THẾ LÀ ROBIN HOOD cùng đồng bọn rời khỏi bãi bắn cung ở Finsbury Fields, và chẳng mảy may trì hoãn, họ lập tức lên đường trở về nhà. Thật may mắn cho họ vì đã hành động như vậy, bởi họ đi chưa được ba bốn dặm đường thì sáu tráng sĩ thuộc đội ngự lâm của nhà vua đã rầm rập kéo đến đám đông hãy còn tụ tập, tìm kiếm Robin cùng các thuộc hạ để bắt giam họ. Quả thực, việc nhà vua nuốt lời là một hành động trái đạo lý, nhưng tất cả cơ sự đều do một tay Giám mục thành Hereford nhúng tay vào, và câu chuyện diễn ra như sau:
Sau khi nhà vua rời khỏi bãi bắn cung, ngài đi thẳng về phòng riêng, theo sau là Giám mục thành Hereford và Sir Robert Lee. Tuy nhiên, nhà vua chẳng thốt một lời nào với hai người bọn họ mà chỉ ngồi cắn môi dưới, bởi ngợi ca những gì vừa xảy ra đã khiến tâm can ngài cay đắng khôn cùng. Cuối cùng, Giám mục thành Hereford cất lời bằng giọng điệu trầm buồn: "Tâu bệ hạ, thật là một điều đáng tiếc khi để cho tên can tặc ngoài vòng pháp luật ấy trốn thoát theo cách này; bởi chỉ cần hắn quay về Rừng Sherwood bình an vô sự, hắn có thể tha hồ nhạo báng nhà vua và các bề tôi của ngài."
Nghe những lời đó, nhà vua ngước mắt lên và nhìn vị Giám mục với vẻ mặt nghiêm nghị. "Ngươi nói vậy sao?" ngài cất tiếng. "Giờ đây, ta sẽ cho ngươi thấy, vào một dịp thích hợp, rằng ngươi đã lầm đường lạc lối đến nhường nào; bởi khi thời hạn bốn mươi ngày qua đi, ta sẽ tóm gọn tên tội phạm trộm cắp này, dẫu ta có phải san bằng cả khu rừng Sherwood đi để tìm hắn đi nữa. Ngươi tưởng rằng luật pháp của Quốc vương nước Anh lại có thể dễ dàng bị một kẻ cùng đinh nghèo hèn không tấc sắt không bạn bè qua mặt đến thế sao?"
Bấy giờ, vị Giám mục lại cất giọng nhỏ nhẹ và ngọt ngào:
"Xin bệ hạ lượng thứ cho sự cả gan của thần, và xin hãy tin rằng thần chẳng mưu cầu điều gì khác ngoài lợi ích của nước Anh cùng những mong muốn ở nơi bệ hạ; nhưng dẫu cho chúa công nhân từ của thần có nhổ bật rễ từng cái cây trong rừng Sherwood thì được ích gì chứ? Chẳng lẽ ngoài Sherwood ra thì không còn nơi nào khác cho Robin Hood ẩn náu hay sao? Cannock Chase cách Sherwood không xa, và Rừng Đại ngàn Arden cũng chẳng cách Cannock Chase là mấy. Bên cạnh đó còn có vô số vùng rừng cây khác ở Nottingham cùng Derby, Lincoln và York, ở bất kỳ nơi nào trong số đó, bệ hạ cũng có thể hy vọng tóm được Robin Hood giống như việc tìm kiếm một con chuột nhắt giữa đống bụi bặm và đồ phế thải trên gác mái mà thôi. Không, tâu chúa công nhân từ của thần, một khi hắn đã đặt chân được vào chốn thâm sơn cùng cốc, hắn sẽ vĩnh viễn thoát khỏi vòng pháp luật."
Nghe những lời ấy, nhà vua lấy các đầu ngón tay gõ nhịp lên chiếc bàn bên cạnh với vẻ bực dọc. "Theo ngươi thì ta phải làm gì đây, hỡi Giám mục?" ngài hỏi. "Chẳng phải ngươi đã nghe ta hứa danh dự với Hoàng hậu đó sao? Những lời ngươi nói cũng sáo rỗng như ngọn gió từ ống bễ thổi vào đám than tàn mà thôi."
"Thần nào dám," vị Giám mục xảo quyệt đáp, "chỉ lối đưa đường cho một bậc minh chủ sáng suốt bậc nhất như bệ hạ; nhưng giả sử thần là Quốc vương nước Anh, thần sẽ nhìn nhận sự việc theo thế này: Thần đã hứa với Hoàng hậu của mình rằng, chẳng hạn như trong vòng bốn mươi ngày, tên kẻ cướp xảo quyệt nhất toàn cõi nước Anh sẽ được tự do đến đi tùy ý; thế nhưng, kìa! Thần đã tóm được tên ngoài vòng pháp luật này trong tầm tay; vậy chẳng lẽ thần lại vì một lời hứa được thốt ra trong lúc vội vã mà dại dột bám lấy nó hay sao? Giả sử thần đã hứa làm theo mệnh lệnh của Hoàng hậu, để rồi ngài bảo thần hãy tự sát đi; vậy chẳng lẽ thần lại nhắm mắt nhắm mũi mà lao đầu vào lưỡi gươm của mình sao? Thần sẽ tự biện luận trong lòng như thế đấy. Hơn thế nữa, thần sẽ tự nhủ rằng, đàn bà vốn chẳng hiểu gì về những đại sự liên quan đến việc trị quốc; và tương tự, thần biết phụ nữ luôn có thói quen cả thèm chóng chán, hệt như việc ngặt một nhành hoa cúc ven đường rồi lại vứt xé đi khi hương thơm đã nhạt phai; thế dẫu người có đem lòng cảm mến tên tướng cướp này đi chăng nữa, tình cảm ấy rồi cũng sẽ phai nhạt và rơi vào quên lãng. Còn phần thần, thần đang nắm trong tay tên ác nhân lớn nhất nước Anh, lẽ nào thần lại mở bàn tay ra để hắn sổng mất qua kẽ tay mình hay sao? Tâu bệ hạ, nếu thần là Quốc vương nước Anh, thần sẽ tự nhủ với lòng mình như thế." Cứ thế, vị Giám mục rỉ tai, và nhà vua đã lắng nghe lời khuyên nhủ hiểm độc ấy, cho đến khi ngài quay sang bảo Sir Robert Lee hãy phái sáu tráng sĩ thuộc đội ngự lâm đi bắt Robin Hood cùng ba tên thuộc hạ của hắn.
Bấy giờ, Sir Robert Lee là một hiệp sĩ nhân hậu và cao quý, ngài cảm thấy đau đớn tận tâm can khi thấy nhà vua nuốt lời hứa một cách phũ phàng như vậy; tuy nhiên, ngài chẳng nói gì cả, bởi ngài thừa hiểu nhà vua đang căm ghét Robin Hood đến nhường nào. Dẫu vậy, ngài không phái đội ngự lâm đi ngay lập tức, mà đi tìm Hoàng hậu trước, kể hết mọi chuyện đã xảy ra và giục người hãy gửi tin báo nguy cho Robin. Ngài làm điều này không phải vì sự an nguy của Robin Hood, mà là vì muốn bảo vệ danh dự cho chủ nhân của mình nếu có thể. Nhờ vậy mà khi đội ngự lâm đến bãi bắn cung sau đó một lúc, họ chẳng thấy Robin cùng đồng bọn đâu cả, và thế là chẳng vớt vát được chút lợi lộc nào ở chốn hội hè ấy.
