễ vật này và lắng nghe. Xin hãy ban phúc cho cả hai chúng con. Ban cho chúng con sức mạnh để vươn tới những điều cao quý nhất, thốt ra những lời lẽ khôn ngoan, và yêu thương lẫn nhau. Ban cho chúng con sự thịnh vượng, nhưng chớ để kiêu ngạo. Xin ban phước cho tất cả bạn bè của chúng con; nhưng nếu chúng con có kẻ thù, xin ngài cũng hãy là kẻ thù của họ. Bằng cách đó, chúng con sẽ ca ngợi ngài mãi mãi.”
Đó là toàn bộ nghi lễ cầu nguyện và tôn kính. Sau một thoáng chiêm nghiệm thêm, hai vợ chồng bước ra khỏi gian điện thiêng. Cảnh quan kỳ vĩ—vách đá, đồng bằng, biển cả và bầu trời cong vút—mở ra trước mắt họ trong ánh hào quang rực rỡ. Ánh sáng phai dần trên những sườn núi tím sẫm phía tây. Phía sau thành Acropolis, kim tự tháp Lycabettus tỏa sáng rực rỡ tựa như một lò luyện. Tấm cẩm thạch trên ngọn Pentelicus đằng xa ngời lên chói lọi.
Glaucon đứng trên mỏm đá cao nhất phía đông của Hòn Đá, ngắm nhìn phong cảnh.
“Niềm vui, hỡi makaira, niềm vui thay,” anh kêu lên, “chúng ta có được nhau. Chúng ta đang sống ở ‘Athens đội vòng nguyệt quế tím’; chúng ta còn dám cầu xin điều gì khác nữa chứ?”
Nhưng Hermione lại tỏ ra kém vui hơn khi nhìn về phía đỉnh Pentelicus.
“Hãy nhìn kìa! Đám mây xám kia đang lao tới trên ngọn gió xiết nhanh làm sao! Nó sẽ che khuất ánh sáng mất. Điềm báo chẳng lành.”
“Sao lại không lành hả makaira?”
“Đám mây ấy chính là người Ba Tư. Hôm nay chúng đeo bám như một đám mây giông lơ lửng bên trên Athens và Hellas. Xerxes sẽ tới. Và anh—”
Nàng nép sát vào chồng hơn.
“Sao lại nhắc đến anh?” anh cười nhẹ hỏi.
“Xerxes mang đến chiến tranh. Chiến tranh mang lại đau thương cho những người phụ nữ. Những mũi giáo và tên đạn đâu có ưa chuộng gì những kẻ già nua gớm ghiếc.”
Một phần vì điềm báo, một phần vì nỗi sợ hãi bất chợt không đâu dâng trào, đôi mắt nàng ngấn lệ; nhưng tiếng cười của chồng nàng lại vang lên trong trẻo.
“Euge! Hãy lau khô nước mắt và nhìn về phía trước đi em. Vua Æolus đang thổi tan đám mây ấy bằng những cơn gió mạnh nhất của ngài. Nó vỡ ra thành hàng nghìn mảnh. Themistocles cũng sẽ đánh tan lũ giặc Ba Tư như thế. Bóng tối Ba Tư rồi sẽ đến, rồi sẽ đi, và chúng ta sẽ lại được hạnh phúc ở thành Athens xinh đẹp.”
“Xin Athena ban ơn cho điều đó!” Hermione khấn với theo.
“Chúng ta có thể đặt niềm tin nơi nữ thần,” Glaucon đáp lời, tâm trạng vui vẻ chẳng chút lay động. “Và giờ khi chúng ta đã dâng lời thề nguyện lên ngài, hãy cùng xuống núi thôi. Bằng hữu của chúng ta đã đợi sẵn bên ngọn đồi Pnyx trước khi họ xuống các bến cảng rồi kìa.”
Khi họ đi xuống dốc, Cimon và Democrates chạy tới nhập hội, và giữa những lời trò chuyện rôm rả vang lên, điềm báo về đám mây cùng nỗi sợ hãi người Ba Tư đã phai mờ khỏi tâm trí Hermione.
