(Khôn, dại)
434. – Người ngu, việc đã xong, vẫn chưa biết ; người trí, việc chưa hiện, đã rõ rồi. Chiến-Quốc-Sách
435. – Người suốt, không đợi nghe nói, cũng đã hiểu ; người sáng, không đợi thấy hình cũng đã rõ. Hán-thư
436. – Đã khôn mà lại hay bàn, hay hỏi, hay lo, hay tính, thì việc gì làm chả nên. Gia-ngữ
437. – Người ta bỏ hết được cái khôn vặt thì mới khôn to được. Trang-tử
438. – Người khéo thường bận, người khôn hay lo. Trang-tử
439. – Kẻ biết người là « người khôn » ; kẻ biết mình là « người sang ». Lão-tử
440. – Cái gì cũng biết, mà đạo làm người chưa biết, thì chưa gọi được là khôn. Hoài-nam-tử
441. – Thường có người thấy đám mây bay sang đằng tây, mà bảo là mặt giăng đi sang đằng đông. Bão-phác-tử
442. – Vật gì tuy rất sạch, giữ chẳng cẩn thận thời bẩn, người ta tuy rất khôn, làm chẳng suy nghĩ thời ngu. Không-động-tử
443. – Có yên tĩnh mới nẩy ra tinh thần, có tinh thần mới nẩy ra trí lực. Hồ-Lâm-Dực
444. – Đem trí thuật xử với đời, có biết đâu đời không ai ngu cả. Hồ-Lâm-Dực
445. – Ngu độn thì người ta chê cười, thông minh thì người ta ngờ ghét ; thông minh mà như ngu mới thật là khôn kín. Lã-Khôn