Buổi chiều đã gần trôi qua khi Robin Hood, Little John, Will và Allan bắt đầu lên đường trở về nhà, họ vui vẻ lê bước qua ánh chiều vàng vạt xéo, rồi chẳng mấy chốc ánh sáng ấy chuyển sang sắc đỏ hồng khi mặt trời lặn dần về phía chân trời. Những chiếc bóng ngả dài, cuối cùng hòa lẫn vào sắc xám của buổi hoàng hôn dịu ngọt. Con đường lớn đầy bụi bặm nằm trắng xóa giữa những hàng rào tối thẫm, bốn bóng người lê bước trên đó trông như bốn cái bóng, tiếng giày dép nện xuống nghe rõ mồn một, và tiếng trò chuyện của họ vang lên trong trẻo giữa bầu không gian tĩnh lặng. Vầng trăng tròn vành vạnh đang lững lờ trôi lên bầu trời phía đông thì họ nhìn thấy những ánh đèn lấp lánh của thị trấn Barnet hiện ra trước mắt, cách Luân Đôn chừng mười hay mười hai dặm. Họ bước xuống qua những con đường rợp bóng đá và đi ngang qua những ngôi nhà ấm cúng với phần mái hiên nhô ra, trước ngưỡng cửa nhà, các thị dân và thợ thủ công đang ngồi quây quần bên gia đình dưới ánh trăng êm ả, để rồi cuối cùng, ở phía bên kia của ngôi làng nhỏ, họ tới một quán trọ nhỏ xinh được bao phủ bởi ngàn hoa hồng và dây kim ngân. Robin Hood dừng chân trước quán trọ này, bởi chốn ấy khiến hắn vô cùng ưng ý. Hắn cất tiếng: "Chúng ta sẽ dừng chân trọ lại đây và nghỉ ngơi qua đêm, hỡi các bạn, vì chúng ta đã rời xa thị trấn Luân Đôn và cơn thịnh nộ của nhà vua một khoảng an toàn rồi. Hơn nữa, nếu ta đoán không lầm, chúng ta sẽ tìm được những món ăn thức uống tuyệt hảo bên trong. Các chú nghĩ sao nào?"
"Thưa đại nhân, quả thực là như vậy," Little John đáp, "lệnh của ngài và việc làm của tôi luôn tâm đắc hợp ý nhau như bánh ngọt với rượu ale vậy. Tôi cũng xin đề nghị là hãy vào trong thôi."
Bấy giờ Will Scarlet mới lên tiếng: "Tôi lúc nào cũng sẵn sàng làm theo lời ngài dặn, thưa chú, nhưng tôi vẫn ao ước chúng ta có thể đi thêm được một quãng đường nữa hãy nghỉ ngơi qua đêm. Mặc dù vậy, nếu ngài thấy thế là tốt nhất, tôi cũng xin theo ý kiến vào quán trọ nghỉ qua đêm."
Thế là họ bước vào trong và gọi những món ngon nhất mà quán trọ có thể thết đãi. Ngay sau đó, một bữa tiệc thịnh soạn được dọn lên trước mặt họ, kèm theo hai chai rượu vang cổ hảo hạng để tẩy trần. Những món này được phục vụ bởi một cô nàng vừa tròn trĩnh lại vừa phúng phính đáng yêu nhất mà bạn có thể tìm thấy trên khắp xứ sở này. Đến nỗi Little John — kẻ luôn để mắt tới những bóng hồng xinh đẹp ngay cả khi đồ ăn thức uống đang bày trước mặt — liền chống nũng hai tay lên hông, đăm đăm nhìn cô nàng và nháy mắt đưa tình mỗi khi thấy nàng liếc nhìn về phía mình. Khi ấy, nếu được chứng kiến cảnh cô nàng cười rúc rích vì thích thú, rồi lại liếc xéo Little John với cái lúm đồng tiền hiện lên ở cả hai bên má, hẳn bạn sẽ phải buồn cười; bởi tên lãng tử này luôn có cách làm xiêu lòng phụ nữ.
Thế là bữa tiệc trôi qua trong tiếng cười vui vẻ, và chưa có quán trọ nào từng chứng kiến những thực khách khỏe ăn như bốn tráng sĩ này; nhưng cuối cùng họ cũng dùng xong bữa, dường như họ ăn mãi mà chẳng bao giờ chịu dừng lại, rồi cứ thong thả nhâm nhi ly rượu vang. Giữa lúc họ đang ngồi đó, người chủ quán bất ngờ bước vào và thông báo rằng có một người đang đứng ở cửa, một vị tiểu công tử trẻ tuổi tên là Richard Partington, thuộc đoàn tùy tùng của Hoàng hậu, muốn gặp mặt chàng thanh niên mặc áo xanh và cần trao đổi ngay lập tức không chần chừ. Robin liền đứng dậy nhanh chóng, bảo chủ quán đừng đi theo mình, rồi để lại những người khác đang ngơ ngác nhìn nhau và tự hỏi không biết chuyện gì sắp xảy ra.
Khi bước ra khỏi quán trọ, Robin thấy chàng thanh niên trẻ tuổi Richard Partington đang ngồi trên lưng ngựa dưới ánh trăng trắng xóa, chờ đợi sự xuất hiện của mình.
"Ngài mang theo tin tức gì thế, thưa sứ giả?" Robin hỏi. "Tôi hy vọng đó không phải là điều chẳng lành."
"À," Partington trẻ tuổi đáp, "nói về chuyện đó thì đúng là rất chẳng lành. Nhà vua đang vô cùng nổi giận với anh bởi tên Giám mục hèn hạ ở Hereford. Ngài đã sai người đến bắt anh tại bãi bắn cung ở Finsbury Fields, nhưng không tìm thấy anh ở đó, ngài đã tập hợp lực lượng vũ trang gồm hơn năm trăm quân và đang hối hả phái họ đi theo chính con đường này để hướng về Sherwood, nhằm bắt sống anh dọc đường hoặc ngăn cản anh quay trở lại chốn rừng xanh. Ngài đã trao quyền chỉ huy toàn bộ số quân này cho Giám mục thành Hereford, và anh cũng thừa biết mình phải mong đợi điều gì từ vị Giám mục ấy rồi đấy — một cái chết chóng vánh và một sợi dây thừng dài. Hai tốp kỵ binh đã xuất hiện trên đường, cách tôi không xa phía sau, thế nên tốt nhất là anh hãy rời khỏi nơi này ngay lập tức, vì nếu còn chần chừ lâu hơn, rất có thể đêm nay anh sẽ phải ngủ trong một ngục tối lạnh ngéu. Hoàng hậu đã sai tôi đem lời nhắn này đến cho anh."
"Này Richard Partington," Robin nói, "đây là lần thứ hai cậu cứu mạng tôi, và nếu có dịp thích hợp, tôi sẽ cho cậu thấy rằng Robin Hood chưa bao giờ quên những ơn nghĩa này. Còn về vị Giám mục thành Hereford đó, nếu tôi còn bắt gặp ông ta lai vãng gần Sherwood một lần nữa, mọi chuyện chắc chắn sẽ chẳng mấy tốt đẹp cho ông ta đâu. Cậu có thể chuyển lời đến Hoàng hậu nhân từ rằng tôi sẽ rời khỏi nơi này không một chút chậm trễ, và sẽ đánh lừa chủ quán rằng chúng tôi đang đi đến Saint Albans; nhưng khi đã ra đến đường lớn, tôi sẽ đi một đường qua miền quê còn các thuộc hạ của tôi sẽ đi đường khác, để nhỡ một người rơi vào tay nhà vua thì những người khác may ra có thể trốn thoát. Chúng tôi sẽ đi những con đường vòng vèo, và nhờ thế, tôi hy vọng sẽ về đến Sherwood bình an vô sự. Giờ thì, thưa sứ giả, chúc cậu lên đường bình an."