* * * * * * *
Đó là một nhóm người vui vẻ hệt như những đoàn người vẫn thường đi xuống các bến cảng của Athens vào mùa xuân và mùa hè: khoảng một tá quý tộc, già lẫn trẻ, phần lớn đã lập gia đình, lững thững theo sau là các bà vợ cùng đám tì nữ của họ, và rất nhiều nô lệ xứ Thrace vạm vỡ đang khênh những giỏ đựng thức ăn thức uống. Tiếng cười nói rộn ràng hòa lẫn với những lời bàn luận khôn ngoan; những người bạn đi thành từng nhóm hai ba người, với Themistocles, như thường lệ, vẫn hòa mình vào tất cả mọi người và vượt trội hơn hẳn bất kỳ ai cả về những câu chuyện cười lẫn sự uyên bác. Cứ thế họ tiến qua vùng đồng bằng rộng lớn để hướng về các bến cảng, cho đến khi ngọn đồi Munychia sừng sững hiện ra trước mặt. Một đoạn đường leo trèo qua lối mòn đá gập ghềnh đưa họ lên tới đỉnh; rồi trước mắt họ mở ra khung cảnh thứ hai có thể sánh ngang với khung cảnh từ Hòn Đá của Athena: ngay dưới chân họ là bốn vũng tàu xanh thẳm của Athens, bên phải là vịnh Phaleron, gần hơn chút nữa là vịnh Munychia được đất liền bao bọc, xa hơn nữa là vịnh Zea, và xa hơn nữa là một vùng biển rộng lớn hơn—Peiræus, quân cảng mới của Athens. Họ có thể nhìn xuống những mái nhà màu nâu của thị trấn cảng, khu rừng cột buồm, những con tàu buôn đang dỡ gỗ từ vùng Euxine, những chiếc tàu buôn đang chất đầy sung khô để chở đến Syria; nhưng nổi bật hơn cả là vô số thân tàu đen dài, chiếc thì nằm bất động trên vùng nước phẳng lặng của bến cảng, chiếc thì được chống đỡ vô hại trên bờ. Hermione thoáng buồn rầu khi nhìn thấy chúng và quay mặt đi nơi khác.
“Em không thích hạm đội mới của anh đâu, Themistocles,” nàng nói, cau mày nhìn vị chính khách tuấn tú; “em chẳng thích bất cứ thứ gì gợi nhắc quá rõ ràng về chiến tranh. Nó làm hỏng mất vẻ đẹp.”
“Lẽ ra nàng nên vui mừng vì chúng ta có một bức tường gỗ tuyệt đẹp như vậy để chống lại kẻ Dã man chứ, thưa phu nhân kính mến,” hắn đáp lại một cách hoàn toàn thoải mái. “Chúng ta có thể làm gì để động viên nàng đây, Democrates?”
“Nếu ta chỉ là thần Zeus,” vị diễn giả vốn chẳng bao giờ ở cách xa người vợ của bạn thân mình đáp lời, “ta sẽ giáng hai tia sét, một để tiêu diệt Xerxes, hai là để phá hủy hạm đội của Themistocles,—như thế thì phu nhân Hermione mới chịu hài lòng.”
“Vậy thì tôi tiếc vì anh không phải là vị thần trên đỉnh Olympus rồi,” người phụ nữ nói, mỉm cười một nửa trước câu nói đùa. Cimon liền chen vào. Một vài người trong nhóm vừa bắt được một tên mục đồng rám nắng giữa những hốc đá, trông y hệt như thần Pan với tấm da dê xù xì trên người. Món tiền thưởng hai obol đã dụ hắn lôi chiếc sáo ra thổi. Bốn cậu nô lệ liền lăn ra nhảy múa. Cả nhóm ngồi xuống bãi cỏ bị ánh nắng thiêu đốt—vừa ăn uống, vừa kết vòng hoa anh túc, vừa ngắm nhìn đám nô lệ nhanh nhẹn và những con tàu bò trườn như kiến trong vũng và vịnh bên dưới. Buổi trưa cứ thế trôi qua, và khi mặt trời sà xuống ngọn đồi hiểm trở Salamis bên kia eo biển, những người đàn ông trong nhóm liền tản bộ xuống các cảng và tìm thuyền để chèo ra vịnh.