"Chúc anh bình an, hỡi tráng sĩ dũng cảm," Partington trẻ tuổi nói, "và cầu mong anh về đến nơi ẩn náu an toàn." Thế là họ bắt tay nhau, và chàng trai trẻ quay đầu ngựa phi nước đại trở về Luân Đôn, trong khi Robin bước vào trong quán trọ thêm một lần nữa.
Ở đó, hắn thấy các thuộc hạ của mình đang ngồi im lặng chờ đợi sự trở lại của hắn; chủ quán cũng có mặt, vì ông ta tò mò muốn biết ngài Partington có chuyện gì mà lại tìm gặp tên thanh niên mặc áo xanh. "Đứng dậy nào, các chiến hữu vui tính của ta!" Robin hô lớn, "đây không phải là chỗ cho chúng ta ở lại nữa, bởi những kẻ đang lùng bắt chúng ta sắp đến rồi, nếu rơi vào tay chúng, chúng ta sẽ chẳng có nổi một chút may mắn nào đâu. Thế nên chúng ta sẽ lại lên đường, và đêm nay sẽ không dừng chân cho đến khi tới Saint Albans." Ngay lập tức, hắn rút hầu bao trả tiền nước nôi cho chủ quán, rồi họ rời khỏi quán trọ.
Khi ra đến con đường cái quan bên ngoài thị trấn, Robin dừng lại và kể hết cho họ nghe những gì đã diễn ra giữa cậu thiếu niên Partington và mình, rằng đám tay sai của nhà vua đang bám đuổi sát gót. Sau đó, hắn bảo họ từ đây sẽ chia tay mỗi người một ngả: ba người họ đi về hướng đông còn hắn đi về hướng tây, cứ thế đi né tránh các trục đường chính và theo những lối mòn quanh co để về đến Sherwood. "Vậy nên, hãy thật khôn ngoan và cẩn trọng," Robin Hood căn dặn, "và nhớ tránh xa những con đường hướng về phía bắc cho đến khi các cậu đã tiến sâu về phía đông. Còn anh, Will Scarlet, hãy dẫn đầu những người khác, vì anh vốn có cái đầu đầy mưu mẹo." Nói đoạn, Robin ôm hôn ba người bạn trên má, họ cũng hôn lại hắn, thế là họ chia tay nhau.
Chẳng bao lâu sau, khoảng chừng hai mươi tên lính của nhà vua rầm rập phóng ngựa tới trước cửa quán trọ ở thị trấn Barnet. Tại đây, chúng nhảy xuống ngựa và nhanh chóng bao vây tòa nhà, tên đội trưởng cùng bốn tên khác bước thẳng vào căn phòng mà các tráng sĩ vừa ngồi. Nhưng chúng lại nhận ra những chú chim đã bay cao và nhà vua lại một lần nữa bị hố.
"Tôi cứ tưởng chúng là những kẻ ngỗ ngược," chủ quán nói khi nghe tin đám binh lính đang tìm kiếm ai. "Nhưng tôi nghe tên khốn mặc áo xanh đó nói rằng chúng sẽ đi thẳng đến Saint Albans; vì thế, nếu các ông phóng nhanh, may ra có thể bắt kịp chúng trên đoạn đường cái quan từ đây đến đó." Nghe tin này, tên đội trưởng vô cùng cảm kích chủ quán, bèn gọi thủ hạ tập hợp lại, lên ngựa phóng đi và tiếp tục phi nước đại đuổi theo Saint Albans trong một cuộc tìm kiếm vô vọng.
Sau khi Little John, Will Scarlet và Allan a Dale rời khỏi con đường cái quan gần Barnet, họ hành trình về hướng đông, đi liên tục không nghỉ ngơi chừng nào đôi chân còn chịu đựng được, cho đến khi tới Chelmsford ở Essex. Từ đó, họ rẽ về hướng bắc, đi qua Cambridge và Lincolnshire để đến thị trấn trù phú Gainsborough. Tiếp đó, họ hướng về phía tây và phía nam, cuối cùng cũng đặt chân đến vùng biên giới phía bắc của Rừng Sherwood mà suốt dọc đường đi không hề chạm trán lấy một nhóm lính nào của nhà vua. Họ đã bôn ba suốt tám ngày trời như thế trước khi về đến chốn rừng xanh an toàn, nhưng khi tới khoảng rừng thưa xanh ngát, họ nhận ra Robin vẫn chưa trở về.
Bởi vì Robin không gặp nhiều may mắn trong hành trình trở về như các thuộc hạ của mình, như các bạn sẽ được nghe kể ngay sau đây.
Sau khi rời khỏi con đường lớn miền bắc, hắn quay mặt về phía tây, đi qua Aylesbury để đến Woodstock xinh đẹp ở Oxfordshire. Từ đó, hắn hướng bước chân về phía bắc, đi một quãng đường dài qua thị trấn Warwick cho đến khi tới Dudley thuộc Staffordshire. Mất đến bảy ngày hắn mới lãng du đến được đây, và ngỡ rằng mình đã tiến đủ xa về phía bắc, hắn bèn rẽ về phía đông, né tránh các con đường lớn và chọn những đường tắt cùng lối đi cỏ mọc rậm rạp, đi qua Litchfield và Ashby de la Zouch để hướng về Sherwood, cho đến khi tới một nơi gọi là Stanton. Lúc này, trái tim Robin bắt đầu vui mừng khôn tả, vì hắn tưởng rằng hiểm nguy đã qua đi và chẳng mấy chốc mũi hắn sẽ lại được hít hà bầu không khí ngập tràn hương thơm của chốn rừng xanh. Nhưng đời lắm ngã rẽ bất ngờ, và Robin sắp sửa phải nếm trải điều đó. Cơ sự là thế này:
Khi đám tay sai của nhà vua nhận ra chúng đã bị hố ở Saint Albans và không tài nào tìm thấy tung tích của Robin cùng đồng bọn dù lùng sục khắp nơi, chúng chẳng biết phải làm gì hơn. Chẳng mấy chốc, một tốp kỵ binh nữa lại kéo đến, rồi thêm tốp nữa, cho đến khi tất cả các con đường ngập tràn ánh trăng đều đặc kín binh lính vũ trang. Giữa lúc nửa đêm về sáng, thêm một toán quân nữa đến thị trấn, và đi cùng chúng là Giám mục thành Hereford. Khi nghe tin Robin Hood lại một lần nữa trốn thoát khỏi chiếc bẫy, ông ta không chần chừ dù chỉ một phút, lập tức tập hợp các cánh quân lại và hối hả tiến về phía bắc, đồng thời để lại lệnh cho toàn bộ lực lượng kéo đến Saint Albans phải nhanh chóng đuổi theo mà không được trì hoãn. Vào buổi chiều ngày thứ tư, ông ta đã đến thị trấn Nottingham, và ở đó, ông ta lập tức chia quân thành từng nhóm sáu, bảy người, rải đi khắp các vùng thôn quê, phong tỏa mọi ngả đường lớn nhỏ hướng về phía đông, phía nam và phía tây của Sherwood. Quan Thẩm phán xứ Nottingham cũng triệu tập toàn bộ lực lượng của mình và hợp sức với vị Giám mục, bởi hắn thấy đây là cơ hội ngàn năm có một để tính sổ sòng phẳng với Robin Hood. Will Scarlet, Little John và Allan a Dale vừa mới né được đám lính của nhà vua ở phía đông, bởi chỉ đúng một ngày sau khi họ vượt qua phòng tuyến và bước vào Sherwood, những con đường mà họ vừa đi qua đã bị phong tỏa; thế nên nếu họ chần chừ trên đường hành trình, chắc chắn họ đã rơi vào tay vị Giám mục rồi.
Nhưng Robin thì chẳng hay biết gì về tất cả những chuyện đó; thế nên hắn vừa thong thả huýt sáo bước đi trên con đường qua khỏi Stanton, lòng thảnh thơi chẳng bận tâm lo lắng điều gì. Cuối cùng, hắn tới một khúc suối nhỏ chảy tràn qua mặt đường thành một lớp nước nông, róc rách và lấp lánh khi trườn qua lòng suối rải đầy sỏi vàng. Tại đây, vì khát nước nên Robin dừng lại, quỳ xuống, khum hai lòng bàn tay lại thành một chiếc cốc và bắt đầu uống. Hai bên đường, kéo dài một đoạn xa là những bụi cây rậm rạp đan xen cùng những cây non, và tiếng chim hót ríu rít trong đó khiến lòng Robin vô cùng thích thú, bởi nó gợi cho hắn nhớ về Sherwood, và hắn có cảm giác như đã từ lâu lắm rồi mình chưa được hít thở bầu không khí của chốn rừng xanh. Nhưng bất ngờ thay, giữa lúc hắn đang cúi người uống nước ấy, một vật gì đó vù vù sượt qua tai hắn và cắm phập tõm xuống lớp sỏi nước bên cạnh. Nhanh như chớp, Robin tung người đứng dậy, chỉ trong một bước nhảy đã vượt qua dòng suối lẫn vệ đường, lao đầu vào bụi rậm mà chẳng buồn ngoảnh lại, bởi hắn thừa biết thứ vừa bay vèo qua tai mình với âm thanh đầy chết chóc ấy chính là một mũi tên lông ngỗng xám, và việc chần chừ dù chỉ một khoảnh khắc cũng đồng nghĩa với cái chết. Ngay khi hắn lao vào lùm cây, sáu mũi tên nữa ào ạt cắm vào cành lá phía sau, một trong số đó xuyên qua chiếc áo đúp của hắn và suýt chút nữa đã găm sâu vào mạn sườn nếu không nhờ lớp áo giáp sắt bên trong. Ngay sau đó, một số lính của nhà vua phi ngựa hộc tốc phóng đến. Chúng nhảy xuống ngựa và lao thẳng vào bụi rậm truy đuổi Robin. Nhưng Robin rành địa hình nơi đây hơn chúng nhiều, lúc thì trườn bò, lúc thì khom người, chốc chốc lại băng qua một khoảng đất trống nhỏ, chẳng mấy chốc hắn đã bỏ xa bọn chúng, cuối cùng trồi lên một con đường khác cách nơi hắn vừa rời đi chừng tám trăm bước chân. Tại đây, hắn đứng lại một lát, lắng nghe tiếng hò hét vang vọng từ xa của bảy tên lính đang quần thảo trong bụi rậm hệt như bầy chó săn đã mất mùi con mồi. Sau đó, thắt chặt lại dải lưng quanh eo, hắn sải bước nhanh chân chạy về hướng đông, hướng về Sherwood.
Nhưng Robin đi chưa được ba furlong về hướng đó thì bất chợt đến đỉnh một ngọn đồi, và nhìn thấy bên dưới mình một tốp lính khác của nhà vua đang ngồi nghỉ mát dưới bóng râm ven đường ở thung lũng phía dưới. Thế là hắn không chần chừ dù chỉ một giây, nhận thấy bọn chúng vẫn chưa phát hiện ra mình, hắn liền quay đầu chạy ngược trở lại nơi vừa đến, vì biết rằng thà mạo hiểm trốn tránh đám người hãy còn đang quần thảo trong bụi rậm còn hơn là lao đầu vào vòng tay của đám lính ở thung lũng. Cứ thế, hắn cắm cổ chạy ngược lại với tốc độ nhanh nhất, và đã vượt qua các lùm cây an toàn thì bảy tên lính kia bất ngờ xuất hiện ngoài đường lớn. Chúng hò reo inh ỏi khi nhìn thấy hắn, tựa như tiếng thợ săn cất lên khi con hươu sổng chuồng, nhưng lúc ấy Robin đã ở cách chúng hơn một phần tư dặm, đang lao vút qua cánh đồng hệt như một con chó săn thỏ. Hắn chẳng hề giảm tốc độ mà cứ thế chạy đi, dặm này qua dặm khác, cho đến khi tới gần Mackworth, vượt qua sông Derwent, sát cạnh thị trấn Derby. Đến đây, nhận thấy bản thân đã tạm thời thoát khỏi hiểm nguy, hắn mới chịu giảm bớt tốc độ chạy và cuối cùng ngồi phịch xuống bên dưới một hàng rào nơi cỏ mọc rậm rạp và bóng râm mát mẻ nhất, để nghỉ ngơi và lấy lại hơi sức. "Ôi trời ơi, Robin," hắn tự nhủ với lòng mình, "đó suýt chút nữa là phen chết hụt hiểm nghèo nhất mà đời ngươi từng trải qua. Ta xin dõng dạc tuyên bố rằng cái lông của mũi tên độc ác ấy vừa mới mơn man qua tai ta khi nó xé gió bay qua đấy. Cuộc chạy đua vừa rồi khiến ta thèm thuồng cồn cào cả ruột gan đối với đồ ăn thức uống. Giờ thì ta khẩn cầu Thánh Dunstan hãy nhanh chóng ban cho ta chút thịt thà và bia bọt."
Dường như Thánh Dunstan sắp sửa đáp lại lời cầu nguyện của hắn, bởi dọc theo con đường có một gã thợ giày đang lầm lũi bước đi, gã Quince ở Derby, vừa mới đi giao một đôi giày cho người nông dân gần Kirk Langly và bây giờ đang trên đường trở về nhà, trong túi mang theo một con gà mái luộc béo ngậy và bên cạnh là một vò bia đầy đặn mà người nông dân đã tặng cho hắn để bày tỏ niềm vui khi nhận được đôi giày bền chắc. Quince hiền lành là một gã chân chất, nhưng trí tuệ của hắn có phần chậm chạp giống như cục bột chưa nướng, đến nỗi trong đầu hắn lúc nào cũng chỉ lặp đi lặp lại một suy nghĩ duy nhất: "Ba si-ling sáu xu rưỡi cho đôi giày của mày, hỡi Quince hiền lành — ba si-ling sáu xu rưỡi cho đôi giày của mày," và ý nghĩ ấy cứ luẩn quẩn mãi trong đầu hắn mà không tài nào nhét thêm được một chút bận tâm nào khác, hệt như một hạt đậu lăn tỏi trong chiếc bình trống không.
"Này, người anh em tốt," Robin cất tiếng gọi từ dưới hàng rào khi gã thợ giày đã đến khoảng cách đủ gần, "ngày đẹp trời thế này mà cậu vội vã đi đâu thế?"
Nghe có tiếng gọi, gã thợ giày khựng lại, và khi nhìn thấy một người lạ mặt mặc trang phục xanh lam bảnh bao, hắn bèn lên tiếng đáp lời một cách lịch sự. "Chúc ngài buổi chiều tốt lành, thưa đại nhân, thần xin thưa là thần vừa từ Kirk Langly tới, nơi thần đã bán đôi giày của mình và thu về ba si-ling sáu xu rưỡi bằng những đồng tiền vàng óng đẹp nhất mà ngài từng thấy, và thần xin để ngài biết rằng đó là những đồng tiền hoàn toàn do sức lao động chân chính mà có đấy. Nhưng nếu thần mạn phép được hỏi, thưa chàng trai khôi ngô, ngài làm gì ở dưới hàng rào thế kia?"
"À," Robin vui tính đáp, "ta ngồi dưới hàng rào này để rắc muối vào đuôi những chú chim vàng đấy; nhưng quả thực cậu chính là con gà đầu tiên đáng giá mà ta nhìn thấy trong ngày lành này."