Gió thổi hiu hiu như làn gió Tây. Mặt nước xanh thẳm và phẳng lặng như gương. Mặt trời đang lặn xuống như một quả cầu ánh sáng vô tận. Themistocles, Democrates và Glaucon cùng ở trên một chiếc xuồng nhỏ, với chàng vận động viên làm nhiệm vụ chèo thuyền. Họ lướt qua hàng chục chiếc chiến thuyền ba tầng chèo đang thả neo lười biếng. Hai lần họ chèo vòng quanh chiếc chiến thuyền kiêu hãnh nhất trong hạm đội—chiếc Nausicaä, món quà mà Hermippus dâng hiến cho đất nước, một món quà vương giả ngay cả trong những thời điểm mà mọi người dân Athens đều dốc toàn lực vì việc công. Đó sẽ là soái của Themistocles. Những chàng trai trẻ chú ý đến những đường nét thanh thoát của nó, phần gỗ mạn dày, những boong tàu có mái che, một sự đổi mới đối với các chiến thuyền của quân đội Athens, và Themistocles đặt một bàn tay trìu mến lên chiếc mỏm đồng sắc nhọn khi họ lượn vòng qua mũi tàu.
“Đây chính là chiếc răng để cắn nhà vua Ba Tư đây!” hắn đang cười vang thì một chiếc xuồng thứ hai, đi vòng quanh chiến thuyền theo hướng ngược lại, bất ngờ đâm sầm vào họ. Một cú chòng chành, vài mảnh gỗ vụn là tất cả những thiệt hại, nhưng khi hai chiếc thuyền tách ra, Themistocles đứng phắt dậy từ ghế ngồi ở đuôi thuyền, trân trân nhìn với vẻ tò mò.
“Lũ dã man, thề bởi những con cú của Athena, tên điều khiển mái chèo là một kẻ Syria béo tốt, còn chủ nhân của hắn và gã thiếu niên phương Đông kia nữa chứ. Chúng có chuyện gì quanh hạm đội chiến tranh của chúng ta thế nhỉ? Chèo đuổi theo chúng đi, Glaucon; chúng ta sẽ gặng hỏi—”
“Glaucon chẳng làm cái trò ngốc nghếch ấy đâu,” Democrates lập tức xen vào từ đằng mũi thuyền; “nếu đội tuần tra bến cảng không can thiệp vào những thương nhân lương thiện, thì việc đó liên quan gì đến chúng ta?”
“Tùy anh vậy.” Themistocles ngồi phịch xuống ghế. “Tuy nhiên làm vậy cũng chẳng hại gì. Giờ thì chúng lại chèo sang một chiếc chiến thuyền khác kìa. Cái gã chủ nhân của bộ ba kia đang săm soi nó bằng đôi mắt diều hâu kìa! Có gì đó không bình thường, ta nhắc lại đấy.”
“Để soi mói mọi thứ kỳ lạ,” Democrates triết lý tuyên bố, “cần phải có tuổi thọ của một con quạ, loài mà người ta nói là sống tới ngưng tuổi, nhưng ta chẳng thấy mọc ra chiếc lông đen nào trên đôi vai của Themistocles cả. Chèo tiếp đi, Glaucon.”
“Đi đâu?” người chèo thuyền hỏi vặn lại.
“Đến Salamis,” Themistocles ra lệnh. “Hãy để chúng ta chứng kiến bãi chiến trường được tiên tri bởi nhà tiên tri.”
“Đến Salamis hay thẳng tới tận đảo Crete luôn cũng được,” Glaucon đáp lời, dồn hết sức lực vào đôi tay chèo khiến chiếc xuồng vọt lên băng băng, “nếu chúng ta tìm được làn nước nào đủ sâu để dấy chìm những vẻ mặt ủ dột đã bám lấy vầng trán của Democrates bấy lâu nay.”
“Không phải ủ dột mà là nghiêm túc,” vị diễn giả trẻ tuổi nói với vẻ ra chiều nhẹ nhàng; “tôi đang chuẩn bị bài diễn văn chống lại tên nhà thầu mà tôi đã kiện vì tội biển thủ kho vật tư hải quân công cộng.”
“Hãy tiêu diệt tên đó đi!” tay chèo thuyền hét lớn.
“Nhưng quả tình tôi cũng thấy thương hại hắn; hắn phải chịu sự cám dỗ quá lớn mà.”
“Đừng có ngụy biện; kẻ cướp bóc thành phố trong những ngày như thế này còn tệ hơn cả kẻ bán đứng pháo đài trong phần lớn các cuộc chiến.”