Nghe những lời đó, mắt gã thợ giày mở to hết cỡ, và miệng hắn tròn vo vì ngạc nhiên, hệt như một cái lỗ mọt trên tấm ván rào. "Trời đất quỷ thần ơi," hắn thốt lên, "ngài xem kìa! Thần chưa từng nhìn thấy những chú chim vàng ấy bao giờ. Mà ngài thực sự tìm thấy chúng ở những hàng rào này thật sao, hỡi người anh em? Xin ngài hãy nói cho thần biết, có nhiều lắm không? Thần cũng rất muốn tự mình tìm bắt chúng."
"Đúng vậy, quả thật là thế," Robin đáp, "chúng đông đúc ở đây hệt như cá trích tươi ở Cannock Chase vậy."
Gã thợ giày ngập chìm trong kinh ngạc: "Thế cơ á! Và ngài thực sự bắt chúng bằng cách rắc muối lên cái đuôi xinh xắn của chúng ư?"
"Phải," Robin đáp, "nhưng loại muối này có chút kỳ lạ, để ta nói cho cậu biết, vì nó chỉ có thể thu được bằng cách đun cạn một lít ánh trăng trong một chiếc đĩa gỗ, và khi đó người ta cũng chỉ thu được một nhúm nhỏ mà thôi. Mà này, chàng trai khôi ngô, trong chiếc túi bên hông và trong vò kia cậu đựng gì thế?"
Nghe câu hỏi đó, gã thợ giày mới cúi xuống nhìn những món đồ mà Robin vui tính vừa nhắc tới, bởi ý nghĩ về chú chim vàng đã khiến hắn quên bẵng đi mất, và hắn phải mất một lúc mới gom nhặt lại được ký ức trong đầu. "À," cuối cùng hắn cũng đáp, "trong này là bia March hảo hạng, còn trong kia là một con gà mái béo ngậy. Quả thực, Quince thợ giày hôm nay sẽ có một bữa tiệc thịnh soạn nếu ta đoán không lầm."
"Nhưng này Quince tốt bụng," Robin nói, "cậu có muốn bán những thứ đó cho tôi không? Nghe cậu tả mà tai tôi thèm thuồng quá. Tôi sẽ đổi cho cậu bộ quần áo màu xanh đẹp đẽ này đang mặc trên người và cộng thêm mười si-ling để lấy trang phục, chiếc tạp dề da cùng chỗ bia và gà mái của cậu. Cậu thấy sao nào, anh bạn lực điền?"
"Thôi đi, ngài đang đùa cợt với thần đấy phỏng," gã thợ giày bảo, "vì quần áo của thần thô ráp và đầy mảnh vá, còn trang phục của ngài thì bằng vải cao cấp và vô cùng đẹp mắt."
"Tôi chẳng hề đùa cợt câu nào đâu," Robin khẳng định. "Nào, cởi chiếc áo khoác của cậu ra và tôi sẽ cho cậu thấy, vì tôi nói thật là tôi rất thích trang phục của cậu. Hơn nữa, tôi sẽ đối xử tử tế với cậu, vì tôi sẽ lập tức thưởng thức những món ngon mà cậu mang theo, và cậu sẽ được mời tham gia bữa ăn đó." Nói đoạn, hắn bắt đầu cởi chiếc áo đúp của mình ra, và gã thợ giày thấy hắn quả quyết như vậy cũng bắt đầu cởi quần áo của mình ra, bởi bộ trang phục của Robin Hood quá đỗi bắt mắt hắn. Thế là mỗi người khoác lên mình y phục của người kia, và Robin đưa cho gã thợ giày chân chất mười đồng si-ling sáng loáng mới tinh. Robin vui tính cất lời: "Đời ta từng trải qua bao nhiêu thân phận, nhưng chưa bao giờ ta làm một anh thợ giày chân chính cả. Nào, bạn hiền, chúng ta hãy cùng nhập tiệc và ăn thôi, vì có thứ gì đó trong bụng ta đang kêu réo ầm ĩ vì con gà mái béo ngon lành kia rồi." Thế là cả hai cùng ngồi xuống và bắt đầu đánh chén một cách ngon lành, để rồi khi ăn xong, bộ xương gà mái đã được gặm sạch trơn không còn một mảnh.
Sau đó, Robin duỗi thẳng chân ra với cảm giác thoải mái dễ chịu ngập tràn trong lồng ngực. Hắn cất tiếng: "Nghe giọng điệu của cậu, hỡi Quince thân mến, ta biết trong đầu cậu đang lãng vãng vài khúc ca hay ho chẳng khác gì những chú ngựa con tung tăng ngoài đồng cỏ. Ta xin cậu, hãy cất cao một bài cho ta nghe đi."
"Thần cũng dắt túi được dăm ba bài," gã thợ giày đáp, "toàn những thứ làng nhàng kém cỏi thôi, nhưng dẫu sao ngài đã thích thì thần xin hiến tặng một bài." Thế rồi, hắng giọng bằng một ngụm bia, hắn cất tiếng hát:
Trong muôn vàn niềm vui, điều ta yêu nhất,
Hỡi Nan cô nàng tung tăng rộn rã ê a,
Và điều khiến tâm hồn ta rung động ngây ngất,
Chính là tiếng vại bia chạm vào nhau lanh lảnh hoan ca.
Mọi hạnh phúc khác ta sẵn sàng vứt bỏ,
Hỡi Nan cô nàng tung tăng rộn rã ê a,
Nhưng riêng điều này—
Gã thợ giày lực điền chẳng thể hát tiếp được nữa, bởi bất ngờ có sáu kỵ binh lao xồng xộc đến chỗ họ đang ngồi, thô bạo túm lấy người thợ thủ công chân chất, dựng đứng hắn dậy và suýt thì giật tung cả quần áo trên người hắn. "Ha!" tên đội trưởng gầm lên với một tiếng hét vang dội đầy hoan hỉ, "Cuối cùng thì chúng ta cũng tóm được mày rồi phải không, tên khốn mặc áo xanh kia? Ngay bây giờ, chúc tụng danh tính Thánh Hubert thay cho chúng ta, vì chúng ta vừa kiếm thêm được tám mươi bảng tiền thưởng so với lúc nãy, bởi vị Giám mục thành Hereford đã hứa thưởng chừng ấy cho toán quân nào bắt được mày giao cho ông ta. Ồ ho! Tên xảo quyệt! Mày cứ định ra điều vô tội cơ đấy! Bọn tao lạ gì cái thói cáo già của mày nữa. Nhanh chóng theo bọn tao về để cắt đuôi mày ngay lập tức nào." Nghe những lời đó, gã thợ giày tội nghiệp ngơ ngác đảo mắt nhìn xung quanh với đôi mắt xanh to tròn hệt như mắt của một con cá chết, trong khi miệng hắn há hốc ra như thể vừa nuốt trọn tất cả lời nói vào bụng nên mất toi cả giọng.
Robin cũng há hốc mồm trợn trừng mắt ra chiều kinh ngạc, hệt như những gì gã thợ giày sẽ làm nếu ở vào hoàn cảnh của hắn. "Trời đất quỷ thần ơi," hắn thốt lên. "Thần chẳng biết mình đang ngồi ở đây hay ở tận chốn khỉ ho cò gáy nào nữa! Ý nghĩa của cái nồi cháo heo này là gì vậy, các ngài quý tộc kính mến? Chắc chắn đây là một anh chàng hiền lành tử tế mà."
"'Anh chàng hiền lành tử tế' mà mày dám thốt ra cái giọng đó hả, tên hề?" một tên lính quát lên. "Tao bảo cho mày biết đây chính là tên cướp mà người ta gọi là Robin Hood."
Nghe câu nói này, gã thợ giày càng thêm trợn tròn mắt há hốc mồm, bởi trong cái đầu nhỏ bé tội nghiệp của hắn lúc ấy các ý nghĩ đang cãi cọ hỗn loạn khiến trí tuệ mụ mị đi vì đám bụi bặm và trấu trấu trong đầu. Hơn nữa, khi nhìn sang Robin Hood và thấy chàng tráng sĩ trông giống y hệt như những gì hắn biết về bản thân mình, hắn bắt đầu hoài nghi và tự hỏi liệu có khi nào chính hắn mới thực sự là tên tướng cướp khét tiếng kia không. Hắn lẩm bẩm với giọng điệu chậm chạp ngập ngừng: "Chẳng lẽ ta thực sự là con người đó sao?—Lúc đầu ta cứ nghĩ—nhưng không, Quince ạ, mày nhầm rồi—tuy nhiên—có phải thế không?—Không, chắc chắn ta phải là Robin Hood rồi! Dẫu vậy, quả thực ta chưa từng nghĩ từ một người thợ thủ công chân chất lại có ngày hóa thành một tráng sĩ lừng lẫy nhường này."
"Khốn khổ thay!" Robin Hood cất giọng than thở, "Các người nhìn kìa! Hãy xem cách đối xử tàn nhẫn của các người đã làm tụt mất trí khôn của chàng trai tội nghiệp này và biến nó thành chua lét như thế nào kìa! Bản thân ta đây mới chính là Quince, người thợ giày của thị trấn Derby."
"Thế hóa ra là vậy ư?" Quince thốt lên. "Vậy thì quả thực, ta là một kẻ khác rồi, và chẳng thể là ai khác ngoài Robin Hood. Bắt lấy ta đi, hỡi các bạn; nhưng để ta nói cho các người biết, các người vừa chạm tay vào người tráng sĩ cường tráng nhất từng đặt chân lên chốn rừng xanh rồi đấy."
"Mày lại định giở trò điên khùng nữa phải không?" tên đội trưởng quát. "Này Giles, lấy một sợi dây thừng và trói quặt tay tên khốn này ra sau lưng cho ta. Ta đảm bảo chúng ta sẽ lấy lại được trí khôn cho hắn khi đưa được hắn đến diện kiến vị Giám mục kính yêu của chúng ta ở thị trấn Tutbury." Ngay lập tức, chúng trói hai tay gã thợ giày ra sau lưng rồi kéo hắn đi bằng một sợi dây thừng, hệt như cách người nông dân dẫn con bê mua từ phiên chợ về. Robin đứng nhìn theo bóng họ khuất dần và cười ngặt nghẽo đến mức nước mắt ròng ròng trên má; bởi hắn biết sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống đầu gã thợ giày cả, và hắn tự tưởng tượng ra khuôn mặt của vị Giám mục khi Quince tội nghiệp được dẫn đến diện kiến như thể là Robin Hood. Sau đó, một lần nữa hướng bước chân về phía đông, hắn rảo bước thật nhanh về hướng Nottinghamshire và Rừng Sherwood.
Nhưng Robin Hood đã phải trải qua nhiều gian nan hơn hắn tưởng tượng. Hành trình từ Luân Đôn của hắn vừa dài vừa khắc nghiệt, và chỉ trong một tuần lễ, hắn đã đi được hơn một trăm bốn mươi dặm đường. Hắn nghĩ bây giờ mình có thể tiếp tục lữ hành không nghỉ ngơi cho đến khi về tới Sherwood, nhưng đi chưa được nửa điểm chặng đường, hắn đã cảm thấy sức lực trong người suy kiệt hệt như bờ sông bị dòng nước xói mòn. Hắn ngồi xuống nghỉ ngơi, nhưng thâm tâm thừa hiểu rằng hôm nay mình không thể đi tiếp được nữa, bởi đôi bàn chân nặng trịch hệt như những khối chì vì quá đỗi mệt mỏi. Lại một lần nữa hắn gượng đứng dậy bước đi, nhưng đi được dặm hai dặm thì đành chịu thua, vừa lúc ấy thấy một quán trọ bên đường liền bước vào, gọi chủ quán và bảo ông ta dẫn lên phòng, dẫu cho mặt trời lúc bấy giờ chỉ vừa mới lặn xuống phía chân trời tây. Quán chỉ có ba phòng ngủ, và chủ quán dẫn Robin Hood vào căn phòng tồi tàn nhất, nhưng chàng Robin bé nhỏ chẳng mảy nào bận tâm đến vẻ ngoài của căn phòng, vì đêm nay dẫu có phải ngủ trên một chiếc giường rải đầy đá vụn thì hắn cũng ngáy khò khò được. Thế là, chẳng cần chần chừ thêm gì nữa, hắn cởi trần trụi quần áo, lăn uỳnh lên giường và chìm vào giấc ngủ gần như ngay khi đầu vừa chạm gối.
Chẳng bao lâu sau khi Robin chìm vào giấc ngủ, một đám mây lớn đen kịt lú đầu lên sau những ngọn đồi ở phía tây. Nó dâng lên ngày một cao hơn cho đến khi cuồn cuộn chất đống bao trùm màn đêm hệt như một ngọn núi bóng tối. Xung quanh phía dưới đám mây, chốc chốc lại lóe lên một tia chớp đỏ đục ngầu, rồi chẳng mấy chốc tiếng gầm gừ ngắn ngủn, trầm đục của cơn giông bão sắp tới vang lên. Ngay sau đó, bốn vị thị dân lực lưỡng của thị trấn Nottingham phi ngựa tới, vì đây là quán trọ duy nhất trong bán kính năm dặm, và họ chẳng đời nào muốn bị kẹt lại giữa trận giông bão đang kéo đến này. Giao ngựa cho người giữ chuồng, họ bước vào căn phòng đẹp nhất của quán trọ, nơi những cọng sọt xanh mướt được rải đều khắp sàn nhà, rồi gọi những món ăn thức uống thịnh soạn nhất mà quán có. Sau khi ăn uống no nê, họ giục chủ quán dẫn lên phòng ngủ, vì hôm nay ai nấy đều rã rời sau chặng đường dài phi ngựa từ Dronfield tới. Thế là họ kéo nhau về phòng, cằu nhằu vì phải ngủ chung hai người một giường, nhưng những nỗi phiền muộn này, cũng như mọi bận tâm khác, nhanh chóng chìm vào sự yên bình của giấc ngủ.
Và lúc ấy, cơn gió giật đầu tiên ùa tới, rít qua khu nhà, đập cửa ra vào lẫn cửa chớp rầm rầm, mang theo mùi hương của cơn mưa sắp đến cùng cuồn cuộn mây bụi và lá khô. Hệt như ngọn gió mang theo một vị khách không mời, cánh cửa bỗng bật mở và một vị tu sĩ thuộc tu viện Emmet bước vào, trông ông ta ra điều quyền quý qua lớp áo choàng mềm mại bóng mượt cùng chuỗi hạt tràng hạt đắt tiền. Ông gọi chủ quán, dắt con lừa của mình ra chuồng cho ăn uống chu đáo rồi mới mang ra những món ngon nhất của quán. Chẳng mấy chốc, một đĩa lòng dần hành tây thơm phức cùng những chiếc bánh bao nhỏ béo ngậy được dọn lên trước mặt ông, kèm theo một vò rượu vang Malmsey đậm đà, và vị tu sĩ đáng kính lập tức chiến đấu với món ăn bằng tất cả sự hào hứng và nhiệt thành, để đến nỗi chẳng mấy chốc chẳng còn sót lại gì ngoài một vũng nước xốt nhỏ xíu ở giữa đĩa, chẳng đủ để duy trì sự sống cho một con chuột đang chết đói.