“Ta thấy anh đúng là một kẻ ái quốc hoang dã đấy, Glaucon,” Themistocles nói, “bất chấp khuôn mặt đẹp mã như thần Adonis của anh. Chúng ta đã thực sự ra tới giữa vịnh rồi; những kẻ nghe trộm gần chúng ta nhất, mấy bác ngư dân đằng kia, cũng cách xa đến tận năm furlong. Anh có muốn xem thứ này không?” Glaucon dừng tay chèo, trong lúc vị chính khách đang cúi xuống lục lọi ngực áo. Hắn rút ra một tờ giấy cói, đưa nó cho người chèo thuyền, rồi người này lại chuyển tiếp cho Democrates.
“Vậy thì hãy nhìn cho kỹ vào, vì ta nghĩ chẳng có gián điệp Ba Tư nào ở quanh đây đâu. Ta đã miệt mài với mảnh giấy cói này suốt một tháng trời. Tất cả sự khôn ngoan của ta đều tuôn chảy ra từ ngòi bút khi ta đặt mực lên trang giấy. Tóm lại, đây chính là sơ đồ bố trí các chiến thuyền của liên quân Hy Lạp khi chúng ta giáp chiến với Xerxes. Leonidas và các vị thủ lĩnh khác của chúng ta đã giao phó nhiệm vụ này cho ta khi hội tụ ở Corinth. Hôm nay nó đã hoàn thành. Hãy đọc nó đi, vì nó vô cùng quý giá. Xerxes sẵn sàng dâng hiến hai mươi nén bạc chỉ để đổi lấy một tờ giấy này từ xứ Egypt đấy.”
Hai chàng trai tò mò dán mắt vào tờ giấy. Các chi tiết và sơ đồ rất ít và dễ ghi nhớ, tàu của người Athens ở đây, tiếp theo là tàu của người Æginetan, rồi đến người Corinth, và cứ thế với các đồng minh khác. Một vài lời bình về việc sử dụng các chiến thuyền penteconter hạng nhẹ đằng sau các chiến thuyền ba tầng chèo hạng nặng. Vài lời bình luận nữa về chiến thuật hải quân dự kiến của Xerxes. Chỉ riêng việc biết rằng Themistocles chưa từng cam kết bất cứ điều gì trong lời nói hay văn bản mà không vắt kiệt mọi mưu kế cũng đủ để hai chàng trai hiểu được tầm quan trọng tối cao của tờ tài liệu này. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, vị chính khách lại nhét nó về chỗ cũ trong ngực áo.
“Cả hai anh đã xem cái này rồi nhé,” hắn tuyên bố, có vẻ tự hào về thành quả của mình; “Leonidas sẽ xem cái này, rồi đến Xerxes, và sau đó—” hắn cười, nhưng không phải là cười đùa—“mọi người sẽ ghi nhớ Themistocles, con trai của Neocles!”
Cả ba chìm vào im lặng trong giây lát. Chiếc xuồng đã tiến ra xa giữa biển khơi. Bóng tối từ những ngọn đồi Salamis và Ægelaos, ngọn núi đối diện của xứ Attica, đang bao trùm lấy họ. Xung quanh hòn đảo nhỏ Psyttaleia giữa eo biển, những chiếc thuyền đánh cá màu nâu đang lững thững lướt đi. Phía bên kia eo biển mở ra vùng vịnh Eleusis màu xanh lam được bao bọc bởi những ngọn đồi, giờ đây đang chuyển sang màu đỏ rực trong ánh nắng chiều tà. Mọi thứ đều thanh bình, tĩnh lặng và đẹp đẽ. Một lần nữa Glaucon lại dừng tay chèo và để mắt mình lang thang.
“Lời của nhà hiền triết Thales mới chuẩn xác làm sao,” anh lên tiếng; “ ‘thế giới là tuyệt phẩm trong số mọi tuyệt phẩm, bởi vì nó là công trình của Thượng đế.’ Chẳng thể nào có chuyện ở đây, giữa những ngọn núi tía biếc và biển cả lấp lánh này, lại sắp sửa diễn ra một trận chiến mà sự giao tranh giữa Achilles và Hector trước thành Troy sẽ trở thành hư vô khi đặt lên bàn cân so sánh!”
Themistocles lắc đầu.
“Chúng ta nào đâu hay biết; chúng ta chỉ là những con súc sắc trong ống xúc xắc của các vị thần tối cao.