Trong khi đó, cơn bão chính thức bùng nổ. Một đợt gió giật khác ào qua, mang theo vài hạt mưa nặng trịch bắt đầu rơi lộp bộp, quật vào những khung cửa kính hệt như hàng trăm bàn tay nhỏ bé. Những tia chớp lóe sáng rực rỡ soi rọi từng giọt mưa, vang lên kèm theo những tiếng sấm sét ì đùng rền vang cứ như thể Thánh Swithin đang bận rộn lăn những thùng nước lớn trên mặt đất gồ ghề phía trên. Đám phụ nữ thét lên hoảng hốt, còn mấy gã trai vui tính ở phòng uống rượu vội vàng vòng tay ôm lấy eo họ để trấn an.
Cuối cùng, vị tu sĩ đáng kính cũng bảo chủ quán dẫn mình về phòng ngủ; nhưng khi nghe tin ông phải ngủ chung giường với một gã thợ giày, ông tỏ ra khó chịu chẳng kém gì bất kỳ kẻ nào ở nước Anh này, dẫu vậy chẳng còn cách nào khác, ông buộc phải ngủ ở đây hoặc chẳng có chỗ nào mà ngủ cả; thế là cầm lấy ngọn nến, ông lầm bầm cằu nhằu bước đi hệt như tiếng sấm từ xa vọng lại. Khi đến căn phòng mình sẽ nghỉ ngơi, ông giơ ngọn nến lên soi rói Robin từ đầu đến chân; lúc này sắc mặt ông có phần dịu lại, bởi thay vì một gã râu ria xồm xoàm thô kệch, trước mắt ông lại là một chàng trai trẻ sạch sẽ và tươi tắn hiếm thấy; thế là, cởi bỏ y phục, ông cũng lủi thủi chui vào giường, nơi Robin đang ngáy khò khò và rên rỉ trong giấc ngủ cũng dịch sang nhường chỗ cho ông. Tôi dám chắc Robin đang chìm trong giấc ngủ say sưa hơn bất kỳ ngày nào trước đó, bằng không hắn đã chẳng thể nằm yên phăng phắc bên cạnh một kẻ thuộc giáo phu như thế. Còn về phần vị tu sĩ, giả sử biết được kẻ nằm cạnh mình chính là Robin Hood, bạn có thể tin chắc rằng thà ông ta ngủ với một con rắn độc còn hơn là chung giường với hắn.
Thế là đêm qua đi trong sự yên bình tương đối, nhưng vừa lúc rạng đông hé rạng, Robin mở mắt và xoay đầu trên gối. Khi ấy, hắn há hốc mồm trợn trừng mắt kinh ngạc, bởi ngay bên cạnh hắn là một kẻ đã cạo trọc đầu và nhẵn nhụi râu tóc, khiến hắn thừa biết đó chắc chắn là một người thuộc hàng tu sĩ. Hắn véo mạnh vào đùi mình một cái đau điếng, và nhận ra bản thân đã tỉnh giấc bèn ngồi bật dậy, trong khi người kia vẫn đang ngủ say sưa bình yên hệt như đang ở nhà an toàn trong tu viện Emmet. "Nào," Robin tự nhủ, "ta tự hỏi làm thế nào mà thứ này lại rớt lên giường ta trong đêm thế nhỉ." Nghĩ vậy, hắn nhẹ nhàng dịch người đứng dậy để không đánh thức người kia, đưa mắt quan sát xung quanh thì bắt gặp bộ y phục của vị tu sĩ đang vắt trên chiếc ghế băng gần tường. Ban đầu, hắn nghiêng đầu ngắm nghía bộ quần áo, rồi lại nhìn sang vị tu sĩ và chậm rãi nháy một bên mắt. Hắn lẩm bẩm: "Này hiền huynh Dù-ngươi-tên-gì-đi-nữa, vì huynh đã mượn giường của ta một cách thoải mái như vậy nên ta cũng mượn tạm bộ y phục của huynh để đáp lễ nhé." Nói đoạn, hắn lập tức khoác lên mình bộ trang phục của người tu hành, nhưng rộng lượng để lại bộ quần áo của gã thợ giày thay vào chỗ đó. Sau đó, hắn bước ra bầu không khí trong lành của buổi sáng sớm, và anh chàng người giữ chuồng đang bận rộn quanh khu chuồng ngựa trố cả mắt ra cứ như thể vừa nhìn thấy một con chuột màu xanh lục trước mặt, bởi những kẻ như đám tu sĩ tu viện Emmet vốn chẳng có thói quen dậy sớm; nhưng anh ta kìm nén sự ngạc nhiên và chỉ hỏi Robin có muốn dắt con lừa từ trong chuồng ra không.
"Đúng vậy, con trai của ta," Robin đáp — dẫu hắn chẳng biết tẹo nào về con lừa — "và hãy dắt nó ra thật nhanh lên nhé, ta xin cậu, vì ta đã trễ giờ và phải lên đường ngay đây." Chẳng mấy chốc, anh chàng giữ chuồng dắt con lừa ra, Robin trèo lên lưng nó và vui vẻ lên đường tiếp tục hành trình.
Về phần vị tu sĩ đáng kính, khi thức dậy, ông ta hoảng loạn chẳng kém gì bất kỳ ai trên cõi đời này, bởi bộ áo choàng mềm mại đắt tiền của ông đã không cánh mà bay, cùng với chiếc túi đựng mười đồng tiền vàng bên trong, chẳng còn lại gì ngoài những mảnh vải vá chằng vá đụp cùng chiếc tạp dề bằng da. Ông lồng lộn chửi thề hệt như một kẻ thế tục, nhưng nguyền rủa chẳng giải quyết được gì và chủ quán thì không thể giúp đỡ, hơn nữa ông buộc phải có mặt tại tu viện Emmet vào sáng hôm nay để giải quyết công chuyện, thế nên ông đành bấm bụng mặc bộ quần áo của thợ giày hoặc chấp nhận đi đường trong tình trạng khỏa thân. Thế là ông đành khoác bộ đồ đó lên người, miệng vẫn lầm bầm chửi rủa và thề sẽ trả thù tất cả những thợ giày ở vùng Derbyshire, rồi lê bước chân lên đường; nhưng những xui xẻo vẫn chưa buông tha ông, bởi đi chưa được bao xa thì ông đã lọt vào tay đám lính của nhà vua, những kẻ lập tức tóm lấy ông, ép buộc diễu hành về thị trấn Tutbury để trình diện Giám mục thành Hereford. Mặc cho ông ta có gào thét mình là người tu hành và vạch trần cái đầu trọc lóc ra chứng minh, chẳng ai thèm nghe; họ cứ thế lôi đi, vì chắc đinh đóng cột rằng ông chính là Robin Hood.
Trong khi đó, Robin vui tính cưỡi lừa thong thả bước đi, bình an vô sự vượt qua hai toán quân của nhà vua, cho đến khi trái tim hắn rộn ràng nhảy múa vì cảm nhận được Sherwood đã ở rất gần; thế nên hắn tiếp tục lữ hành hướng về phía đông, cho đến khi bất chợt chạm trán một vị hiệp sĩ quý tộc trong một con đường nhỏ ngập bóng râm. Robin liền nhanh chóng kìm con lừa lại và nhảy phắt xuống đất. "Ôi, thật là may mắn khi gặp lại ngài, Sir Richard của vùng Lea," hắn kêu lên, "vì thà gặp gương mặt nhân từ của ngài vào ngày hôm nay còn hơn bất kỳ ai khác trên đất nước Anh này!" Rồi hắn kể cho Sir Richard nghe mọi biến cố đã xảy ra với mình, và rằng cuối cùng hắn cũng cảm thấy an toàn vì đã ở rất gần Sherwood. Nhưng khi Robin vừa dứt lời, Sir Richard liền buồn rầu lắc đầu. "Bây giờ cậu còn đang lâm vào hiểm nguy lớn hơn bất cứ lúc nào trước đây đấy, Robin," ngài nói, "bởi phía trước cậu là các toán lính của quan Thẩm phán đang phong tỏa mọi ngả đường và không cho bất kỳ ai qua lại nếu không kiểm tra gắt gao. Chính ta cũng vừa mới vượt qua bọn chúng xong nên ta rõ hơn ai hết. Phía trước là lính của Thẩm phán còn phía sau là lính của nhà vua, cậu không thể hy vọng trốn thoát theo bất kỳ hướng nào đâu, vì đến lúc này chắc chắn chúng đã biết chuyện cậu giả dạng và đang đợi sẵn để bắt sống cậu. Lâu đài của ta và mọi thứ bên trong đều là của cậu, nhưng ẩn náu ở đó cũng chẳng ích gì, vì ta không thể hy vọng chống cự lại lực lượng hùng hậu của cả nhà vua và quan Thẩm phán đang túc trực ở Nottingham hiện giờ." Nói xong, Sir Richard cúi đầu trầm ngâm, và Robin cảm thấy tim mình chùng xuống hệt như con cáo nghe thấy tiếng chó săn đuổi sát gót nhưng cái hang thì bị đất đá bít kín chẳng còn lối thoát nào. Tuy nhiên, chỉ một lát sau Sir Richard lại cất tiếng: "Chỉ còn một cách duy nhất cậu có thể làm, Robin, và chỉ một cách này thôi. Hãy quay lại Luân Đôn và phó mặc sinh mạng vào lòng thương xót của Hoàng hậu Eleanor nhân từ của chúng ta. Lập tức theo ta về lâu đài. Cởi bỏ bộ trang phục này và mặc y phục của các gia nhân nhà ta. Sau đó ta sẽ vội vã lên đường đến thị trấn Luân Đôn với một đoàn tùy tùng theo sau, cậu sẽ hòa mình vào đám đông đó, và bằng cách ấy ta sẽ đưa cậu đến gặp gỡ, trò chuyện trực tiếp với Hoàng hậu. Niềm hy vọng duy nhất của cậu là phải về được Sherwood, vì ở đó chẳng ai có thể chạm tới cậu, và cậu sẽ chẳng bao giờ đến được Sherwood nếu không đi theo con đường này."
Thế là Robin đi theo Sir Richard xứ Lea và làm theo lời ngài dặn, bởi hắn nhận ra sự khôn ngoan trong lời khuyên của vị hiệp sĩ, và đó cũng là cơ hội duy nhất để bảo toàn tính mạng.
Hoàng hậu Eleanor đang tản bộ trong khu vườn hoàng gia, giữa những khóm hoa hồng đang khoe sắc thắm ngào ngạt, đi cùng bà là sáu nữ tỳ đang vui vẻ trò chuyện rôm rả. Bất chợt, một người đàn ông từ bên ngoài nhảy vọt lên đỉnh tường thành, rồi bám lơ lửng một thoáng trước khi nhảy nhẹ xuống thảm cỏ bên dưới. Tất cả các nữ tỳ đều thét lên hoảng hốt vì sự xuất hiện bất ngờ đó, nhưng người đàn ông kia chạy thẳng đến chỗ Hoàng hậu và quỳ rạp dưới chân bà, và lúc ấy bà mới nhận ra đó chính là Robin Hood.
"Ô kìa, thế nào hả Robin!" bà kêu lên, "Cậu thật to gan khi dám lao đầu vào ngay hang ổ của sư tử dữ sao? Khốn khổ thay, hỡi chàng trai tội nghiệp! Cậu tiêu đời thật rồi nếu nhà vua phát hiện ra cậu ở đây. Chẳng lẽ cậu không biết ngài đang lùng bắt cậu trên khắp mọi miền đất nước này hay sao?"
Thưa Hoàng hậu," Robin đáp, "thần thừa biết nhà vua đang lùng bắt mình, và đó chính là lý do thần tìm đến đây; bởi chắc chắn sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống đầu thần khi ngài đã lấy danh dự hoàng gia của mình ra hứa với bệ hạ về sự an toàn của thần. Hơn nữa, thần vốn thấu hiểu tấm lòng nhân hậu và sự dịu dàng của bệ hạ, thế nên thần xin phó thác trọn vẹn sinh mạng mình vào đôi bàn tay nhân từ của người."
"Ta hiểu ý của cậu rồi, Robin Hood," Hoàng hậu nói, "và cậu cũng đang ngầm trách cứ ta, điều đó hoàn toàn dễ hiểu thôi, vì ta biết mình đã không đối xử với cậu đúng như lẽ ra phải làm. Ta thừa biết cậu đã phải chịu đựng áp lực khủng khiếp từ hiểm nguy nên mới phải liều lĩnh lao vào cái họa này để trốn chạy cái họa khác. Một lần nữa, ta hứa sẽ giúp đỡ cậu và sẽ làm mọi cách để đưa cậu trở về Rừng Sherwood bình an vô sự. Cứ ở lại đây cho đến khi ta quay lại." Nói đoạn, bà để Robin ở lại trong khu vườn hoa hồng và vắng mặt một thời gian dài.
Khi quay trở lại, đi cùng bà có Sir Robert Lee, gương mặt Hoàng hậu đỏ bừng và đôi mắt sáng rực như vừa trải qua một cuộc tranh cãi gay gắt. Sau đó, Sir Robert bước thẳng đến chỗ Robin Hood đang đứng, và cất giọng lạnh lùng, nghiêm nghị với người tráng sĩ. Ngài nói: "Quốc vương bệ hạ nhân từ của chúng ta đã nguôi giận đối với ngươi, hỡi kẻ kia, và một lần nữa ngài hứa rằng ngươi sẽ được rời đi trong bình yên và an toàn. Không chỉ hứa điều này, trong ba ngày tới ngài sẽ phái một tiểu đồng đi cùng để đảm bảo không ai cản trở hành trình trở về của ngươi. Ngươi nên cảm tạ vị thánh bảo mệnh của mình vì đã có được một người bạn tốt trong triều đình của Hoàng hậu cao quý, bởi nếu không có những lời can gián và biện luận của người, thì ngươi đã là một thây ma từ lâu rồi, ta nói cho ngươi biết. Hãy để hiểm nguy mà ngươi vừa vượt qua dạy cho ngươi hai bài học. Thứ nhất, hãy sống trung thực hơn. Thứ hai, đừng quá liều lĩnh trong những chuyến đi về. Một kẻ cứ mò mẫm trong bóng tối như ngươi có thể may mắn thoát nạn chốc lát, nhưng cuối cùng chắc chắn sẽ rơi xuống vực sâu. Ngươi đã đưa đầu vào miệng sư tử đang ghen lôi tức giận, vậy mà vẫn may mắn thoát chết nhờ một phép màu. Đừng dại dột thử lại lần nữa." Nói xong, ngài quay người bỏ đi, để lại Robin đứng đó một mình.
Trong suốt ba ngày, Robin lưu lại Luân Đôn trong đoàn tùy tùng của Hoàng hậu, và khi thời hạn đó kết thúc, tiểu đồng trưởng của nhà vua là Edward Cunningham đã đến, dẫn theo Robin lên đường hướng về phía bắc để trở về Sherwood. Dọc đường, đôi khi họ vẫn bắt gặp những toán lính của nhà vua đang quay trở lại Luân Đôn, nhưng chẳng có toán nào chặn họ lại cả, và cuối cùng, họ cũng đặt chân trở lại chốn rừng xanh rợp bóng lá tươi mát.