‘Con người thật hoài công khi muốn thấu hiểu tâm trí của Chúa tể đỉnh Olympus.’
Chúng ta chẳng thể nói điều gì khôn ngoan hơn thế. Chúng ta chỉ có thể sử dụng trí khôn thông thái của những người mẹ xứ Attic, và phó mặc phần còn lại cho định mệnh. Hãy cứ bằng lòng nếu chúng ta hy vọng rằng định mệnh không phải kẻ mù lòa.”
Họ thả trôi thuyền trong im lặng suốt một lúc lâu.
“Mặt trời đang lặn thấp hơn rồi,” cuối cùng Democrates lên tiếng; “thế nên hãy quay trở lại các bến cảng thôi.”
Trên đường quay về, Themistocles một lần nữa thề rằng hắn thoáng thấy chiếc xuồng của những người ngoại quốc lạ mặt, nhưng Democrates gọi đó chỉ là ảo tưởng. Hermione đón họ ở Peiræus, và cả nhóm lại cùng nhau đi bộ qua lớp sạm tối đang buông xuống để trở về thành phố, nơi mỗi nhóm nhỏ lại tản đi theo con đường riêng. Themistocles về nhà riêng, nơi hắn nói rằng hắn đang đợi Sicinnus; Cimon và Democrates tìm đến một quán rượu để nhâm nhi chén rượu buổi tối; Glaucon và Hermione vội vã trở về ngôi nhà của họ ở vùng ngoại ô Colonus gần con suối Cephissus róc rách, nơi trong đêm đầy sao, loài ve sầu trên những thân ô liu đen cổ thụ bên dòng suối cất lên thứ âm thanh đơn điệu, nơi những chú đom đóm lớn nhấp nháy ánh sáng, nơi chim sơn ca Philomela cất tiếng gọi bầy, và những hàng cây bạch dương cao lớn khẽ thì thầm với rặng thông. Khi Hermione chìm vào giấc ngủ, nàng đã quên bẵng đi chuyện người Ba Tư sắp tới, và mơ thấy Glaucon chính là thần Eros, nàng là Psyche, và thần Zeus đang ban cho nàng đôi đôi cánh bướm cùng chiếc vương miện đính những vì sao.
Democrates về nhà muộn hơn. Sau những chén rượu Pramnian nặng đô ở quán rượu, hắn la cà cùng Cimon và những kẻ khác để đàn hát dưới khung cửa sổ của một tiểu thư—cũng chẳng lấy gì làm đoan trang lắm—ở khu vực Ceramicus. Nhưng người đẹp tối hôm đó lại vô cùng nhẫn tâm, và đám gia nhân của nàng đã đuổi những kẻ hát rong đi bằng những xô nước nóng hổi hắt từ cửa sổ lầu trên. Democrates liền bỏ đi khỏi nhóm. Đầu óc hắn lúc này vô cùng mơ hồ, thế nhưng hắn không tài nào xua nổi một ý nghĩ ra khỏi đầu—rằng ngày hôm đó Themistocles đã tiết lộ một bí mật vô giá, rằng vị chính khách, Glaucon và chính bản thân hắn là những kẻ duy nhất chia sẻ điều đó, và rằng người ta tin rằng Glaucon từng đến gặp kẻ buôn thảm người Babylon. Đi kèm với điều đó là một cảm giác choáng ngợp rằng Helen xứ Troy chẳng thể xinh đẹp bằng Hermione xứ Eleusis. Tuy nhiên, khi về đến phòng trọ, đầu óc hắn bỗng chốc tỉnh táo hẳn đi sau khi đọc xong hai bức thư.
Bức thư đầu tiên rất ngắn.
“Themistocles gửi Democrates:—Tối nay ta bắt đầu phát hiện ra một vài manh mối. Sicinnus, người đã lùng sục khắp Athens, quả quyết rằng có một điệp viên người Ba Tư đang ở trong thành phố. Hãy bắt giữ hắn.—Chaire.”
Bức thư thứ hai còn ngắn hơn. Nó được gửi từ Corinth.
“Thương gia Socias gửi Democrates:—Hải tặc Tyrrhenian đã cướp tàu. Toàn bộ hàng hóa và thủy thủ đoàn đều mất sạch.—Chaire.”
Vị diễn giả đã trằn trọc không thể chợp mắt suốt cả đêm hôm đó.